Trần Tỉnh Lê

25-4-2021

Buổi chia tay với gia đình, thân nhân, bè bạn cùng trường cấp III Trần Phú đến tiễn biệt. Mẹ tôi nước mắt lưng tròng, bà nghẹn lời, chìm trong tiếng nấc, tiếc nuối là “sinh con một bề” không có con gái để đỡ đần khi tuổi già, xế bóng. Dì Tiếp, chị Soạn, chị Vịn, chị Gái chắt, cứ xoắn xuýt quanh quẩn như không muốn rời xa tôi.

Các bạn cùng lớp 10A chuyền tay nhau viết vội vào cuốn lưu bút “ngày xanh” từ lớp trưởng Tạ Văn Kháng đến các bạn khác viết chật kín quyển sổ tay. Bịn rịn suốt mấy tiếng đồng hồ, rồi cũng phải chia xa, khi “tiếng Tổ Quốc, gọi lên đường”. Tôi và 5 người “đối tượng của lệnh Tổng động viên lần này, khăn gói quả mướp, tòng quân” phải tự đi đến điểm tập trung ở thôn Thiệu Tổ, xã Trung Nguyên cách xa một cánh đồng chiêm, trũng khoảng hơn một Km.

Tân binh các nơi đổ về, hầu như ai cũng nghĩ đến nơi tập trung sẽ được cấp phát giày, dép, quân trang nên đa số họ đi chân không và mặc theo những bộ đồ cũ, rách, vá chằng, vá đụp. Điểm tập trung là sân đình làng đã bị con người ở đây làm biến dạng thành kho chất chứa lúa, ngô, khoai… của hợp tác xã nông nghiệp.

Bữa “cơm lính” đầu tiên không sao có thể nuốt nổi: Gạo nấu vừa sống, vừa khê lại bốc mùi khét lẹt, bên cạnh là một xoong quân dụng chứa lõng bõng nước với vài tóp mỡ trắng nổi lềnh bềnh chen lẫn mấy cọng rau muống luộc, đen thùi lùi. “Anh nuôi” Nguyễn Văn Bội” đứng trên hàng đầu, hai tay khua khua, thều thào: “Xin các đồng chí thông cảm vì điều kiện bếp ở đây không có củi, phải đun, nấu nhờ bằng rác, rơm, rạ xin được của dân, lại gặp phải cơn mưa rào bất chợt, nên nồi cơm không chín được. Các đồng chí ăn tạm, ngày mai lên đến đơn vị sẽ ăn bù”. Dù cơm khê, khét gì thì ai cũng phải nhắm mắt nuốt để lấy sức mà chịu đựng, hành trình.

“Bữa ăn như nước mắt chan mưa” ấy rồi cũng kết thúc. Tất cả lại rục rịch xếp hàng để nghe cán bộ huyện đội bàn giao cho phía binh sĩ đến nhận lính mới và mệnh lệnh hành quân bắt đầu. Mặt trời đang treo trên đỉnh đầu, ánh nắng tỏa xuống thêm gay gắt. Xa xa là rặng núi Ba Vì hiển hiện trong góc trời xanh ngắt. Giờ này, chắc dòng nước sông Hồng ngoài kia vẫn đang cuồn cuộn chảy.

Nhiều người thất vọng khi quân trang, giày dép không được cấp, phát để xứng danh ngay là “anh bộ đội Cụ Hồ”, khi bước vào hành quân. Cuộc hành trình ngay giữa trưa, nên không che giấu nổi hình ảnh đoàn người lê thê, lếch thếch như tàn quân, ô hợp với những bộ áo quần nhà nông rách rưới, lần lượt theo nhau bước tới mà cũng không biết sẽ dừng chân ở chốn nào.

Vào khoảng 23 giờ đêm, tức là gần 12 tiếng đồng hồ “vượt núi đồi, băng ruộng đồng, sông suối” mồ hôi nhễ nhại, nhiều người đôi bàn chân bị rát bỏng như đạp lên bếp lửa, trên những con lộ trải mặt đường bằng loại đất táng ong. Chúng tôi đến làng Tây Hạ, Tây Thượng, Bàn Giản, Đồng Ích… thuộc huyện Lập Thạch – Vĩnh Phú thì được hạ lệnh dừng và chia quân. Tất cả nhanh chóng “biên chế theo Tiểu đội (A), Trung đội (B), Đại đội (C)” ngay trong đêm. Mỗi tiểu đội được phân công “chiếm cứ” một nhà dân. Gần như bắt họ cũng phải “thi hành nghĩa vụ” như chúng tôi, chỉ khác là ép phải “nhường cho bộ đội” ít nhất là một hoặc hai gian nhà để binh sĩ ngủ, nghỉ ngơi, xếp đặt ba lô, quân trang, súng đạn.

Nơi địa phương trú đóng gồm mấy xã lân cận cũng đã trải qua 4, 5 đợt huấn luyện tân binh, nên người dân ở đây họ cũng biết “chai lỳ, chịu đựng”. Mỗi tiểu đội (A) được biên chế từ 12 đến 15 chiến sĩ và phải sống chung chạ với người dân. Nhiều gia đình có con gái lớn, họ phải tự cuốn rơm, trải rạ suốt năm này, tháng kia, ngủ ở dưới bếp để “nhường” cho bộ đội ngủ trên giường. Gia đình, tôi trú đóng có 6 nhân khẩu + thêm 13 quân nhân phải chung nhau sử dụng một giếng nước tắm, rửa, giặt rũ, sinh hoạt nấu cơm, nước uống nên thường xuyên cạn, kiệt. Đôi khi, tôi nhìn thấy nụ cười méo xệch, u uẩn của người chồng hay nét u uất của người vợ hoặc hành vi bẽn lẽn, sợ sệt vì bị những kẻ xa lạ soán đoạt hết những quyền tự do căn bản nhất của những đứa trẻ thơ trong ánh mắt chúng. Cả gia đình họ phải sống cảnh “lưu vong” hay bị “tạm giam” ngay trong chính ngôi nhà của mình.

“Biên chế” xong, sáng sớm hôm sau, chúng tôi được chiến sĩ quân nhu tên là Phẩm dẫn vào phía trong sàn ngôi đình làng, để mỗi người tự lựa chọn bộ quân phục cho mình. Ở đó là một đống áo quần chất cao của các lớp lính huấn luyện những đợt trước, họ trút bỏ trên nền gạch không được giặt giũ, hôi rình mùi ẩm mốc. Chúng tôi nhặt lên cứ tự vào mặc “ướm” thấy nó tương đối vừa với thân thể của mình thì chọn lấy đủ hai bộ mang về giếng nhà nơi trú quân mà tự làm sạch. Chẳng mấy chốc cái đống quần áo dơ bẩn, cũ rích kia cũng đã “bị dọn” hết sạch.

Mang được quân trang về thì khổ nỗi, không ai có được miếng xà phòng để giặt giũ. Có binh sĩ xin tro bếp của nhà dân để ngâm quần áo. Nhưng, tro bếp cũng là “tài sản” quý giá của nhà nông, để dành trộn phân bắc, phân bò, gà, vịt, lợn cho việc bón rau, trải ruộng … nên đâu dễ có dư thừa để cho các anh “bộ đội Cụ Hồ” xin xỏ. Cũng có người lợi dụng chủ nhà đi làm đồng vắng nên lén lút xuống bếp bốc trộm vài vốc tro để ngâm quân trang. Đã “ăn trộm” thì cũng vội vàng ngâm nhanh, rồi cọ sát xuống nên giếng cho mấy vết máu, mủ dính lâu ngày phai mờ bớt đi.

Những bộ quân phục bạc phếch, bẩn thỉu kia đã ủ biết bao mầm bệnh như hắc lào (lác) ghẻ, lở, bệnh tật của các người lính đi trước, khiến nó lây lan nhanh khắp cả đơn vị. Chẳng bao lâu, nhiều chiến sĩ mang bệnh ghẻ, hắc lào toàn thân cứ ra đến thao trường gặp những ngày nắng gắt, mồ hôi tứa ra, ngứa ngáy không sao chịu nổi. Có chiến sĩ lăn đùng ra một góc đồi rên la, kêu khóc thảm thiết như con lợn bị chọc tiết. Cả đại đội ít, nhiều đều bị lây nhiễm gần như 100%. Những chiến sĩ bị nặng nhất có đến cả trăm, đa số là họ đã ở tuổi trên 30, lại bị lây nhiễm ghẻ, lác toàn thân, nên thường xuyên cáo bệnh ốm, bỏ tập luyện.

Đã nhiều lần, viên y tá của đại đội kêu tất cả những quân nhân bị lây, nhiễm bệnh hắc lào lần lượt mỗi ngày luân phiên, tập trung vào trong hậu đình làng. Yêu cầu phải khỏa thân 100% và dùng móng tay tự gãi cho bật máu tất cả nơi, vùng kín có dấu, vết bị hắc lào. Sau đó, y dùng một cục bông gòn lớn, buộc chặt trên đầu thanh tre dài rồi nhúng trực tiếp vào cái thau đựng Iod đậm đặc kia và quét mạnh vào những vết hắc lào. Những tiếng la, hét, gầm rít, rên xiết, tiếp đó là phản ứng toàn thân co, giật, bật người, nhảy cẫng lên như kẻ bị nhiễm độc thần kinh choáng váng, điên loạn. Sự nhức, buốt như sát muối vào tim, óc.

Hình như viên y tá này đã quá quen thuộc với cách trị bệnh như “tra tấn, khủng bố” đồng loại như thế này, nên y lẩm bẩm như chửi thề, mắng trách những quân nhân kia không cố gắng mà chịu đựng. Đứng bên cạnh tôi là chiến sĩ Nguyễn Văn Thấy, quê ở xã Văn Tiến, không những la, khóc om xòm mà còn giơ hai tay tự đấm vào ngực mình thình thịch, rít lên: “Sao không chết đi Thấy ơi, để thoát khỏi cảnh đau đớn, cực hình như thế này”.

Xin khái quát cảnh luyện tập thời ấy để độc giả hình dung nó ghê rợn như thế nào. Nhân đây, cũng xin được giải thích về việc tôi lấy chủ đề: Quân trường – Thao Tập. Bởi, nơi chúng tôi trú đóng không thể gọi là Quân trường cho đúng nghĩa và Thao trường cũng càng sai hơn. Cũng vì, chưa thể tìm được danh từ nào hợp lý, hợp cảnh, đúng nghĩa ngắn gọn hơn, nên đành phải sử dụng cả bốn chữ bổ khuyết cho nhau để độc giả các thế hệ sau hiểu thêm thời thế, hoàn cảnh lịch sử:

Gần như quy luật là cứ 5 giờ sáng, mỗi khi nghe tiếng còi của cán bộ Trung đội rít lên hai, ba lần là tất cả phải bật dậy như những chiếc “lò so thép”. Mang giày, mặc quân phục bước nhanh ra sân trước nhà trú đóng để tập thể dục buổi sáng. Cũng bởi, trú quân ở nhà dân nên mạnh Tiểu đội nào thì tự tập ở sân riêng nơi gia đình ấy. Trung đội có ba Tiểu đội. Đại đội có bốn Trung đội và Tiểu đoàn có bốn đại đội. Số binh sĩ bất luận lý do, trồi, sụt ra sao thì lúc nào cũng phải hơn sáu trăm trở lên, thiếu thì đi tiếp tục lệnh xuống các địa phương phải “bắt lính nghĩa vụ” bổ sung.

Bài tập thể dục thường xuyên đã được huấn thị từng động tác hoặc cứ theo đài phát thanh Hà Nội mỗi buổi sáng mà tập hoặc yêu cầu của cấp trên lại mang bài “võ thể dục quân sự” ra mà múa may cho đủ hết 30 phút. Ấn tượng sâu sắc nhất cho mỗi quân nhân là phải hô khẩu hiệu khi sắp kết thúc. Cán bộ Tiểu hoặc Trung đội tham gia tập sẽ hô lớn: “KHOẺ” thì các chiến sĩ đồng thanh hô vang: “BẢO VỆ TỔ QUỐC” hoặc ngược lại. Cứ thế từ ba đến nhiều lần. Buổi sáng thanh vắng, lẽ ra những người nông dân, họ cần được nghỉ ngơi, yên tĩnh thêm ít giờ nữa thì cả khu vực mấy xã bị âm thanh khuấy động, ầm ĩ, quấy nhiễu như thế đã năm, sáu năm, qua nhiều đợt “huấn luyện tân binh, ở nhờ nhà của họ”.

Thời kỳ huấn luyện khẩn trương, ít khi nào thời gian “thể dục buổi sáng” là ba mươi phút mà thường là một tiếng đồng hồ. Nếu là báo động, dời nơi đóng quân hay chạy dã chiến vào bất cứ giờ khắc nào, khi nghe tiếng còi hiệu lệnh là tất cả binh sĩ phải mang vác đầy đủ vũ khí, trang bị, ba lô ra tập trung trước con đường làng để chạy nửa tiếng. Ai bỏ quên bất cứ thứ gì bị cán bộ Tiểu đội hoặc Trung đội vào kiểm tra mà thu được sẽ bị mang ra cảnh cáo trước hàng quân. Trước khi trở lại để tập thể dục, bắt buộc phải chạy vượt các con dốc đá, sỏi ở các quả đồi lân cận. Khi chạy, phải vừa hô vang khẩu hiệu. Và, mỗi ngày hay mỗi tuần mỗi binh sĩ phải tự “tăng số lượng cân nặng thêm” trên vai. Thời gian đầu chỉ là mang quân, tư trang và vũ khí với chiếc ba lô của mình. Tiếp theo là phải mang nhiều thứ khác mới “đáp ứng tăng trọng lượng trên vai”.

Không biết sự “phát kiến” của ai mà cấp trên phổ biến: Toàn quân, mỗi binh sĩ phải đan một cái sọt hình giống cái “rọ lợn” bằng nan, cật cây tre hoặc nứa để mỗi lần tham gia chạy buổi sáng phải nhặt bỏ thêm vào đó một cục đất, hòn gạch hay cục đá để “tăng trọng + tăng lực” khi chạy. Độc giả hãy tưởng tượng: Một cái sọt (rọ lợn) ờ ngoài miền Bắc được đan bằng tre với hai chiếc dây đeo hai bên cũng bằng tre, nứa khi đựng đất đá nặng mà đeo trên hai vai để chạy. Nó đã “cắt vào từng lớp da, thớ thịt” đến bầm tím, nứt máu hai bên nách. Vậy mà, có chiến sĩ ở trung đội 4 quê ở Phú Thọ, luyện tập luôn được cấp trên ngợi khen ở vị trí xuất sắc. Chỉ sau 4 tuần “đồng chí” ấy đã mang được trên vai cái “rọ lợn” với đất, gạch, đá lên đến 18, 20 kg. Điều đặc biệt là luôn mang trên vai trừ khi tắm rửa hay đi ngủ. Khi ra xếp hàng để ăn cơm cả hai bữa hay buổi tối “học tập chính trị” cũng luôn đeo trên vai hay không rời cái sọt đất đá ấy nửa bước. “Tấm gương sáng” ấy đã được cấp trên nêu danh, ngợi khen và bắt buộc cả đơn vị phải “học tập, noi theo”.

***

Viết đến đây, tôi thầm nghĩ, không biết ngày ấy Nguyễn Phú Trọng đã trốn nghĩa vụ quân sự bằng cách nào, mà hơn mười năm chiến tranh khốc liệt của cả nước, y đang ở độ tuổi phải nhập ngũ (1964 – 1975) lại trốn được. Thời kỳ ấy, không thanh niên, bất luận nam hay nữ nào ở tuổi 16 trở lên, không phải viết đơn “tình nguyện nhập ngũ”. Tôi biết thầy giáo dạy môn văn giỏi, uy tín nhất trường cấp III, Trần Phú ngày ấy, cũng còn phải thi hành nghĩa vụ quân sự và hành quân vào tới chiến trường Quảng Trị mà sao tên học trò Nguyễn Phú Trọng lại trốn biệt, không ai biết y đang ở đâu?

Mô tả về cảnh vệ sinh cá nhân, hầu như tất cả những người nông dân mặc áo lính, nhà nghèo, không có tiền lấy gì mà mua được cái bàn chải hay hộp thuốc đánh răng. Xà phòng giặt càng là “tài sản” vô cùng quý, hiếm. Ăn sáng xong, vào đúng bẩy (7) giờ là tất cả phải hành quân ra bãi tập.

Xin tóm lược cảnh “ăn sáng” của chúng tôi ngày ấy. Nơi “nhà bếp, anh nuôi” là khuôn viên của đình làng Tây Hạ. Gạo hay bột mỳ khi binh lính đi nhận, gánh về đổ thành đống ở nền hậu đình, cạnh bên đống quần áo, quân trang cũ, rách nát nên những đàn mối, mọt, chuột, bọ, khuẩn độc, trùng hại… tha hồ “tung tác, no nê”. Từng đàn chuột chạy nối đuôi, đuổi nhau như chỗ không người.

Một hình ảnh khó quên được là khu đình làng này có một người đàn ông không biết bệnh tâm thần hay loạn trí, chỉ thấy rằng y tha thẩn, lê la quanh cái đình Tây Hạ này cũng không biết đã bao năm rồi. Người ấy trạc tuổi hơn 30, quần áo rách rưới, bê bết bùn, đất vằn vện màu mồ hôi kết quánh đã nhiều tháng, năm không tắm, giặt. Da mặt, tay, chân đen xạm, mốc thếch.

Mỗi khi bữa ăn của bộ đội đều thấy y xuất hiện, lảng vảng để chìa tay ra xin bất cứ thứ thức ăn nào còn dư thừa lại trên xoong, chảo, bát dĩa. Y dùng mấy ngón tay đen đủi vơ vét, húp sạch hết những thứ cặn, bã ấy, khi mà “anh nuôi” chưa kịp dọn dẹp. Một điều thật lạ lẫm là y vẫn nhớ và có phản xạ khi người khác gọi chính tên của y là Hùng. Y tưởng gọi để cho ăn gì đó, nên xà đến gần hơn. Có những lần nhìn thấy y gặm những cục xương mà đàn chuột đã tha đi mấy hôm, gặm không hết nổi, nó nằm lăn lóc dưới đất mà “Hùng tâm thần” vẫn nhặt lên cố nhai ngấu nghiến cho đến hết.

Nhân viết về vấn đề việc ăn, uống, bồi dưỡng cũng xin kể thêm chuyện binh lính được phân công đi gánh gạo, lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm. Có những lần, tôi được phân công đi làm “nhiệm vụ” ấy mới biết sự trộm, cắp của các quân nhân hết sức tệ, hại. Cũng bởi khu vực đóng quân và điều kiện thời ấy không thể có xe đạp, hay ô tô vận chuyển lương thực, quân trang, vũ khí, nhu yếu phẩm đến phân phối cho đơn vị được. Vì vậy, mà phải “nhờ đến đôi vai, nước sông công lính” đảm trách. Dọc đường “gánh” như thế có những chiến sĩ “ma giáo, ma le” cứ tụt tạt dần xa phía sau để thực thi hành vi trộm cắp. Họ dùng lá chuối hay tờ giấy để lấy, gói những bọc gao, ít gr đường, bột ngọt (mỳ chính) giấu trong một hang hốc nào đó trên dọc vệ, ven đường để rồi đêm, tối lẻn ra mang về cất, giấu làm của riêng.

Một lần đi lĩnh đường cát trắng (nước Cuba viện trợ) ở kho tận một làng gần sát bờ Sông Lô. Trời nắng nóng, đường thì xa, nước uống thiếu, các binh sĩ lấy bidon xuống ruộng lúa hai bên đường múc một ít nước rồi “xả láng” bốc đường thả đầy ắp vào trong đó, giả bộ để uống trên dọc đường đi. Thực ra là ý đồ “đen tối” đã nằm sẵn trong đầu óc họ rồi. Có người “say nắng” lăn ra vệ đường vì đang đói, khát mà lại “nốc” quá số lượng đường vào cơ thể nên không tiêu hóa kịp.

Thật tâm, cũng không nên viết những cảnh đau, xót, thê lương về con người, đất nước trong hoàn cảnh thời đó như thế. Nhưng, nó đã xẩy ra như thế và tôi cũng chỉ viết lại sự thật chứ không dám kết tội hay chê bai ai. Cũng bởi thời gian ấy, ai ai cũng túng quẫn, nghèo khổ, đói rách mà mình đã là chứng nhân trong thời kỳ lịch sử đó, không viết lại sự thật, sẽ mang tội lỗi với muôn đời sau.

Buổi sáng, xếp hàng theo đội hình Trung – Tiểu đội để mỗi quân nhân nhận được một cái bánh mì khoảng một trăm Gram (1 lạng). Bột mỳ màu trắng, chắc là do Liên Xô hay các nước Xã Hội Chủ Nghĩa Đông Âu viện trợ. Nó được những bàn tay thô kệch của các “anh nuôi, bần cố nông mặc áo lính” bốc nắm vội vàng rồi thả vào nồi nước sôi nên cũng phải chín “vội vàng” ít khi nào kịp chín đủ. Khó ai có thể đếm hết xác những con mọt đen, trắng nằm lẫn trong cái bánh mỳ ấy. Chỉ nhìn thấy nó trộn kín cả vòng trong, ngoài giống như một chiếc bánh gai, phủ đặc những hạt vừng (mè) đen, xám. Nhưng, ai cũng đói và quá đói nên không người nào có thể chối từ. Vừa đi, vừa ngồm ngoàm, nhắm mắt nhai nuốt để “đáp ứng” sự đòi hỏi của cái dạ dày đang trống rỗng kia.

“Quân trường” là những ngọn đồi trọc, lúp xúp mấy cây bạch đàn èo uột không còn sức sống, đứng ngả, nghiêng, chơ vơ chống trả với nghiệt ngã của thời gian. Nhìn chúng mà thương xót cho một miền quê trung du ngập tràn, nắng gió, đất cằn khô. Nhưng, điều đáng trách hơn cả là kẻ nào đã ký kết với Trung Cộng để nhập những cây giống bạch đàn, tàn hại này về trồng trên đất Việt Nam.

Thời kỳ đó, không ai khác là trách nhiệm của hai ông Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Từ gốc, rễ, thân, cành, lá cây bạch đàn đều gây ra trăm thứ độc, hại cho môi sinh. Nó cũng không thể che nắng, tránh mưa hay chế biến thành vật liệu xây dựng hay gia dụng được. Ngay cả việc làm củi để nấu ăn cũng không thể, vì khi đốt thì cột khói bốc lên đen kịt cả một góc trời, xoong, nồi cháy đen nhẻm, rồi nó phả “hơi” vào nồi cơm, thức ăn, uống… không khác chi bị nhiễm hóa chất độc nặng.

Nắng “tháng tám, rám cành bưởi”. Vậy, mà ngày nào cũng 8 tiếng đồng hồ phơi mình trên cái đồi trọc sỏi đá ấy và cứ lặp đi, lặp lại những động tác nhàm, chán: Đặt cái bia bằng giấy sơn đen dán kết vào nhau, có vẽ 10 vòng tròn màu trắng. Đặt cách xa 100 m rồi thay nhau đứng “chỉ huy” ra lệnh chiến sĩ kia nằm xuống ở một bệ tỳ. Khẩu súng CKC hay K44, khi ngắm điểm đen đúng vòng mười thì bóp cò “tạch” là xong rồi lại hô cho nhau đứng dậy về chỗ đứng. Đồng chí khác lại tiếp tục cứ như thế cho đến hết 8 tiếng đồng hồ.

Ban đầu, cấp trên không cho phép quân nhân nào được ngồi, thì họ đối phó bằng cách “nằm thêm lâu hơn ngắm điểm bắn”. Nhưng, hai, ba tháng sau chẳng ai có thể đứng mãi dưới cái nắng chang chang như thế được, đành phải tự tìm chỗ ngồi, chờ đến lượt mình. Khi nào nhìn thấy cấp trên từ xa đến kiểm tra thì tất cả lại đứng xếp hàng nghiêm chỉnh để đối phó. Nhiều chiến sĩ phải mò xuống đồng lúa dưới chân đồi để múc nước ruộng mà uống vì quá khát.

Hàng rào “dây thép gai” được các “đồng chí” trước ăn cắp thân cây chuối của nhà dân, phơi héo, khô đi rồi tước nhỏ ra cột, buộc vào nhau tạo dáng, hình như các loại hàng rào của “Mỹ, Ngụy” để tập chui, chống, ôm, đánh bộc phá. Các đơn vị sau lại cũng phải ăn trộm cây chuối nhà dân để bổ sung, chắp vá những chỗ “dây thép gai” đã quá rách rưới. Bộc phá thì mỗi chiến sĩ cũng phải tự moi đất ở các hờm bờ sông hay lấy trộm đất 1, 2 kg ở bờ ao, bờ ruộng của dân mà gói, buộc, tập… Cảnh tượng hư thế sao có thể được gọi là “quân trường”?

17 giờ, ra khỏi nơi thao tập là phải đi tham gia “sản xuất” trồng, tưới rau xanh tiếp giúp thực phẩm thêm cho bếp ăn. Mảnh đất “rau xanh” này là do lãnh đạo đơn vị liên hệ xin ban chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp cho phép khoảng một sào Bắc Bộ (360m2) chia đều ra cho 4 Trung đội và văn phòng đại đội cùng phải có nghĩa vụ. Trồng rau, nhưng không có phân bón nên các “anh bộ đội Cụ Hồ” phát kiến “tiểu tiện” ngay vào một cái chĩnh vỡ “tăm tia” được ở trong làng mang ra “xả nước đái” rồi pha loãng thêm bằng nước mưa, nước ruộng để tưới lên những luống rau mà ăn.

18 giờ, tắm rửa, giặt giũ 30 phút lại tập trung mang sọt đất, đá lên vai, ra bếp để “anh nuôi” cấp, phát cơm và thức ăn. Mang tiếng, mỗi quân nhân “bồi dưỡng luyện tập” để ra chiến trường là 18 kg gạo/tháng. Nhưng, không khi nào được ăn no. Tiêu chuẩn thịt, cá, thực phẩm lúc nào cũng thấy kế toán, trợ lý hậu cần công bố “đầy đủ”, rồi mỗi tháng họp hội đồng quân nhân góp ý chán chê cũng vẫn “vũ như cẩn” thức ăn như bôi ra gọi là có thịt.

Mâm cơm “bồi dưỡng” đặt ra trước sân đình chỉ sợ một cơn gió thoảng, có thể kéo, bay đi hết những tóp mỡ nổi lềnh bềnh trong xoong hay nồi quân dụng. Khi ăn, mỗi quân nhân phải sử dụng đũa hai đầu. Một đầu để gắp thức ăn để chung trong xoong, đĩa quân dụng. Còn đầu đũa kia là tự và, lùa thức ăn, cơm vào miệng của mình. Viết đến đây, tôi suy ngẫm hiện giờ 6 tháng, tôi không ăn hết 18 kg gạo, mà ngày xưa ấy: 18 kg gạo ăn một tháng vẫn không khi nào được no?

19 giờ: “Tập huấn chính trị”: Bài học đầu tiên là “Lịch sử và truyền thống đảng Cộng sản Việt Nam” tiếp theo là: Lịch sử, truyền thống của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” hay “chủ nghĩa Mác – Lenin bách chiến, bách thắng” hoặc “nghĩa vụ của thanh niên trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”…

Mỗi cuộc tập huấn như vậy kéo dài cả tuần lễ hay 10 ngày. Sau đó là bước vào thời gian khoảng 10 ngày liên tiếp để kiểm điểm, phê và tự phê và viết bản thu hoạch, tóm tắt lý lịch và đơn tình nguyện ra chiến trường. Trong các buổi tập huấn căng thẳng như vậy, nên chính trị viên thường mời gọi các chiến sĩ tham gia văn nghệ như đọc thơ, hát hò mừng đảng, ngợi ca “công ơn Bác Hồ”. Nhưng, ba bài hát không thể không hát tập thể mỗi lần khai mở các sinh hoạt là bài: Vì nhân dân quên mình và bài “Tiến bước dưới quân kỳ hay Giải phóng miền Nam”.

Không hiểu ai đã đặt ra tiêu đề “Tập huấn chính trị”. Thực chất nó chỉ là sử dụng quyền lực để ép, buộc “nhồi sọ” những kẻ bị trị phải thực thi ý đồ đen tối, tội ác những kẻ chóp bu cai trị, điều hành. Chính trị thực sự là phải có bàn thảo, tranh luận, phản biện tối đa để tìm đến sự đồng thuận tối ưu mới đi đến kết luận và quyết định chung và trách nhiệm chung. Hệ thống cai trị bạo quyền của Cộng sản không bao giờ chấp nhận điều đó. Như thế không thể gọi là chính trị đúng nghĩa nghiêm túc của nó.

21 giờ, giải tán “lại hành quân về chỗ ngủ. Tuy nhiên, mỗi chiến sĩ phải thay nhau canh gác một tiếng đồng hồ từ 21 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau. Nhiệm vụ canh gác là phải di chuyển, đi lại quan sát các động tĩnh trong đêm khu vực đóng quân. Khi hết giờ phải đi gọi đồng chí khác thay thế. Nỗi khổ tâm nhất của tôi là khi nào bị phân công canh gác vào khoảng 3 hay 4 giớ sáng. Nhiều lúc không thể cưỡng lại được những cơn mệt mỏi rã rời và ngủ gật.

Thời gian huấn luyện phải đặt “kỷ luật trong cũi sắt” về thời gian và hành động, nên cấp trên lúc nào cũng phải nắm chắc tư tưởng, suy nghĩ từng chiến sĩ. Ngoài những bản viết “thu hoạch” nhận thức trách nhiệm, lý lịch trích ngang thường xuyên, liên tục được báo cáo hàng ngày, hàng giờ lên thượng cấp. Đại đội được biên chế hai viên đại đội trưởng và chính trị viên đều mang hàm cấp Trung úy, đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Một viên đại đội phó cấp Thiếu úy tốt nghiệp trường sĩ quan Sơn Tây và một viên Chuẩn úy làm phó chính trị, tham chiến ở cánh đồng Chum bên Hạ Lào 1962 – 1963.

Thời gian suốt 7 ngày trong tuần, hầu như không có lúc nào được gọi là “rảnh rỗi, thảnh thơi” mà nghĩ tới việc riêng cá nhân. Sáu ngày, từ thứ hai đến thứ 7, luyện tập khít khao từ 5 giờ sáng đến 21 giờ tối. Chưa kể bị báo động thường xuyên cấp A, B, C, D. Ngày chủ nhật thì phân công, thay nhau đi lên rừng chặt, vác củi, gánh quân trang, nhu yếu phẩm … phục vụ cho nhà kho, “anh nuôi” nhà bếp. Khi đi ăn, phải ngồi theo đội hình Tiểu đội để giám sát lẫn nhau. Bất cứ sự vắng mặt của binh sĩ nào thì Tiểu đội ấy hay cán bộ Trung đội sẽ phải mất ăn, mất ngủ để truy tìm.

Quân trường (Thao Tập): Chỉ sau bốn mươi lăm ngày, đơn vị đã hoàn tất chương trình huấn luyện căn bản của một chiến binh đủ để bước vào mặt trận: Cách gói, ném, đánh bộc phá bằng thuốc nổ TNT và C4. Giật nụ xòe, ném lựu đạn các tầm, hướng. Bắn đạn thật các bài 1, 2, 3 mục tiêu cố định, di động, ban đêm. Cách đánh công kiên, tập kích, vận động chiến … hành quân nhanh, mang vác nặng…

Nhưng, chiến trường vẫn “chưa cần”, thế là các cuộc báo động hành quân dã chiến liên miên. Khi thì có lệnh chạy để tránh bom B52 của địch. Lúc thì chạy để tránh bị địch phục kích và có nhiều lần: Chạy, để kiểm tra quân, tư trang. Và, thêm một tuần lễ tập bơi, vượt qua sông rồi hành quân đến thị xã Vĩnh Yên để luyện tập cách tác chiến trong thành phố như leo, trèo cột điện, đục khoét mái nhà, vượt tường nhà cao tầng bằng dao găm hay sử dụng vũ khí để đánh, chiếm từng góc phố, ngôi nhà, bắt tù binh, băng bó vết thương, chuyển thương binh, tử sĩ nơi đô thị…

Có những điếu khó có thể nói, viết ra được về một thời quá khứ hãi hùng mà tôi đã trải nghiệm. Ví như, trong đơn vị quân đội lúc đó, tôi thuộc người trẻ tuổi nhất, có học vấn cao nhất và thoát ly, biết tự lập, thích nghi cuộc sống tập thể ngay từ khi khởi sự chiến tranh “chống Mỹ” năm 14 tuổi trước ngày 5 tháng 8 năm 1964.

Trong huấn luyện, sự lo lắng nhất của tôi là rất dễ bị cấp trên nghi ngờ, nhận xét, đánh giá mình là thành phần “Tiểu tư sản” nên việc viết Nhật Ký luôn phải lén lút và tuyệt đối không được phép ghi tên, họ một ai hay địa danh đơn vị đóng quân, diễn biến trận đánh. Nếu cấp trên phát hiện có thể bị kỷ luật: Tước quân tịch. Nhưng, tôi đã vượt qua sống đến hôm nay, trang trải những dòng viết này. Bài học về “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm” vẫn còn đó. Cũng bởi vì viết nhật ký mà đến khi chết thảm khốc như thế cũng chưa thể được tay bí thư “anh Hai Quảng Nam” đồng ý để kết nạp vào tổ chức đảng Cộng sản đấy.

Bốn tháng qua mau, nơi “quân trường, thao tập” tôi luôn giành được thành tích cao. Và chỉ 45 ngày sau đã được cấp trên thăng, thưởng “hai sao” lên Binh Nhất và được nghỉ phép hai ngày về thăm nhà, trước khi nhận mệnh lệnh ra chiến trường./.

 

(Phần 2)

Những chặng quân hành

Đã là binh sĩ mà viết về chuyện hành quân, có lẽ độc giả nghe quá nhàm chán. Hơn nữa, chiến tranh Việt Nam đã lùi xa gần nửa thế kỷ rồi, viết về sự quân hành của các chiến binh có thể ít ai muốn đọc hay nghe lại bởi vô số hình ảnh trên phim ảnh và cũng vô số tự truyện, tiểu thuyết ngắn, dài khắp thế giới đã minh họa.

Nhưng, tôi vẫn cứ “liều” viết về sự kiện chung này của đất nước và cho riêng tôi muốn trang trải cùng thế hệ mai hậu còn tâm huyết, nghiên cứu một chặng đường lịch sử tang thương trong chiến cuộc tương tàn, đẫm máu Việt Nam.

“Trường Sơn, ai đó đã từng,

Chưa qua nơi ấy, xin đừng ba hoa.

Sớm, trưa, chiều, tối: Bốn mùa

Núi cao, vực thẳm, gió lùa lạnh căm

Trùng trùng, lớp lớp đoàn quân

Tóc vờn gió núi, bước chân lưng trời

Phóng tầm nhìn mắt xa khơi,

Biển Đông sóng vỗ nghìn đời, long lanh

Đại ngàn, một cõi nguyên sinh

Dựng lên vóc dáng, bóng hình Việt Nam

(Giang Hồng, 2 -1969)

 

“Từ buổi con lên đường xa mẹ,

Theo anh em qua Lào rồi tiếp bước vào Trung

Non xanh, núi biếc chập chùng

Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ

Tuổi thanh xuân, cuộc đời như hoa nở

Vì hòa bình, đâu ngại bước gian nguy

Mấy tháng trời, đêm nghỉ, ngày đi

Giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh

Đây, Trường Sơn, núi rừng cô quạnh

 (Xuân Vũ – Một chiến sĩ Bắc Việt hồi chánh phía quân lực Việt Nam Cộng Hòa)

Chỉ hai đoạn thơ trên của binh sĩ từ một phía, bước qua chiến tuyến khác đã phác họa khá rõ nét về việc quân hành xâm nhập từ Bắc vô Nam. Nhưng, tôi vẫn tin rằng nhất định sau này, sẽ có nhà đạo diễn dựng lại bộ phim toàn cảnh trung thực về đại ngàn Trường Sơn với bước quân hành của những đoàn quân xuôi, ngược ra Bắc vào Nam hay bước vào chiến dịch xuống đồng bằng, đánh đô thị hoặc rút tàn quân, tháo chạy, ẩn khuất và cảnh đói rét trong vách đá, rừng sâu của những binh sĩ Bắc Việt.

Tôi e rằng, càng để lâu thì sự thật có thể sẽ bị biến dạng và trang, y phục, quân cụ, vũ khí xưa cũ với con người ngày ấy càng khó tìm kiếm. Nếu tác tạo lại đủ, cũng sẽ rất khó trung thực, cho dù tốn hao tiền bạc và hóa trang lại được những “bộ xương” biết di động, khoác trên thân họ những chiếc áo, quần tả tơi, bươm nát, cáu bẩn bết máu với bùn sình, đất đỏ của từng đoàn người lính chiến ở Liên khu V, VI (1968 – 1970) và bộ phim khó thành tựu mỹ mãn.

Xin đừng lặp lại toàn bộ những thước phim như Trung Đội, Rambo … của Hoa Kỳ. Càng không thể “diễn hài hề” như phim “Mùi cỏ cháy” hay các phim tư liệu, truyền hình hoặc các sách, báo, bài viết về truyền thống các đơn vị lớn, nhỏ của phía Cộng sản. Đặc biệt, tránh sử dụng nội dung “hồi ký” mà phải nhờ người khác viết thay của các tướng, tá hay bộ máy tuyên truyền của người Cộng sản. Và, cũng càng cẩn trọng hơn khi sử dụng cảnh tượng, chi tiết của nhiều tay viết, phía Việt Nam Cộng Hòa về các cuộc trường chinh, quân sử.

Trong khuôn khổ một ký sự, khó có thể viết dài nên tôi sẽ chia ra nhiều đoạn. Bởi, mỗi chặng đường đều mang những dấu ấn lịch sử hay sắc thái chính kiến riêng theo diễn biến thời lượng. Nhưng, tôi luôn tâm nguyện bảo đảm tính trung thực tối đa nhất của mỗi sự kiện.

Chỉ gần 4 tháng hành trình qua Trường Sơn đã ghi lại trong tâm thức của tôi như đã bước vào một kho báu vô giá của Tổ Quốc. Những gian khổ từ mang vác, giúp đỡ những “đồng chí” yếu, kém tư tưởng, bệnh tật dọc đường hay ăn uống kham khổ, đói, rét và bị địch quân bắn, phá dọc đường đã có quá nhiều người viết rồi và hầu như không ảnh hưởng đến đoàn quân mang mật số 2103, đơn vị có tổng số hơn 665, A8 của tôi khi đó có 12 chiến sĩ, càng đi sâu vào phía trong bị “tụt tạt” mất 4, 5. Riêng tôi càng đi, càng thấy mạnh khỏe hơn. Có lẽ, nhờ vậy mà sau ngày “chiến thắng” năm 1975 – 1976, tôi đã soạn thảo căn bản 4 dự án xây dựng lại đất nước, trong đó dự án số1 là: “Đại Lộ Trường Sơn” sẽ xin tường trình với độc giả ở các ký sự tiếp theo.

Từ khi vào đến chiến trường, tôi chỉ bị hai lần sốt rét nhẹ mất vài ngày. Lần thứ nhất: Đêm ấy, cùng viên trinh sát tên là Xuân, vượt đoạn đường ở Đồng Tháp trong mưa bão, nước lội có chỗ lên đến gần đầu gối, sũng ướt, gần suốt đêm đến Tân Lèo và phải trở lại ven bờ nhánh Vàm Cỏ Tây (Long An) trước giờ sáng, để nhận số dược phẩm, y cụ cho đơn vị. Và, lần thứ hai là cuộc hành quân lạc mất đơn vị hơn 10 ngày, đói, khát, rét mướt giữa Tháp Mười mênh mông mùa nước nổi. Xin ghi lại ít dòng ký sự này để độc giả cùng chia sẻ một chặng quân hành thiếu sống, thừa chết:

Sau khi nhận tân binh, biên chế và huấn luyện gấp gáp cho tất cả binh sĩ từ miền Bắc vào làm quen dần với chiến trường sông, nước ở biên giới Long An – Cambodia, đầu tháng 10 là ở xứ đồng bằng Sông Cửu Long, nước dâng cao nhất. Dân gian nơi đây thường lưu lại lời cảnh báo đã bao đời: “Nước 17 nhảy qua bờ” cũng có nghĩa là con nước từ đầu tháng đến 17 tháng 10 là nguy ngập nhất, nó phăng phăng tràn lên hết đường xá, kể cả quốc lộ 4 được coi là cao nhất khu vực vẫn có những đoạn bị ngập lên tới đầu gối, nước còn “nhảy qua” tất cả các bờ mẫu, sông, rạch, đìa, bưng.

Đơn vị tôi được cấp gần 100 chiếc xuồng ba lá, đa số là mới “cáo cạnh, hạ thủy lần đầu”. Được phân công mỗi chiếc xuồng chuyên chở từ 3 đến 5 binh sĩ, tùy theo cơ số súng, đạn mang theo. Trung đội hỏa lực mạnh có một khẩu cối 81 và 1 khẩu 60 mm, một khẩu đại liên do Liên Xô viện trợ, di chuyển trên 5 xuồng. Cứ một hay hai xuồng lại phân nhiệm một trinh sát cũ đi cùng hay binh sĩ người miền Nam dẫn đường.

Ban chỉ huy là anh Ba Hẫm và anh Hai Trường (Bùi Thái Trường) chính trị viên hành quân ở đội hình lùi về phía sau, nhưng đi giữa đội hình. Ba đại đội tạo như mũi tên khổng lồ “lao về phía trước”. Đội trinh sát chia thành hai bộ phận, một số đi trước mở đường và một số cùng các ban Tham – Chính – Hậu “bọc lót” phía sau. Xuồng của tôi có hai vị “cựu binh chiến trường” từ ngày độ tuổi còn vị thành niên, đó là Đặng Thế Khởi (Sáu Khởi – Phú Quý, Mỹ Tho và Năm Sơn, Giồng Trôm, Bến Tre) và ba chiến sĩ từ Bắc mới vào trong đó có tôi.

Các đơn vị di chuyển sát, song hành cùng trung đội hỏa lực mạnh, do Thượng sĩ Ngọc Diệp, quê Văn Tiến, Vĩnh Phú chỉ huy. Xuồng của chúng tôi được cấp phát, trang bị hai khẩu Ak 47 mới toanh, 1 khẩu súng ngắn K54 và hai thùng lựu đạn do Trung Quốc viện trợ, cùng một số quân cụ y, dược khác. Lệnh hành quân của cấp chỉ huy ban ra như tiếng thì thầm chìm trong mưa, bão đang cuồng nộ, gào thét: “Xuất phát”.

Có lẽ cấp trên của chúng tôi đã rút được kinh nghiệm cách đây ít ngày, tiểu đoàn chủ lực Quân khu 8 mang danh số D.263, trên chặng đường hành quân xuống chiến trường vừa bị đối phương “xóa sổ” trên dọc bờ kinh Dương Văn Dương, nên anh Ba Hẫm đã triệt để khai dụng “yếu tố bất ngờ” như đêm nay cho xuất quân vào giờ khắc mưa, gió, giông bão. Đoàn xuồng như một đàn cá đen trũi, lầm lũi “bơi” trong đêm trên nhánh Vàm Cỏ Tây chếch về hướng Tây Nam. Sau ít phút hì hục, hè nhau khiêng, vác lên khỏi bờ sông để vượt qua bãi cỏ còn cạn nước và bằng các con sào chống chỏi cùng các cánh tay đẩy “vượt cạn”. Mỗi con xuồng đều được trang bị ít nhất là hai hoặc 3 chiếc dầm bơi, lái và một chiếc sào bằng cây tầm vông dài, khá vững chắc.

Mở đầu, Sáu Khởi, chống sào rất tuyệt, mỗi nhát chống, đẩy của anh ấy khiến các lớp cỏ lăn, lác rạt xuống lườn, chiếc xuồng dướn mạnh, chồm lên phía trước. Tôi ngồi trên đầu mũi vừa trợ sức, bơi, lái với khẩu Ak47 cảnh giới. Ngồi giữa, phụ bơi là hai anh Xuân Thủy (Yên Đồng – Vĩnh Lạc) và anh Xuân Bổ (Yên Lãng – Vĩnh Phú). Mưa bay mịt mù, bão giông gào thét, bầu trời đen kịt, mặt nước bắt đầu thấy lênh láng như biển cả.

Nếu, không phải dân bản xứ thì vô phương kiếm, tìm được phương hướng hay điểm đứng chỗ này là nơi nào trên trái đất này. Đoàn xuồng đã rời khỏi nơi xuất phát được khoảng gần hai tiếng đồng hồ thì bỗng, phía trước mặt, sát bên hông phía cánh phải trung đội hỏa lực, một loạt đạn liên thanh chớp lửa, xé không gian xuyên thẳng vào đội hình. Tiếp sau, từng loạt, từng tràng “dây lửa” đạn đan chen, nổ chát chúa ngay trên đầu chúng tôi.

Phản xạ tự vệ cấp thời, ai đó ở xuồng bên cạnh đã “đáp trả” phía đối phương một băng đạn Ak 47, khiến đội hình hành quân bắt đầu biến dạng, không biết ai còn sống, chết ra sao. Tiếng súng nổ của địch quân càng dữ dội hơn. Phản ứng sinh tồn của con người đã run rủi và đưa con xuồng của chúng tôi mất định hướng. Đội hình hành quân tan tác, mạnh xuồng nào thoát thân được thì cứ lao ra khỏi tầm đạn của đối phương. Khi đã vượt ra một quãng khá xa tầm đạn và bằng mọi giá phải di chuyển nhanh hơn để phòng, tránh những trận pháo kích của địch quân có thể sẽ dội xuống khu vực đã bị lộ này.

Năm Sơn chống sào thay để Sáu Khởi phòng thủ và xác định hướng. Các tay dầm trên xuồng dùng hết sức bình sinh cố vượt thoát vòng “đất chết”. Trên quãng đường “đua tìm sự sống” con xuồng ngả nghiêng như muốn chìm, lớp thì nước từ dưới đồng văng lên tung tóe, lớp nước mưa như trút xuống. Hai anh Xuân Bổ và Xuân Thủy phải thay nhau sử dụng hết “công lực” và những dụng cụ để tát nước trong xuồng đổ ra ngoài. Những động tác phối hợp khẩn cấp như một “cỗ máy” cứ tăng tốc, nhịp nhàng “tác chiến” hơn cả hình ảnh “năm anh em trên một chiếc xe tăng”.

Đúng như nhận định của Sáu Khởi: Đại pháo, hỏa lực mạnh của địch quân từ các Chi khu Mộc Hóa, Tiểu khu Kiến Tường và khu vực lân cận bắt đầu cùng phát hỏa, xé tan một khoảng đất, trời. Súng, đạn và pháo sáng các đồn bót của đối phương trấn giữ chung quanh đua nhau nổ, hỗ trợ lẫn nhau. Trong đêm đen và những đợt mưa không dứt, nhờ có ánh hỏa châu và với kinh nghiệm chinh chiến dạn dày, Sáu Khởi không cho con xuồng áp sát mấy vạt Tràm, mà bơi lùi ra phía các cánh đồng trống trải để tránh đạn pháo kích. Cũng may mắn là, đêm mưa quá lớn nên phi cơ địch không thể tham chiến được. Nếu, giờ khắc ấy mưa tạnh, gió hòa thì chắc chắn rằng, tôi không còn sống để ngồi đây viết những trang ký sự này.

Có lẽ phía địch quân phát hiện tiếng súng nổ của một loại vũ khí “chủ lực” của Việt Cộng (Ak47) nên họ đã kêu tăng viện bằng cách trút hàng ngàn trái đạn pháo xuống một khoảng đất rộng lớn nhằm tiêu diệt và ngăn chặn “tàn quân” di chuyển của đối phương. Tiếng chạm nổ của đạn đại pháo từ những ngọn Tràm khiến cây cối gãy, đổ ràn rạt, kêu răng rắc. Pháo binh địch quân sử dụng cả loại đạn pháo nổ chụp từ trên cao, gây ra tình huống vô cùng nguy hiểm cho mạng sống mỗi chúng tôi đang lênh đênh trên mặt nước.

Những tạc đạn như những quầng lửa gầm rít, đan, chen, cắt xé bầu trời rồi chụm lại nổ “bụp, bụp, bụp” ngay trên đầu rồi bủa xuống mặt nước hàng ngàn, vạn miểng. Những âm thanh gầm thét như muốn xé rách bung màng nhĩ. Những chớp lửa như những tia mắt của hung thần trong truyện huyền thoại đang chặn đứng mọi lối thoát thân của những loài vật bé nhỏ, đơn độc. Cũng có lý, mãi về sau các nhà làm phim họ đã biết sử dụng âm thanh ba, bốn chiều để dựng lên cảnh chiến tranh ngày càng thêm hiện thực, mà hơn 50 năm trước tôi đã có dịp làm “khán, thính giả, chứng nhân” để “thưởng ngoạn và trả giá” bằng cả sinh mạng của mình.

Năm chúng tôi phải chui dưới gầm chiếc xuồng để mong tránh các miểng đạn pháo đang bủa xuống khắp đó, đây. Đứng dưới gầm xuồng, nhưng mỗi người phải dùng hai bàn tay của mình đẩy tiếp, di chuyển xuồng rời xa hơn vùng lửa đạn. Hiện tình, lúc này thì ai biết nơi nào an toàn, chỗ nào là “vùng không lửa đạn”. “Đại dương” nước Tháp Mười vẫn mênh mông, không định hướng, gió, mưa khiến cho những vạt Tràm, biển cỏ đưng, lác rạp xuống mặt nước, đạn pháo bao phủ kín ngút trời… nên còn biết nơi đâu là cõi sống hay mấy trăm con người “đồng đội” vừa tan tác kia lẩn khuất như những bóng đen trên đường chạy, trốn, ẩn náu. Biết ai là bên địch, ai là phía ta?

Tiếng pháo địch quân tiếp tục bắn cầm canh, pháo sáng các nơi vẫn bắn lên soi sáng đều đặn để ngăn chặn lối thoát của đoàn Việt Cộng chúng tôi. Đêm nay, chắc chắn Tư lệnh sư đoàn 7 của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở Đồng Tâm, họ đã chuẩn bị kỹ lưỡng phương án tác chiến quy mô cho một cuộc truy cùng, diệt tận số Việt Cộng đang chui lủi, lẩn khuất quanh đây sẽ khó thoát vào ngày mai.

Đúng như dự đoán: Từ tờ mờ sáng nghe phía địch quân cho phi cơ L19 bay rất thấp phát những bản nhạc và đọc bản văn, thơ kêu gọi, chiêu hồi. Đại ý chung có nội dung là: Việt Cộng, đội hình hành quân của chúng tôi đã bị bại lộ, một số đã chết và bị bắt. Họ nêu rõ họ, tên, quê quán những binh sĩ “sinh Bắc tử Nam” và hiện tình chiến sự là sẽ không thể nào thoát chết hoặc bị bắt sống, nên cần ra đầu hàng sớm để được chính quyền của họ khoan hồng và bảo vệ.

Chiếc phi cơ chiêu hồi bay ở vòng hẹp và rộng dần ra trung tâm điểm đụng độ đêm qua, nên Sáu Khởi nhận biết đó là khu gần rừng Bắc Trang – Kiến Tường, nơi có đơn vị biệt kích rất hung hãn. Và, kết thúc chương trình chiêu hồi là lửa đạn toàn vùng bắt đầu sôi động. Các cụm đại pháo lại phát hỏa hàng ngàn trái nổ khiến “rung nước, chuyển trời”.

Khoảng nửa tiếng “dọn bãi” là những chiếc trực thăng “đầu láng” (HU.1A” chỉ huy) phành phạch bay vòng lượn tít trên cao. Cặp “cá lẹp” (UH.1 – Tiêm kích) gầm rít, nghênh ngang chúi mũi quan sát vào các mục tiêu đáng nghi ngờ để chuẩn bị trút xuống hàng vạn viên đạn gồm hỏa tiễn, đạn nhọn và từng dây M79. Còn đôi “cá nóc míc” (OH.6 – Soi + Xét) thay đổi nhau các điểm dừng lại, rà sát mặt nước, ngọn cỏ, soi từng cành lá, mỗi ngọn cỏ, cây. Xét mỗi lối mòn, vết dấu đáng nghi ngờ để rồi cũng sẵn sàng trút xuống đó hàng khối bộc phá, lựu đạn M26 hay những đợt xiết cò, xả những tràng đạn liên thanh M16 vào bất cứ nơi, chỗ nào muốn hủy diệt.

Biết không thể thoát thân trong thời khắc khốc liệt này. Sáu Khởi cho dìm xuồng sâu xuống mặt nước dưới mấy lùm cỏ lăn, cỏ lác rồi kêu mỗi người tản ra thật xa khỏi nơi chiếc xuồng, hướng theo những bãi cỏ trống trải nhất và căn dặn không ai được để lại dấu vết trên các ngọn cỏ và cũng không được động đậy mặt nước để phi cơ của địch quân nghi ngờ. Nếu có bị phát hiện ra chiếc xuồng thì cũng khó bắt sống và giết được người.

Trước khi trời tờ mờ sáng, chúng tôi đã hoàn tất mệnh lệnh. Mực nước Tháp Mười khi đó chỗ sâu cũng đã ngụp đầu, còn hầu hết là ngập ngang ngực và đến mang tai, nên chỉ cần cúi nhẹ xuống là cỏ lăn, cỏ lác đã phủ kín hết cả đầu. Theo hướng di chuyển của Sáu Khởi, chúng tôi đã tránh khỏi chiếc xuồng xa hơn cả cây số và lại may mắn gặp một đầm sen, súng. Nhờ có những cơn mưa liên miên vừa qua, nên lá sen càng mướt xanh, hoa súng và sen đua chen những bông vàng, tím, đỏ rộ nở mà hương sen thơm ngát cả một vùng. Những tàn lá lúp xúp thấp, cao khỏi mặt nước đã giúp chúng tôi thỉnh thoảng phải ngửng mũi lên khỏi mặt nước để tranh thủ hít, thở Oxy tìm sự sống.

Phía trước mặt là hàng chục trực thăng HU.1A, HU.1B lần lượt, thay nhau, xà xuống độ khoảng cách chừng 100 mét. Những động cơ, cánh quạt gió của chúng tạo nên làn sóng nước dập rềnh, dâng trào, đập mạnh vào bụng, ngực như muốn đẩy thân xác tôi bật lên khỏi mặt nước. Tôi đã phải dùng cả hai bàn chân kẹp chặt vào gốc mấy cây sen và hai tay thay nhau, ôm xiết những cụm thân sen để không bị sóng đánh trôi đi hay nổi lên.

Mùa mưa, nên nước ở Tháp Mười trong suốt lại được “phụ họa” thêm độ phèn “tẩy rửa” nên có thể nhìn thấy rất rõ mặt đất hay đàn cá, tôm, bồ toọc tung tăng bơi, lội hoặc mọi vật dưới sâu một, vài thước. Cũng vì thế mà tôi nhìn rõ được từng đàn đỉa trâu đen trũi, lượn lờ, to hơn cả ngón chân. Chúng đã “bắt hơi được mùi máu những con vật sống” như chúng tôi, nên cứ đua nhau, lao thẳng, bám vào thân mình mà không thể xua đuổi chúng. Đó là chưa kể những đàn muỗi to như đàn mòng, từng đàn, dài như bất tận cứ lăn xả vào mặt, mũi, đòi xin “tí huyết”.

Cuộc đổ quân đang diễn ra khẩn thiết hơn. Tiên đoán, có thể đã lên đến vài đại đội rồi. Và, dấu vết nước dâng lên ướt các thân cây Tràm cao khoảng nửa thước. Bãi lá sen mà 5 chúng tôi đang “chém vè” cũng trong cơn vô cùng nguy kịch. Bởi, “cặp đôi nóc mit – OH.6” truy lùng sắp đụng tới “ranh giới chém vè”. Cả hai “con OH.6” xà hẳn sát mặt nước dùng đôi cánh quạt của chúng “quét, xoay tròn, dựng đứng các lùm cỏ” tạo thành những cột nước nhỏ xoắn tít, như rồng mây đang hút, cuốn nước.

Tôi đã phải ngụp đầu hẳn dưới nước chỉ để ló lên hai lỗ mũi. Nhưng, độ rập rềnh của những đợt sóng tràn qua lỗ mũi, vì vậy mà phải nhẹ nhàng dùng hai ngón tay thay nhau bóp, bịt, mở cho mũi chìm trong nước vẫn có cơ hội để hít, thở tìm thêm sự sống. Lần đầu tiên, tôi được mục kích tận mắt lực lượng binh sĩ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa với những bộ đồ rằn ri, cổ khoác những miếng vải màu đỏ, xanh hay hàng trăm cái mũ sắt sáng loáng biết di động. Súng, đạn nai nịt kỹ càng, những đôi giày nhà binh đen xám đang nhảy từ thân những chiếc trực thăng xuống, khiến nước phía dưới tung tóe.

Tôi còn nhìn được rất rõ dáng điệu những viên chỉ huy của họ, khi người lính mang bộ đàm PRC 25 với hai “hàng cây” ăngten hình lá lúa bóng lên ánh thép nhà binh lúc vừa nhảy xuống đã rung rinh, ngất ngưởng vì dính nước ướt. Những âm ngữ, âm thanh như nhận, truyền tin, mệnh lệnh của người lính mang bộ đàm và vị chỉ huy của họ bị “cắt lát từng mảnh” bởi những guồng quay, rít cánh quạt gió của trực thăng. Tuy, không nghe được tận tường, nhưng quan sát thấy rõ có thể hiểu được là yêu cầu: Tất cả phải tản nhanh khỏi vị trí này để bước vào đội hình tác chiến.

Nếu như giây phút ấy, được lệnh phát hỏa và tử thủ thì chắc chắn chỉ hai khẩu Ak47 + 6 băng đạn của chúng tôi cũng đủ bắn hạ hay gây trọng thương ít nhất là vài chiếc trực thăng HU.1A hay HU.1B, và tiêu hao một số sinh lực của đối phương vì khoảng cách đã quá gần. Nhưng, nếu nổ súng lúc này là đồng nghĩa với cà 5 chúng tôi đều tự sát.

Tiếng gầm của đạn đại bác đã tạm ngưng và sau khoảng hơn một tiếng đồng hồ đổ quân xong. Các phi cơ chiến đấu “dọn bãi” cũng đã tạm coi như hoàn thành nhiệm vụ trở về hậu cứ của họ. Trên cao bây giờ xuất hiện hai chiếc “đầu láng – HU.1A”. Hình như địch quân đã “thay ca” hay thay đổi chiến thuật?

Binh sĩ của đối phương hoàn toàn không còn để ý, quan tâm gì tới những khoảng đồng trống, mênh mông biển nước kia nữa. Họ tập trung “tảo thanh” các khu rừng Tràm xung quanh cho đến tận xế chiều, không biết họ phát hiện được gì hơn sự kiện đêm qua không, nhưng rồi họ chuẩn bị rút quân. Cũng bởi, nơi ẩn náu của 5 chúng tôi là vùng nước sâu, nên lực lượng bộ binh không thể hành quân truy sát tới được. Trước khi điều động trực thăng rước quân ở bên kia phía rừng Tràm thì địch quân lại sử dụng loại “Bobo – Thuyền chiến cơ động nhanh” rà soát lại chiến trận lần cuối.

Bất giác, 3 chiếc Bobo không biết rõ từ hướng nào “bay lướt trên mặt nước, cách chỗ 5 chúng tôi ẩn núp không tới 30 mét. Động cơ và độ nhanh như xé không khí của chúng, khiến tim óc tôi hoảng loạn, tay chân tôi như muốn rụng rời. Sau những biến loạn, chấn động chết chóc kinh hoàng của một ngày. 5 chúng tôi lại tìm đến nhau và phân công hai anh Xuân Thủy cùng Năm Sơn đi “kiếm lại chiếc xuồng”. Chỉ trong khoảng đợi chờ ấy tôi đã phát hiện và dùng bàn tay mình kéo, rứt ra khỏi bụng, mông, chân, ngực đến năm, sáu con đỉa to như trái chuối cau đã no nê máu, ném chúng ra thật xa vẫn nghe tiếng “bủm, bủm”. Không biết, vào thời điểm cực kỳ nguy kịch từ sáng tới lúc này đã có biết bao nhiêu con đỉa hút máu anh em chúng tôi no nê rồi bỏ đi?

Ban ngày, bầu trời hưng hửng nắng thì ngập ngụa pháo bom, chết chóc “tử thần gọi”. Chiều đến lại mây đen vần vũ, những cơn mưa, giông tố lại ập tới, nên không thể xác định được hiện đang đứng đâu, tọa độ nào và sẽ đi về đâu. Sau gần hai tiếng đồng hồ mới tìm lại được chiếc xuồng và “tề tựu” đủ 5 binh sĩ. Ai cũng rét run vì đói, khát và ngâm nước suốt ngày như thế. Hai anh Bổ và Thủy tranh thủ hái một ít gương sen bỏ lên xuồng để khi nào rảnh thì bóc, nhai nhâm nhi. Mấy ai hiểu được nghịch lý rằng: Giữa mênh mông biển nước mà vẫn khát từng giọt nước là vì ở đây chỉ là nước phèn nên không sao uống nổi. Chúng tôi ngồi trên xuồng phải trải tấm nilon ra để hứng nước mưa mới uống được. Hay phải cuốn lại những giọt sương đêm còn đọng trên những lá sen để “giải khát”.

Cứ bơi được vài tiếng đồng hồ thì Sáu Khởi, Năm Sơn lại chụm đầu vào nhau bàn bạc, xác định lại phương hướng. Rồi, biết khi trời gần sáng lại tìm nơi dìm, giấu xuồng và cả 5 lại tìm chỗ “chém vè” tiếp. Đã sắp 10 ngày, đêm trôi qua mà lương thực (gạo sấy, thức ăn khô) chỉ chuẩn bị tối đa có 3 ngày, nên đã hết từ 7 ngày trước. Từ ngày, đêm thứ 4 trở đi, chúng tôi bắt đầu nhịn đói, uống nước mưa cầm hơi. Những, khi gặp được gương sen, bông súng, hoa điên điển hay bất cứ thứ cỏ nào nhai được thì hái, vặt đưa vào miệng mà ngấu nghiến.

Tháp Mười vào mùa nước nổi từng đàn cá rô, các sặc nhiều không kể xiết. Hay, trong rừng Tràm có biết bao chim muông, rắn, chuột trú ấn trên cành cây. Nhưng, lênh đênh trên mặt nước, không bếp nấu, nướng, không được lộ diện ban ngày. Bầu trời, mặt nước… địch quân vẫn ráo riết truy đuổi. Và, khi màn đêm buông xuống lại phải tìm đường chạy trốn, thoát thân nên ai cũng ngày thêm kiệt sức.

Năm Sơn và anh Xuân Bổ đã ngã bệnh sốt rét. Anh Xuân Thủy hầu như đã mất tinh thần, tư tưởng bắt đầu biểu hiện sự suy sụp. Sáu Khởi thì càng đau đầu hơn trong cơn rối trí, chưa tìm được lối thoát. Kẻ thù vẫn vây quanh, đồn bót, thám báo địch quân giăng mắc, chốt chặn khắp các nẻo đường. Vào một chiều hoàng hôn phủ xuống vắng lặng, những đám mây đen cũng đang kéo đến một vùng trời vô định nào xa thẳm.

Tất cả chúng tôi bị rơi vào cơn khủng hoảng, bế tắc. Tôi vẫn núp trong những lùm cỏ, bóng Tràm ngập nước tới ngực, vừa cố xua đi những đàn muỗi đua nhau xông vào mặt, mũi tấn công tứ phía. Hình như, đàn muỗi đánh được hơi, máu người, lần đầu tiên nên chúng “rủ rê, mời gọi” kéo hàng hàng, lớp cháu, con, chít, chắt mấy đời của chúng bủa đến như những cuộc vây, hãm để đòi “nợ máu”.

Nhớ lại, hôm đó có lẽ đã qua ngày thứ 10, đói, rét, thất lạc. Tôi rút trên áo ngực và lần giở cuốn sổ Nhật Ký để cố ghi lại ít dòng cảm xúc vào lúc lâm nguy. Cuốn nhật ký thứ 4 này tôi đã viết ngay từ khi nhận lệnh nhập ngũ và nó được bọc mấy lớp nilon, cột dây thun gói khá kỹ để tránh ướt. Đọc xong dòng lưu bút của chị Bảy Huệ, người chị kết nghĩa của tôi những ngày trú quân ở Tà Nu: “Rồi đây, em của chị sẽ là chiến sĩ dũng cảm biết mấy”. Chị viết trong đó là quê ở Thanh Hưng, một nơi nào mà giờ này, làm sao tôi biết nơi ấy.

Sau trận nổ súng đầu tiên bắn đàn trực thăng của địch quân đến bố ráp, thám sát khu vực đóng quân của chúng tôi vào chiều ngày 29 tháng 7 năm 1969. Và sự kiện nữ sinh Thu Vân của trường Sư Phạm (Dân Chính Khu 8) đang độ tuổi đôi chín đã bị trực thăng bắn chết thảm khốc, toàn thân em bị bầm dập, máu me lẫn trong những thân cây, cỏ nát phủ toàn thân bê bết.

Thu Vân nằm bất động trên tấm nilon vừa được khiêng lên bờ từ chiếc xuồng ba lá, cô có mái tóc óng ả, đen dài đến tận ngang hông và làn da trắng nõn. Người con gái, quê ở Gò Công, mới tối hôm nào liên hoan văn nghệ chung với anh, em bộ đội “ba sẵn sàng” chúng tôi. Thu Vân luôn ngồi bên chị Bảy Huệ lắng nghe, chăm chú thả ánh mắt xa xăm.

Có lẽ, lần đầu tiên cô ấy mới nghe được thể loại nghệ thuật: Độc tấu và âm ngữ “trọ chẹ” của người ở miền Bắc xa xôi. Đêm ấy, Chị bảy Huệ hát: “Bài Ca Hy Vọng”. Nhiều bạn khác hát vọng cổ, giao duyên. Tôi tham gia bản độc tấu “Yêu một nửa”… Giờ đây, Thu Vân nằm đó, thân xác không hồn. Chị Bảy huệ và các bạn đứng vây quanh rưng rưng lệ và lo các thủ tục khác và mai đây sẽ đưa trả thi hài em về lại với thân nhân, gia đình ở tận Gò Công xa, xa lắm.

Trên xuồng chỉ còn tôi và anh Sáu Khởi bơi, chèo, lái được. Trời cũng đã chạng vạng sáng thì gặp một dòng sông, nước đang giòng, chảy xiết. Sáu Khởi ngồi phía sau bơi, lái. Tôi ngồi mũi trước chèo, bơi tiếp sức. Chiếc xuồng đang “đổ theo con nước” trôi xuôi. Bỗng, phát hiện lô xô những hàng rào dây thép gai và cái lô cốt trên cao treo lá cờ vàng ba sọc đỏ ngay phía trước mặt. Sáu khởi vội nhảy ra khỏi xuồng cố sức lôi, kéo con xuồng ngược lại.

Tôi cũng phản ứng mau lẹ, nhảy xuống tiếp sức thì tên lính gác trên lô cốt kia cũng đã phát hiện sự kiện bất thường trước mắt, nên y xiết cò, xả súng bắn về phía chúng tôi từng loạt liên thanh. Nhanh trí xử lý và cũng quá may mắn. Sáu Khởi cùng tôi kéo lui chiếc xuồng được một đoạn thì gặp ngay một con rạch chẽ ngang đi về một hướng khác. Hai bên rạch còn cây cối xum xuê nên đã giúp thêm một lần thoát chết. Mãi sau này, Sáu Khởi kể lại là con rạch và trận đụng cái bót địch hôm ấy ở trên kinh “đường Thét”, thuộc tỉnh Kiến Phong. Thế là lại trải qua một lần, cả 5 anh em chết hụt thêm lần nữa.

Kế hoạch hành quân là tối đa, sau 2 đêm là đến điểm tập kết ở gần sát quốc lộ 4, mà nay, chúng tôi đã lạc hơn 10 ngày vẫn lênh đênh ở tận tỉnh Kiến Phong. Vào một buổi chiều khác, hôm ấy trời tạnh, mây quang, 5 anh em đều kiệt sức, Năm Sơn đã thều thào không còn nói được nên lời nữa. Sáu Khởi âm thầm hạ quyết tâm, liều mạng cất giấu xuồng ở một nơi khá xa, bỏ lại 3 anh em, Sơn, Thủy, Bổ nằm trên đó, phủ kín các loại cỏ, cây, lá lên. Anh dẫn tôi mang khẩu AK đi theo. Khẩu K 54, đạn cũng đã lên nòng.

Cả hai chúng tôi trườn dưới nước, đầu đội kín lớp rong rêu rồi cứ nhắm hướng Tây mà cắt, rẽ, đạp lên các loài cây, cỏ lăn, lác bước tới khi phát hiện một nhóm người lạ. Không biết họ đang ngồi trên những chiếc ghe nhỏ để câu tôm cá hay giăng lưới, đổ lờ lợp. Ánh trăng non đầu tuần chênh chếch phía trời Tây, Những ánh sao đêm đã soi hình bóng nước. Mặt trời mới vừa kịp lặn khuất sau những rặng núi nào đó vời xa. Nhưng, ánh nắng vẫn cố vươn từ mặt biển, tỏa lên một khoảng trời những tia nắng quái chiều hôm. Sáu Khởi với bộ mặt rất nghiêm trọng căn dặn tôi: Phải đứng cách xa mục tiêu từ 15 đến 20 mét, khi nào nghe tiếng súng nổ của anh ấy thì tôi cũng sẽ xiết cò yểm trợ. Và, luôn phải nhớ là không được nói tiếng Bắc.

Nếu, hai chúng tôi hy sinh thì 3 mạng sống đang nằm trên chiếc xuồng kia cũng khó toàn thây. Sáu Khởi và tôi đang trườn tới. Thật quá là mạo hiểm, anh bất ngờ như chui từ dưới nước lên, lật bỏ hết rong, rêu trên đầu, cất tiếng hỏi khiến cho người ngồi trên chiếc ghe kia bấn loạn, suýt bổ nhào xuống nước. Nếu, người ngồi trên chiếc ghe kia yếu bóng vía mà la hét thất thanh, toáng lên, thì cả những người khác xung quanh họ sẽ bỏ chạy. Có lẽ, chúng tôi sẽ lâm thêm vào những nguy khốn khôn lường. Hoặc chẳng may đụng độ nhóm “thám báo”, thám sát của địch quân giả dạng nống ra “phục kích, theo dõi Việt Cộng ở khu vực thì mạng sống chúng tôi coi như không còn hiện diện trên trái đất này từ giây phút đó.

Cũng may, anh Sáu Khởi chỉ gọi nhẹ và xin hỏi thăm đường đi bằng giọng nói Nam Bộ, nên người kia mới kịp hoàn hồn. Sau đó, hai người thì thầm gì đó một lát khá lâu rồi anh ấy lùi lại, dẫn tôi đi theo. Trên đường trở lại con xuồng, Sáu Khởi nói nhỏ cho tôi biết, đã gặp được một người nông dân tốt bụng. Người ấy hẹn và sẽ dẫn chúng ta đi một đoạn và chỉ đường trở lại phía Mỹ Tho. Được biết nơi đây là vùng giáp ranh tận Tam Nông, Hồng Ngự rồi. Như thế, là hơn 10 ngày, đêm qua chúng tôi vẫn di chuyển, men theo biên giới Việt – Miên. Còn xa lắm và giờ phải chuyển hướng Nam – Đông Nam mới đến được Mỹ Tho.

Hơn nửa tháng trầm mình trong nước phèn Đồng Tháp, thân xác này đã nuôi béo, mập biết bao đàn muỗi, đỉa nên đang dần khô kiệt máu. Những vết đỉa, muỗi cắn nhiễm trùng, mưng mủ đau, nhức toàn thân. Khi đến được kinh Mỹ Lợi, mới bắt đầu ăn được bữa cơm với khô cá đầu tiên. Cũng có lúc ghé sát vào một rừng Tràm nào đó, Sáu Khởi là một tay “thiện nghệ” bắt rắn, chuột đồng hay mò cua, bắt cá, tôm.

Vào một buổi chiều, anh bắt được cả chục con chuột và một con rắn bông súng, rồi bầm thịt làm chả nướng “cải thiện, bồi dưỡng” thêm cho bữa ăn chung. Anh vừa động viên vừa thúc ép tôi ăn thử cho biết vị ngon “vật sản” của đồng bằng Nam Bộ. Tôi biết anh Sáu Khởi làm thịt chúng khá sạch sẽ và ướp đủ thứ gia vị và tôi cũng cố gắng nghe lời. Miếng “chả chuột và rắn” bốc mùi thơm nức nồng từ chiếc chảo nhỏ và bếp than cháy đã hồng tươi kia. Nhưng, bỏ vào miệng thì tôi không sao nhai, nuốt nổi bởi cái mùi đặc trưng của chuột và rắn khi nó vừa “ảm, nhập” vào khứu, vị giác, khiến cái lưỡi của tôi không thể chấp nhận và buộc phải đẩy chúng ra ngoài.

Rồi, chúng tôi cũng lần mò đến được xã Thanh Phú, ẩn trú trên dòng kinh Nguyễn Văn Tiếp được hai ngày thì cả hai ngày cũng vẫn phải ngồi dưới công sự ngập nước đen ngòm để đội hết đợt bom này đến đợt pháo kích khác của địch quân. Trời lại tiếp tục đổ những cơn mưa. Và, đây cũng lần thứ hai tôi lại bị sốt rét thêm lần nữa.

Ngẫm kiếp nhân sinh, không ít người vẫn còn lầm tưởng trăm năm là trường thọ. Không hẳn thế, đời người dù có thượng, thượng hay đại thọ cũng chỉ sống đúng có “ba ngày”: Hôm qua, hôm nay và ngày mai là chấm hết. Chỉ một vài khoảnh khắc của cuộc đời tôi “hôm qua” là như thế đấy. Sẽ còn nữa, tôi sẽ viết tiếp những khoảnh khắc còn lại của “hôm qua”, “hôm nay” và ngày mai để cống hiến lại đời sau.

Mong được độc giả chia sẻ và đón nhận từ tấm chân tình của tôi.

 

(Phần 3)

Đồng đội thời binh lửa

Từ khi gia nhập quân ngũ tôi mới hiểu hơn hai chữ “đồng đội”, tiếp đó biết thêm về ngôn từ “đồng chí”. Và, mãi sau này lại hiểu, biết kỹ hơn về tình “chiến hữu, thân hữu” cùng các mối liên hệ máu thịt, sống chết của các thực thể, được gọi là Con Người có liên đới, liên quan hữu trách theo tháng năm, thế sự.

Xin được ghi, chép lại và giới thiệu với độc giả thân thương vài kỷ niệm về “đồng đội”. Tôi không có may mắn được sinh ra khi đất nước ta có hòa bình. Ngay từ khi 2 tuổi đã “đụng độ, nếm trải, suýt chết” vì chiến tranh. Mãi khi lớn lên có dịp đọc, sưu tầm lịch sử mới biết là binh lực từ núi rừng Việt Bắc của hai ông Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh mở chiến dịch năm 1952, với mưu đồ đánh, chiếm thị xã Vĩnh Yên để di, dời ATK (An Toàn Khu), thủ phủ của Việt Minh từ Tân Trào, Tuyên Quang về đây. Nhưng đã thảm bại trước sự phản kích của quân đội Pháp, mà gia đình tôi và nhiều xóm làng xung quanh đã bị hứng chịu cảnh đạn, bom ly tán.

Hai mươi năm sau, vào mùa hè năm 1972, cũng đã lặp lại ý đồ này của Trung ương Cục (R) với sự chỉ đạo của Lê Duẩn từ Hà Nội muốn đánh chiếm thị xã An Lộc để dựng lên thủ phủ (R) cũng thất bại. Tuổi thơ tôi không có “đồng đội” nên đến khi vào quân ngũ mới biết đến nó. Xin độc giả đừng dễ lầm tưởng là cứ ai được xếp sắp, biên chế trong một hàng ngũ, đội hình nào đó, thì được coi là “đồng đội”?

Đồng đội mà buổi sơ khai, tôi cảm nhận được đó là Trần Trọng Khiết. Khiết hơn tôi 3 hay 4 tuổi, có quê quán ở tận Đoan Hùng, Phú Thọ, địa danh mà tôi chưa từng đặt chân đến bao giờ. Chỉ nghe dân gian truyền miệng, nơi ấy cảnh đẹp và Đoan Hùng có vật sản quý là loại bưởi ngon lắm, mà tôi vẫn mơ một ngày nào đó được đến thăm.

Khiết có chiều cao khiêm tốn khoảng 1 mét 62, người đậm sức, nước da khá trắng trẻo của một chàng trai ở vùng có rừng cọ, đồi chè bên dòng Lô Giang, nước trong xanh đã qua vạn, triệu năm soi bóng, núi biếc với bạt ngàn rừng thẳm. Dòng sông này bắt nguồn từ nhiều thác, ghềnh, suối nhỏ của núi rừng Việt Bắc chảy đến, tạo thành nơi giao hòa của ngã ba Bạch Hạc gồm: Lô Giang (nước xanh) – Hồng Hà (nước đỏ) với Sông Đà (nước nhạt nhòa) mà trước đây mấy ngàn năm Vua Hùng đã xây cất Hoàng Thành và chọn nơi ấy là thủ phủ “nước” Văn Lang. Dưới làn nước biếc của Sông Lô còn tiềm ẩn trong các hang đất, hốc đá một loài cá Anh Vũ ngon tuyệt vời. Tương truyền loài cá này chỉ là để dành cung phụng bữa ăn hay tiệc tùng cho các đời Vua Hùng Vương.

Khiết là con trai một của gia đình nông dân nghèo, nhập ngũ trước tôi hai khóa đã được phong hàm Hạ sĩ, cấp trên phân nhiệm chức Tiểu đội phó và giữ lại để tiếp huấn luyện đợt này. Có lẽ trình độ học vấn khoảng lớp 4, nên viết chữ rất xấu. Tuy nhiên, Khiết cư xử với tất cả anh em từ cách sinh hoạt chỗ trú quân đến các nơi thao tập và cả thời gian vượt Trường Sơn, băng Đồng Tháp vào đến chiến trường tham gia một số trận mạc cùng tôi, đã lưu lại đúng ý nghĩa của tình “đồng đội”.

Và, rồi suốt mười năm chiến cuộc tang thương, tôi còn gặp thêm vô số các đồng đội khác. Có người vài ba năm rồi vĩnh viễn lìa xa như viên Trung đội phó Nguyễn Khánh Toàn (Phú Thọ), Út Chiến (Bến Tre), Ngô Văn Khả (Thanh Ba), Nguyễn Đình Chiến (Yên Lãng), Nguyễn Văn Môn (Văn Tiến), Năm Sơn (Thạnh Phú). Tám Ngọt (Mỹ Tho), Tư Toa (Long An), Ngô Nhật Hồng (Phú Thọ) Hai Tùng (Bến Tre)… Cũng có kẻ vừa mới cùng nhau chia lửa đạn được ít phút đã vĩnh biệt như Nguyễn Văn Sôn (Hải Dương), anh Xuân Bổ cởi áo băng vết thương cho tôi lúc quá nguy nan …

Có đồng đội sau hơn cả mười năm mới lại gặp nhau, trong một chuyến quân hành ngược lối như Đại úy Hoàng Đạc (Đồng Văn), người chỉ huy cũ của đoàn pháo binh Biên Hòa, đã tham gia trận pháo kích lỡ, lạc vào trường Tiểu học Cai Lậy giết chết nhiều trẻ thơ ngày ấy, hay Đặng Thế Khởi (Mỹ Tho) đã cứu sống tôi nhiều phen ngoạn mục … Có lẽ không thể liệt kê hết trong vài trăm trang giấy cùng những kỷ niệm riêng với họ. Nhưng, không viết được về họ thì tôi cảm thấy như mình có lỗi với vong linh của người đã khuất và mối nợ thâm sâu với những người còn sống.

Sau cuộc “tao ngộ, đụng độ” với biệt kích của địch quân ở rừng Bắc Trang (Long An) vào đêm đầu tháng 10-1969. Phải công nhận tài trí, điều binh, ứng biến của hai vị chỉ huy, Ba Hẫm và Hai Trường là tuyệt chiêu. Chỉ ít số đồng đội trên một vài xuồng trúng đạn chết và bị địch quân bắt sống. Còn lại hầu hết là hơn 300 binh sĩ đã “xuyên qua” lửa, đạn “chọc thủng” mấy vòng vây địch quân di chuyển đến nơi “tập kết” an toàn, thật phi thường, từng ấy binh sĩ đã hành quân sang tận bên kia con đường “tử lộ 4” đến ém quân sát nách thị xã Mỹ Tho. Nơi trú đóng gồm ba xã: Bình Trưng, Hữu Đạo, Kim Sơn thuộc huyện Châu Thành, cận kề ngay “trước mặt” Bộ tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh của phía địch quân.

Hai trận đánh nghi binh được mở màn vào đêm 6 tháng 11 “pháo kích” cối 81mm vào đồn Mỹ Long và đêm 8.11 phục kích bằng súng hỏa lực mạnh B40 và B41 bắn vào xe cơ giới trên quốc lộ 4 giữa gianh giới xã Dưỡng Điềm tiếp giáp khu pháo binh ở Long Định. Bị tấn công bất ngờ với các loại vũ khí “hạng nặng” đã “thổi bùng khói lửa” đạn bom, chết chóc trên toàn bộ chiến trường được mệnh danh là “vùng 20 tháng7” kể từ sau chiến dịch Mậu Thân – 68.

Đại đội 1 đóng quân án ngữ bảo vệ Ban chỉ huy. Nhưng, đã bị lộ để cho các binh sĩ “ba sẵn sàng” mỗi chiều kéo ra quán tiệm “Chạp khô” của ông Hai Lướt mua đồ ì, xèo. Phía địch quân đã nhận định, tiên đoán được mối hiểm họa đang tàng ẩn quanh đây, nên họ đã mở các trận oanh kích bằng pháo binh và phi cơ liên tiếp vào những khu rừng đáng nghi ngờ.

Hai ngày liên tiếp sau đó, chúng tôi lại phải chui, rúc trong công sự đội bom, pháo, chiến đấu cơ của địch quân bắn phá, càn quét xung quanh xã Bình Trưng. Chiếc bồng dã chiến của tôi bị trúng đạn, bom bi nên bị rách nát bươm và không còn quần áo lành lặn để thay mặc. Vậy, mà vẫn còn may mắn là cuốn Nhật Ký nhỏ bé, thân thương và thân thể tôi không bị trúng một mảnh đạn, bom nào.

Đơn vị bắt đầu mở chiến dịch đánh lớn, như tập kích đồn Cả Mít (15 – 17.11). Phục kích trên cánh đồng Long Khánh, Long Tiên (18-11-1969). 37 tử trận và mấy chục binh sĩ khác thương vong. Hình ảnh ghi đậm nét trong tâm trí là lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy sự chết chóc mịt mờ cảnh đêm tối, ghê rợn. Người chết hầu hết chưa ai kịp nhắm mắt, họ được quy tập lại nằm ngổn ngang trên một bờ kênh nhỏ. Dưới làn đạn đại pháo địch vẫn bắn vu vơ, loạn xạ và ánh pháo sáng trong cơn mưa vẫn rả rích.

Tôi nhìn rõ những đồng đội thân quen như Ngô Văn Khả, Nguyễn Văn Ngôn, bị trúng đạn AR15 bắn từ trước ngực ra phía sau chưa xuyên qua được. Viên đạn ghim chặt vẫn nhú ra một khúc trên thân xác. Thật ghê rợn bởi một mình tôi phải ở lại đợi chờ các xuồng, ghe chở dần tử sĩ đi phân tán, chôn cất. Các thi thể đều trần trụi mặc mỗi chiếc quần đùi. Bởi “mật lệnh” xung trận quy định là như thế. Họ được “khâm liệm” bằng một tấm nilon không có số quân hay để lại tên, tuổi, quê quán. Ngay cả nơi chôn cất (thực chất là nhanh chóng mang đi vùi, dập để phi tang) cũng phải giữ bí mật nên ít ai được biết đến.

Mười ngày sau, trận vận động chiến ở Kim Sơn, Vĩnh Kim (28-11) thêm gần 30 tử sĩ. Trận đánh đó, ngay từ lúc khai chiến đã bị pháo binh địch “dọn bãi” khốc liệt. Ngôi nhà cũ của dân chúng vừa bị bom, pháo thiêu rụi, còn trơ chiếc “trản xê = tăng xê” lộ thiên. Hàng chục binh sĩ chen nhau ẩn, náu trong đó.

Khi nhường chỗ cho Khiết và Nhâm thì tôi bị lọt ra ngoài, không thể cố “chêm thêm” vào được nữa. Ngồi cửa miệng hầm, một mình tôi “đội” không biết biết bao đợt đạn đại pháo. Khi lệnh xung phong, xuất kích tất cả phải lao ra ngoài cánh đồng trống trải, chịu biết bao làn đạn từ bộ binh, phi cơ địch xả xuống mà Trời thương, Phật độ, tôi vẫn không bị trúng một miểng đạn nào.

Còn hai đồng đội là Trần Trọng Khiết, Tạ Quý Nhâm (Nghĩa Hưng) vĩnh viễn nằm lại nơi này. Khiết bị trúng một hỏa tiễn của AH1 “cá lẹp” gần như cháy, nát toàn thân. Nhâm lĩnh trọn trái M 79, lảo đảo, gục gã từ trên bờ mẫu lao đầu xuống ruộng còn giãy giụa, phía đầu vẫn nổi lên những bọt nước sùng sục. Lần lượt hàng trăm chiến binh khác như Năm Sơn, Út Chiến… cũng vĩnh viễn trở về cát bụi. Xuân Thủy (Yên Đồng) không biết bị trúng đạn vào đâu, mà toàn thân anh run lên bần bật, thở rốc trước khi lịm đi. Anh chết trong trận đánh ở xã Hậu Mỹ Nam, ngay bên cạnh và tôi cũng bị thương trận ấy là lần thứ 3.

Chiến tranh, viết về chết chóc mãi cũng nhàm thật. Vào một lần nào đó, tôi nghe được người dân họ nói “các chú bộ đội chết đã quen rồi”. Nhưng, mấy ai hiểu được sự cay đắng, mỉa mai và chua chát ấy. “Chết là hết, chết là đại họa của một đời người, làm sao mà quen được”.

Sở dĩ, tôi muốn viết chủ đề “Đồng Đội” trước sự kiện “chiến thắng 30-4-1975” để tự nhắc nhở mình và những ai còn sống. Đặc biệt là những cựu chiến binh cần minh định lại trách vụ của mình trước những vong linh đồng đội đã khuất, cùng vô vàn những hy sinh của thân nhân, đồng bào, dân tộc, đất nước mình mà vẫn chưa tròn trách nhiệm: “Giành được độc lập, tự do cho Tổ Quốc”. Hãy nên, cùng nhau tự vấn mình!

Tôi tin hầu hết những “Liệt sĩ” họ vẫn đinh ninh nghĩ rằng, chết cho tương lai tốt đẹp của các thế hệ mai sau. Nhưng, cuôc nội chiến kết thúc đến nay đã 46 năm. Hàng chục triệu người chết, thương vong: Đất nước vẫn chưa hề có một ngày độc lập: Biển, đảo, đất biên cương vẫn mất vào mưu độc, kế hiểm của những kẻ là “đồng chí Phương Bắc” xâm lấn, chiếm cứ lên đến hàng triệu km2.

Nhìn sang đảo quốc nhỏ bé như Đài Loan, Nam Hàn, họ chưa hề mất một tấc đất, biển, đảo nào cho ngoại bang, kẻ thù. Mặc dù, bị băng đảng Cộng sản đe dọa chiến tranh đêm, ngày (24/24) suốt hơn nửa thế kỷ qua, đất nước họ vẫn an bình và khoa học, đời sống người dân của họ luôn phát triển rực rỡ. Nhân dân cả nước ta chưa ai thực sự được tự do, toàn cảnh xã hội Việt Nam vẫn bị một hệ thống cai trị như trong ngục tù mà một số chóp bu bạo quyền Cộng sản đang ngông nghênh như những tên “Cai ngục + quản giáo”.

Viết về “Đồng Đội” tôi khó có thể quên Dương Chiến Đoàn. Sinh năm 1952, nhập ngũ và vào Nam 1969, như vậy là Đoàn ở tuổi 17 đã gia nhập quân đội? Nhờ thân hình phát triển nhanh, cao lớn, vạm vỡ nên các trận chiến, cậu ấy tung hoành dọc ngang, xông xáo. Và, bởi chung quê, chung nghĩa tình nên Đoàn đề nghị được kết nghĩa cùng tôi và Nguyễn Minh Đức, chọn bí danh theo họ của tôi là Lê Hiếu Trung.

Từ những năm 1970-1972, chiến tranh càng trở nên khốc liệt. Ba “đồng đội” (Lê Hiếu Tử – Lê Hiếu Trung và Lê Hiếu Nghĩa) chúng tôi kết thân nhau hơn. Bởi, cũng cùng thoát chết nhiều phen trong tấc gang. Tôi nhớ một buổi sáng tinh sương vào một ngày hè tháng 9 năm 1970, chúng tôi trú đóng ở Ấp 7 xã Long Trung (Cai Lậy). Hôm trước tất cả đều đã biết “bếp ăn” tập thể không còn tiền và thức ăn gì nữa, ngoài một chai nước mắm cũng sắp cạn kiệt. Hơn chục binh sĩ chưa biết sẽ ăn uống, sống thế nào vào ngày mai.

Dương Chiến Đoàn sốt sắng rủ tôi và Ba Hò (Thanh Hòa – Cai Lậy) đi ra cánh đồng, bờ mẫu phía Ấp 9 giáp gianh Ấp 11 (Long Trung) để hái rau má (Loại rau cỏ, tập tàng) mọc lan phát hai bên vệ các bờ ruộng để mang về ăn với nước mắm “kho quẹt”. Sáng sớm hôm ấy, trời còn mờ hơi sương mù mịt, lần theo hai bên lõng nhỏ, lối đi cây cối um tùm, phủ kín cả trước mặt, phía sau. Tôi mang theo một túi nilon khá lớn. Bên hông lúc nào đi đâu cũng có thói quen, mang theo hai trái lựu đạn M26, đi ngay sau kế Đoàn, Đoàn mang theo khẩu AR15 với hai băng đạn. Hò đi sau cùng nên tôi không biết có mang theo gì nữa.

Đi ra khỏi chỗ ngủ chưa đầy 200 mét. Mỗi chúng tôi đi cách quãng nhau vài bước. Bỗng nghe tiếng “Phơộợụ”, nhìn thấy Đoàn gục xuống, tôi vẫn ngơ ngác thì những tiếng súng nổ liên thanh vang trời, dậy đất. Khói bay mịt mù quyện vào hơi sương, khiến mùi khét lẹt của đạn thêm đậm đặc. Ngồi xuống, xiết cò súng hết một băng đạn rồi Đoàn té tạt ngang sang hướng tôi.

Thế rồi cả ba rẽ tắt, cắt ngang các con đìa, hàng cây lao về nơi ngủ vội cuốn mùng, các thứ khác nhét tất cả vào chiếc bồng dã chiến, rồi theo nhau chạy ra bờ sông Trà Tân vượt sông sang Ấp 6. Nơi đó có một” bệnh viện dã chiến” của Trung Đoàn 1 trú ẩn. Khi hoàn hồn mới biết Dương Chiến Đoàn bị địch quân bắn nguyên một tạc đạn M79 trúng bụng bên phía tay phải, khiến phần gan xưng to lên như phụ nữ có chửa đến tháng thứ 3. Đoàn bắt đầu biết đau tấy toàn thân phải nằm điều trị luôn ở Viện này. Y sĩ, Nguyễn Quang A trực tiếp chăm sóc tận tình vài ngày, Đoàn mới bình phục.

Sau đó, chúng tôi được biết là kế hoạch tập hậu, đánh điểm của đội Biệt kích yếu khu Ba Dừa nhằm tiêu diệt toàn bộ nhóm chúng tôi đang trú đóng tại Ấp 7. Nếu, hôm đó Đoàn không rủ tôi và Hò đi hái rau má thì tất cả vẫn đang trong giấc ngủ nồng say. Chỉ ít phút nữa nhóm Biệt kích này sẽ làm chủ trận địa và giết sạch chúng tôi ngay từ loạt đạn đầu.

Khi trúng đạn quá nặng, Đoàn quỵ xuống. Nhưng vì khoảng cách với địch quân mang khẩu M.79 quá gần, nên viên đạn bắn ra chưa đủ vòng xoay để phát nổ. Vì thế mà nó lao thẳng vào bụng của Đoàn rồi rơi xuống đất. Với kinh nghiệm dày dạn chiến trường, Đoàn đã phản ứng phòng vệ cấp thời bằng cách bắn trả quyết liệt. Địch quân cũng bị phản công quá bất ngờ, ngoài kế hoạch tác chiến của họ, nên cũng bỏ chạy tán loạn. Không biết Hò đi phía sau có kịp ném trái lựu đạn nào không, nhưng nhiều tiếng nổ tiếp sau đó không còn khả năng giết chết người nữa.

Khi tất cả chúng tôi đã vượt sang bên kia sông Trà Tân thì Ấp 7 lại là nơi bị địch pháo kích cấp tập mãi đến gần 7 giờ sáng mới tạm yên. Thật là một phen hú hồn, hú vía, nếu hôm đó Đoàn cũng ngủ như mọi người thì kể như tất cả chúng tôi đã ngủ vĩnh viễn ở Ấp 7 xã Long Trung từ tháng 9 năm 1970 rồi.

Trận ấy, tôi đánh rơi mất tấm hình của cô gái “đồng đội” quê Mỏ Cày, Bến Tre có tên là Thu Vân tặng trên bờ kinh Mỹ Thiện hồi tháng 3, tấm ảnh không còn tìm lại được nữa trong nỗi lòng nuối tiếc vô biên. Mấy ngày sau trở lại tìm mãi cũng không biết nó rơi, mất ở điểm nào trong lần thừa chết, thiếu sống ấy.

Đồng đội Nguyễn Minh Đức (Lê Hiếu Nghĩa) bị trúng đạn của M113, ra đi vĩnh viễn trong trận chiến ở Long Khánh – Thanh Hòa vào đầu năm 1973. Dương Chiến Đoàn cũng ra đi để lại mình tôi, trong một trận đánh công kiên ở bót, kinh Bà Phủ (năm 1974 ở Cả Lân, Mỹ An giáp với xã Thanh Hưng). Đúng là nơi mà quê hương của chị Bảy Huệ đã ghi trong cuốn lưu bút của tôi. Khi đó, không biết chị Bảy còn sống, đang lưu lạc ở phương trời nào, hay… ?

Đồng đội, Dương Chiến Đoàn của tôi lại chết thật đau đớn, oán hờn. Đêm đó, Đoàn chỉ huy Đại đội 1 “chủ công” đánh vào lô cốt đầu cầu với hợp đồng tác chiến, cùng các binh sĩ bò, áp sát vào hàng rào địch nằm ém sẵn. Khi, phân đội hỏa lực DKZ 75 bắn trực xạ vào lô cốt ấy, dứt điểm 15 trái, thì sẽ giật nụ xòe bộc phá nổ tung hàng rào địch xông lên kiểm soát và làm chủ trận địa cho các mũi khác tiếp tục đánh, chiếm.

Thật xấu số và khốn nạn, Phân đội DKZ 75 vừa tác xạ được 13 trái thì trục trặc kỹ thuật hay súng bị hóc đạn. Nghe thấy ngưng tiếng súng hỏa lực mạnh, Đoàn cùng đồng đội cho nổ tung hàng rào, chớp nhoáng xông lên chiếm trọn lô cốt đầu cầu, thì bên kia khẩu DKZ cũng sửa xong, còn hai viên đạn theo hợp đồng bắn nốt thế là “hốt trọn, xóa sổ” cả binh sĩ Đại đội 1 và Đoàn cũng vĩnh biệt tôi từ đấy. Đoàn đã không chết do đạn địch qua hàng trăm trận mạc mà Đoàn đã phải chết vì đạn chính đồng đội của mình, mới thật oan khiên. Trận ấy lẽ ra đã thắng thì trở thành thất bại thảm hại. Thi thể Đoàn và các đồng đội đều bị địch quân ném xuống rạch, chảy theo con nước lớn, giòng, lềnh bềnh trôi ra sông lớn.

Không biết linh nghiệm nào đã báo, biết cho Đoàn sẽ chết, nên cậu ấy có viết để lại cho tôi ít dòng “di chúc và hình ảnh” căn dặn những lời cuối khi đang ở độ tuổi 22, 23, cất kỹ trong chiếc bồng dã chiến, mà tôi nhận và vẫn mang theo đến tận bây giờ.

Tôi còn mối nợ không những với Trần Trọng Khiết, Dương Chiến Đoàn và hàng ngàn, vạn, lớp lớp đồng đội đã nằm xuống mà khi nhắm mắt, trút hơi thở cuối cùng, họ vẫn mang hơi ấm trong tâm nguyện: “Độc Lập cho Tổ Quốc – Tự Do cho mỗi Con Người”. Vậy, mà đã 46 năm nay vẫn chưa thành sự thật. Tôi còn mang nợ nhiều, nhiều lắm với đồng bào của tôi mà hơn 30 năm qua sám hối, đáp đền vẫn chưa đặng.

Gánh nợ ấy vẫn luôn canh cánh bên lòng. Rất mong được độc giả, người yêu nước, những ai cùng chung chính kiến và các cựu chiến binh cả hai phía, hãy góp thêm bàn tay, chia sẻ gánh vác mối nợ chung cho quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta sớm trở thành vườn hoa Tự Do – Dân Chủ và một ngày không xa sẽ đơm hoa, kết trái ngọt lành./.

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen