Mục lục
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua đời tại Nam California, thọ 103 tuổi
ANAHEIM, California (NV) – Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời lúc khoảng 10 giờ sáng ngày 14 Tháng Mười, tại bệnh viện West Anaheim Medical Center, thành phố Anaheim, California, thọ 103 tuổi. Các con ông Doãn Quốc Sỹ xác nhận tin này với Người Việt.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ. (Hình: Triết Trần/Người Việt)
Theo thông tin từ gia đình, Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17 Tháng Hai, 1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội.
Ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Khi nhận thấy bản chất Cộng Sản của tổ chức này, ông rời bỏ kháng chiến.
Vào năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.
Năm 1954, hiệp ước Geneva chia đôi đất nước, ông di cư và mang gia đình vào miền Nam.
Doãn Quốc Sỹ có hai sự nghiệp song song; một sự nghiệp nhà văn, một sự nghiệp nhà giáo. Ông thường nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.”
Ông từng giảng dạy tại các trường Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn, 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).
Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng.
Ông có tác phẩm đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật…
Sau 30 Tháng Tư, 1975, Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị chế độ Cộng Sản bắt giam. Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế.
Trong thời gian chờ đợi được con gái bảo lãnh đi nước ngoài, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển “Đi,” ký bút hiệu Hồ Khanh. Ông gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông bị bắt lần thứ hai vào tháng Năm, 1984. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý. Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào Tháng Mười Một, 1991.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ nhân ngày sinh nhật thứ 100
Năm 1995, ông được con trai là Doãn Quốc Thái bảo lãnh sang Houston, Hoa Kỳ.
Nhận định về ảnh hưởng của tác phẩm Doãn Quốc Sỹ, nhà thơ Trần Mộng Tú từng viết trên VOA: “Những người yêu chữ nghĩa văn chương ở Việt Nam thời 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam không ai là không đọc những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ. Những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ cho người đọc thấy yêu quê hương, yêu gia đình, bạn hữu hơn mặc dù trong những dòng chữ đó không hề nhắc đến một bổn phận nào.”
Nhà thơ, nhà báo Đỗ Quý Toàn, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ xuất hiện trong nhóm Sáng Tạo nhưng ông tạo một phong cách văn chương riêng biệt. Ông theo lối cổ truyền: Dùng văn chương chuyên chở đạo lý.”
Nhà thơ, hoạ sĩ thuộc thế hệ hậu bối, Đinh Trường Chinh, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ là một trong những con chim đầu đàn của nhóm Sáng Tạo, nhóm đã làm thay đổi diện mạo văn học miền Nam sau 1954 và góp phần thay đổi cảm quan người đọc thời ấy ra khỏi mỹ cảm Tự Lực Văn Đoàn và văn thơ tiền chiến vốn đã hiện diện và ăn sâu vào người đọc thời ấy.”
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ ra đời, sinh hoạt và lớn lên ở miền Bắc nên có sự hiểu biết sâu sắc về chế độ Cộng Sản. Câu nói nổi tiếng của ông trong truyện ngắn Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều: “… Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.”
Là người gần gũi và có nhiều kỷ niệm với Doãn Quốc Sỹ và gia đình, nhà báo Đinh Quang Anh Thái kể với Người Việt: “Đọc tác phẩm của bác, mê văn bác từ nhỏ, nhưng mãi tới sau ngày 30 Tháng Tư 75, lúc bấy giờ tôi ngoài 30 tuổi, tôi mới có cơ duyên được hầu chuyện bác, tôi cảm ngay được nhân cách hiền hòa, kín đáo của bác. Bác chừng mực nhưng không xa cách. Bác đôn hậu nhưng không vồn vã. Đúng cung cách “Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy”, tình cảm thâm trầm, lắng đọng vào bên trong, không sôi nổi, bộc lộ ra ngoài.”

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong một lần ký tặng sách cho độc giả. (Hình: Uyên Nguyên/Người Việt)
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái nói, với riêng ông: “Doãn Quốc Sỹ là mẫu người tượng trưng cho chính khí Việt.”
Sự thâm trầm, lắng đọng của Doãn Quốc Sỹ, trong cách nhìn của Đỗ Quý Toàn, “hầu như bẩm sinh đã mang sẵn một cái tâm kiên cố khó bị lay động vì hoàn cảnh. Ông có phước mang sẵn tấm lòng trống trơn, không cần phải cố gắng.”
Doãn Quốc Sỹ là nhà văn có sức sáng tác phong phú và đa dạng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Khu Rừng Lau, gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965) và Những Ngã Sông (1966).
Nhiều truyện ngắn của ông được độc giả ghi nhớ lâu dài. Trong đó có thể kể đến: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Mình Lại Soi Mình, Đàm Thoại Độc Thoại, Dấu Chân Cát Xóa, Dốc Sương Mù…
Tổng số tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ là 25 cuốn.
Hiện chưa có thông tin tang lễ từ gia đình. (NV)
Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nha-van-doan-quoc-sy-qua-doi-tai-california-tho-103-tuoi/
Cáo Phó

Doãn Quốc Sỹ, một tâm hồn thấm đẫm tinh thần dân tộc
Sống qua hơn một thế kỷ, nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử nước Việt đầy thăng trầm.
Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời hôm 14/10/2025 tại Quận Cam, California, hưởng đại thọ 102 tuổi.
Khi tôi học lớp 10 và 11 ở trường Nguyễn Bá Tòng thì biết đến giáo sư Doãn Quốc Sỹ qua những tập sách khảo luận của ông về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát mà tôi cần đọc thêm để làm bài trong giờ Việt văn với các thầy Thái Văn Khôi, Trần Bằng Phong và cũng để ôn bài cho kỳ thi Tú tài I.
Những năm sau đó tôi mới đọc Gìn vàng giữ ngọc, xuất bản năm 1960, và Sầu mây năm 1970, cùng vài tác phẩm khác nữa của Doãn Quốc Sỹ, một trí thức Hà Nội di cư vào sống trong Nam từ năm 1954, cùng với Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn và một số văn nghệ sĩ miền Bắc khác.
Gìn vàng giữ ngọc gồm 6 truyện ngắn: Khu vườn bên cửa sổ, Căn nhà hoang, Tiền kiếp, Cái chết của một người, Hương nhân loại, Chiếc chiếu hoa cạp diều, Gìn vàng giữ ngọc. Qua những câu chuyện thời kháng chiến, chuyện tản cư của gia đình tác giả, dù trong hoàn cảnh nào thì tình thương yêu, tính nhân bản của nhân vật cũng được đề cao, dù có đói ăn, thiếu mặc hay đang sống trong hoàn cảnh giặc giã, chiến tranh.
Những điều về con người cộng sản trong phong trào Việt Minh, ông ghi lại trong chuyện Gìn vàng giữ ngọc, qua câu nói của một người thân trong gia đình: “Em nên nhớ anh Sơn bỏ ngoài kia vào đây cũng để tránh những thái độ soi mói vào đời tư một cách bất lịch sự, vô chính trị và vô… giáo dục như vậy.” Đó là nguyên do khiến tác giả bỏ chiến khu về thành, sau năm năm theo kháng chiến chống Pháp từ 1946 đến 1951.
Truyện Khu vườn bên cửa sổ là cuộc tình lãng mạn của một “chàng” bác sĩ quân y với Linh, mà “chàng” sau này lại trở thành người yêu của Huyên. Linh và Huyên đều là sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, Linh học ban Anh văn, từng tu nghiệp Mỹ, có người yêu là sinh viên Việt đang học đại học Mỹ danh tiếng Cal Tech. Tính tình Linh cởi mở, hoạt bát tự nhiên, còn Huyên thì khép kín. Câu chuyện ghi lại nhiều biến cố lịch sử từ ngày gia đình các nhân vật ở Hà Nội, Thanh Hóa, Vĩnh Yên hay đã vào Tây Ninh, Sài Gòn.
Từ chuyện tình của Linh, xuất bản lần đầu vào năm 1960, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã ít nhiều giới thiệu nước Mỹ cho độc giả miền Nam, dù khi đó ông chưa đặt chân đến Hoa Kỳ.
Vì sự can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiến, nên ông đã đưa văn hóa Mỹ và Việt vào trong nhiều tác phẩm. Dấu chân cát xóa ông viết trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp xuất bản, cho đến khi được in ở Hoa Kỳ sau đó. Trong tác phẩm này là câu chuyện của Chương, một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giải ngũ, được du học Mỹ với học bổng USAID. Qua Chương, nhiều nét văn hóa Việt-Mỹ đã giao thoa, như những bài dân ca: Đèn cù, Lý con sáo, Se chỉ luồn kim nghe được ở nhà một giáo sư đại học người Mỹ; như phong cảnh, tập tục của người Mỹ trải dài từ West Virginia, New York, Illinois sang California; đến nền móng của Kitô giáo, triết lý của đạo Phật. Trong tác phẩm này còn có chuyện tình giữa chàng trai Việt, cựu Trung úy Biệt động quân tên Lĩnh và cô gái Mỹ tên Horthy, chọn tên Việt là Hoa.
Ở đây nhà văn muốn cho độc giả thấy khi nhắc đến Việt Nam thì chiến tranh không phải là trọng điểm mà ở đó còn có một nền văn hóa truyền thống lâu đời với nhiều nét đẹp.
Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đã qua Mỹ tu nghiệp sư phạm hai năm, 1966-68, về nước ông viết Sầu mây kể lại những ngày ở Mỹ ông đã giới thiệu văn hóa Việt cho người Mỹ mũi cao, tóc vàng, mắt xanh.
Có lẽ vì thế Hà Nội đã xem ông là “biệt kích văn hóa” và đã bắt giam ông hai lần, từ năm 1976 đến 1980 và lần thứ hai từ 1984 đến 1991.
Sự việc ông bị bắt lần thứ hai liên qua đến tác phẩm Đi ông gửi ra nước ngoài, xuất bản lần đầu ở Pháp vào thập niên 1980, dưới bút danh Hồ Khanh.
Khi vận động trả tự do cho ông và các văn nghệ sĩ bị Hà Nội giam tù, tổ chức nhân quyền Ân xá Quốc tế đã ghi trong bản tường trình về trường hợp giam giữ nhà văn Doãn Quốc Sỹ khi ông bị báo chí nhà nước lên án là “cán bộ chiến tranh tâm lý của Mỹ”, “văn chương phản cách mạng”, “bóp méo sự thật lịch sử của kháng chiến”, là “kẻ lợi dụng thời cơ”.
Tháng 5/1984, ông bị bắt cùng với các văn nghệ sĩ như Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường mà không bị đem ra xét xử trong nhiều năm.
Trước sự vận động của các tổ chức nhân quyền và áp lực của thế giới, tháng 4/1988, Hà Nội mới đem ông ra xử cùng với Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tú, Nguyễn Thị Phước Lý và nhân viên bưu điện Nguyễn Thị Nhàn, bị cáo buộc đồng lõa đã giúp chuyển tác phẩm Đi của ông sang Pháp.
Ông bị kết án 10 năm tù, được thả vào tháng 11/1991 và đến Mỹ đoàn tụ cùng gia đình năm 1995.
Tác phẩm Đi gồm 19 chương, ông viết ở trong nước, ghi lại sinh hoạt đời sống của gia đình ông, của nhiều người Việt với hai lần di cư vào năm 1954 và cuộc di tản tháng 4/1975 và sau đó là làn sóng vượt biển. Ông viết về những khó khăn trong đời sống dưới chính quyền cộng sản qua chuyện lý lịch, chuyện dạy học và chuyện vượt biển của hàng trăm ngàn người Việt.
Văn chương của ông nhẹ nhàng, dù phác họa lên những đắng cay, đau khổ, ngang trái của đời ông, trong cuộc sống của người Việt, nhưng luôn ẩn chứa niềm tin vào tiền thân lịch sử của dân tộc.
Qua nhân vật hay những câu viết trong truyện ngắn Tiền kiếp cho thấy ông không ưa cộng sản vì “gieo bi quan, nghi ngờ trong giới trí thức” nên Tân, một nhân vật biểu tượng của con người ông, đã bỏ kháng chiến năm 1951 để về thành. Ông không thích nếp sống xa hoa của những người thực dân Pháp trên quê hương mình, qua hành động của Tân khi vứt bỏ những đồng năm hào, là biểu tượng của người Pháp đang đô hộ Việt Nam, xuống cống nước đen. Ở những chỗ khác trong tác phẩm, ông đã biểu lộ không ưa chủ thuyết tư bản, thể hiện trong chính sách của Mỹ, hay nếp sống hiện sinh được bàn tán nhiều ở Pháp trong những năm đầu thập niên 1960.
Qua tác phẩm, Doãn Quốc Sỹ đã thể hiện ông là một người Việt chân chính, với tinh thần dân tộc, yêu thương đất nước, tôn vinh những cái đẹp, những điều nhân bản trong cuộc sống, giá trị của tự do: “Chỉ những hiện thân của u tối, của thiển cận mới tưởng rằng nắm được quyền hành là nắm được lòng người.”
Dù có bị chế độ cộng sản giam tù, ông vẫn tin vào con người nhân bản: “Người đâu có nhất thiết tạo thành địa ngục cho nhau, nhất thiết là đao phủ của nhau.”
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán.
Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu.
Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Năm 1956, ông là người đồng sáng lập ra nhóm Sáng Tạo, cùng với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, tạo ra diễn đàn sinh hoạt văn chương, xuất bản tác phẩm, tạp chí. Có thể nói ông là một trong những văn nghệ sĩ đã khai sinh ra nền văn học Việt Nam Cộng hòa với hàng chục nhà xuất bản đã phát hành cả ngàn tác phẩm văn học đủ thể loại trong 20 năm.
Cuộc đời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ trải qua 102 năm, hơn một thế kỷ, nên ông đã là chứng nhân của lịch sử.
Với 25 tác phẩm để lại cho đời, đáng chú ý nhất là bộ trường thiên tiểu thuyết Khu rừng lau gồm bốn quyển, với gần hai ngàn trang sách: Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Tình yêu thánh hóa và Đàm thoại độc thoại, ghi lại những biến động của đất nước qua các cuộc chiến tranh chống Pháp từ đầu thập niên 1930 cho đến chiến tranh Việt Nam khi lên cao điểm vào thập niên 1960, với sự can dự mạnh mẽ của Hoa Kỳ.
Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm đứt, với tác phẩm Đi viết về đời sống và hoàn cảnh của người Việt sau ngày 30/4/1975, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã để lại cho thế hệ mai sau một bộ trường thiên tiểu thuyết 5 quyển phản ánh con người và nước Việt qua một giai đoạn với nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn giữ được hồn dân tộc.
- Tác giả Bùi Văn Phú dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.
Bùi Văn Phú
Tưởng Nhớ Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Việt Báo

Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vừa từ trần vào lúc 10 giờ sáng ngày 14/10/2025 tại bệnh viện ở Nam California hưởng thọ 102 tuổi . Ông sanh năm Quí Hợi 1923 nên tính theo tuổi ta, ông thượng thọ 103 tuổi.
Nhân đây, tưởng nhớ ông nên đắng lại bài viết Tác Phẩm Khu Rừng Lau Của Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vào ngày 5/11/2025
*
Nhà giáo Doãn Quốc Sỹ là vị thầy khả kính với các thế hệ học sinh, sinh viên trước năm 1975. Nhà văn chân chính với các tác phẩm đóng góp cho nền văn chương miền Nam Việt Nam cho đến nay ở hải ngoại.
Nhân dịp Lễ Thượng Thọ 100 tuổi nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào đầu năm 2023 (Quý Mão). Lễ vinh danh và mừng thọ “bách niên chi lão” nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ được diễn ra thật trang trọng, xứng đáng “nhà văn của thế kỷ 20”. Với sự có mặt của gia quyến ông, cùng giới nhà giáo, nhân văn thi sĩ, thân hữu, cựu học sinh và giới truyền thông v.v… Tôi viết 4 tác phẩm trong Khu Rừng Lau từ thập niên 1960’ vì thời còn đi học đã đọc và rất ngưỡng ngưỡng mộ… Đây là tác phẩm văn học giá trị về giai đoạn và bối cảnh đất nước của dân tộc chịu nhiều đau thương!
Năm 2006 tôi viết bài Tác Phẩm “ĐI” của Hồ Khanh & Bản Án của Cộng Sản với nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho tuyển tập của Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT thành lập năm 2005, Cố Vấn: nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Chủ Nhiệm: nhà văn Tạ Xuân Thạc (Texas), Chủ Bút: nhà văn Việt Hải (Los Angeles). (Lúc đó tôi ra tờ Cali Weekly, mời Việt Hải làm Tổng Thư Ký)… (VĐDT Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, 2007, trang 254-258). Bài còn lưu trữ trên trang web Sáng Tạo và trong Mượn Dấu Thời Gian về nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
Trích:
Sau tháng 4 năm 1975, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ không “đi” được, ở lại Sài Gòn, được “lưu dung” dạy tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, thế rồi ngày 4 tháng 4 năm 1976, ông bị kết tội trong thành phần “văn nghệ sỹ phản động”, đưa vào trại giam Phan Đăng Lưu rồi chuyển lên trại tù Gia Trung ở núi rừng Tây nguyên, cho đến tháng Giêng năm 1980. Ra tù, bản thân ông không bao giờ nghĩ đến chuyện “đi” nếu không có những người thân yêu mong đợi. Không “đi” được, ông viết “ĐI “ để gởi sang Pháp nhưng bị họ lén lút kiểm duyệt, cũng như nhà văn A. Solzhenitsyn, ông bị kết án 10 năm tù! Ông thọ án cũng gần 8 năm như nhà văn A. Solzhenitsyn ở Liên Xô!
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1980, sau bốn năm “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tôi được trở về sống với gia đình, bắt được liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối, viết những bài báo phúng thích ngắn ký dưới bút hiệu tếu tếu: Củ Hành Khô!
Sau đó là cảnh đau lòng tử biệt sinh ly của chính mình khi chứng kiến cảnh đám con cháu cùng thân bằng cố hữu lần lượt mạo hiểm tổ chức vượt biên. “ĐI” được sáng tác đúng vào dịp nầy. “ĐI” chính là một hồi ký tự sự viết dưới hình thức tiểu thuyết. “ĐI” được bằng hữu thân tình tìm cách chuyền sang Pháp tới nhà Lá Bối. Tên tác giả được ghi là Hồ Khanh. Sự chọn lựa nầy liên tưởng tới những bài phúng thích trước đây được ghi với bút hiệu Củ Hành Khô. Củ Hành Khô khi nói lái lại thành một bút hiệu nghiêm chỉnh: Hồ Khanh”.
Trong dịp tiếp xúc với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ông cho biết, khi viết xong từng chương, ông gởi qua bưu điện sang Pháp, ông cảm thấy được trót lọt nên tiếp tục viết và gởi. Năm 1984, Công An đến nhà ra lệnh bắt, ông hỏi tội gì thì Công An đưa ra những bản đã photocopy bài viết mà ông gởi qua đường bưu điện.
Ông biết mình đã bị theo dõi và kiểm soát rất gắt gao nên đành chấp nhận. Bị nhốt 4 năm cho đến năm 1988 mới ra tòa và bản án: 10 năm. Năm 1991, ông ra khỏi tù, năm 1995, được con trai (Doãn Quốc Thái) bảo lãnh sang định cư tại Texas, Hoa Kỳ.
Tác phẩm “Đi”, gồm 19 chương, trên khổ 5.5 X 8.5 inches, dày 224 trang, là những mẩu chuyện có thật xảy ra trong gia đình, con cháu, người thân… với lối hành văn rất nhẹ nhàng, chân thật bắt gặp trong đời sống người thân và gia đình ông của thời điểm sau năm 1975.
Mở đầu tác phẩm “ĐI”, chương I ông viết: “Bà nội bảy mươi bảy tuổi chẳng bao giờ ngờ chuyến đi từ Hà Nội vô Sài Gòn này lại chỉ chứng kiến đám con cháu nội ngoại trong Nam ra đi gần trọn ổ. Thật buồn! Nhưng qua kinh nghiệm và cảm nghĩ bản thân, cụ cũng thấy rằng điều đó chẳng thể tránh được.
Đây là lần thứ hai cụ vô Nam đấy. Lần đầu cụ vô Sài Gòn vào tháng 3 năm 1977. Ngày đó thằng con trưởng của cụ (di cư vô Nam từ 1964) đã bị bắt giữ rồi… Tháng Giêng năm 1980 cụ nhận được điện báo tin thằng trưởng của cụ được tha. Thế là cụ tức tốc lo liệu giấy tờ lấy… Mẹ con sau hai mươi sáu năm trời xa cách (trên một phần tư thế kỷ) được gặp nhau trước Tết; lũ cháu nội ngoại được quây quần bên bà ríu rít chuẩn bị đón Xuân… Hạnh phúc mẹ gặp con, bà gặp cháu của một đại gia đình thương yêu hòa thuận không bút nào tả xiết. Vậy mà cụ có ngờ đâu chỉ sau đó ít lâu cụ chứng kiến cảnh chúng nó ra đi dần, có đứa bị bắt giữ rồi được thả rồi lại ra đi nữa…
Từ lúc đột nhiên khám phá ra lũ con cháu trong Nam đang tuần tự ra đi dần cụ chỉ biết niệm Phật, hầu như thường xuyên niệm Phật, kể cả đêm khuya lúc cụ thiếp ngủ tâm tưởng của cụ vẫn hướng về lời niệm…”
Chương II đề cập đến bản thân ông qua hình ảnh ông giáo: “Ông giáo thương lũ con vô cùng. Ngày xưa làm được đồng nào ông nuôi chúng ăn học đầy đủ, ngày nay ông càng thương chúng vì thiếu thốn đủ thứ. Đã đành ông thương chúng như cha thương con, ông còn thương chúng như đạo hữu thương đạo hữu trong pháp nạn, như đám chúng sanh đói khát khổ nạn thương đám chúng sanh đói khát khổ bạn, thương chúng bằng thứ tình nhân bản tinh lọc nhất. Ngay thuở còn trong trại lao động cưởng bách, ông đã viết thư nói với tám con là ông cám ơn Trời Phật đã ban cho ông tám vị bồ tát…”.
Trong những chương kế tiếp, ông nói về hình ảnh người thân, học hành, ra trường, xin việc, mất việc rồi “đi” đường bộ, đường thủy, bị bắt rồi lại “đi”… tin buồn, tin vui lẫn lộn trong lòng thân mẫu ông giáo, vợ chồng ông giáo.
Cuối chương XVI, sau tháng ngày chứng kiến hình ảnh con cháu “Bà cụ nhìn đám cháu còn lại. Cụ biết rôi đây khi cụ đã ra Bắc rồi, nếu có tổ chức gì (ý cụ nghĩ về H.C.R) mà bảo lãnh cho chúng đi tất nhiên chúng sẽ ra đi hết. Có bao giờ cụ quên niệm Phật cầu nguyện cho chúng đâu”.
Rồi những dòng thư của những đứa con xa cha mẹ với bao nỗi nhớ thương, những dòng chữ viết trong nước mắt gởi từ phương trời xa về cho người thân.
Đoạn kết của “ĐI” khi người thân ra đi ở đảo với nỗi niềm: “Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Có thể rồi mai đây được bốc đi định cư ở một xứ sở xa xôi nào, rồi ở đâu đó, tiểu gia đình Hoa sẽ mọc rễ đâu đó như bố mẹ trước đây đã di cư vào miền Nam rồi sẽ mọc rễ ở miền Nam. Ông nội mất, bố có được gặp mặt đâu! Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Hoa ngẩng nhìn trời thăm thẳm và trong suốt như để tìm những vì sao – (lúc đó làm gì có sao) – nhưng là nhìn vào một tiền kiếp xa xưa nào, hồi bố mẹ còn là những vì sao trên trời”.
Với tâm hồn nhà giáo khả kính, nhà văn mang nặng tính nhân bản ghi lại những hình ảnh trong “ĐI” nó bàng bạc trong muôn nghìn gia đình và con cháu trong gia đình ông vào thời điểm đó. Ông không phóng đại, cường điệu, dùng chữ “bao to búa lớn” để chửi bới, lên án mà là tâm tình của ông giáo nặng tình yêu thương với người thân trong hoàn cảnh đen tối đành “đứt ruột” chia tay!..”.
Hình ảnh người bố qua những dòng của chị Kim Khánh: “Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu trưởng nam… Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa”. (Bà Doãn Quốc Sỹ, bà Hồ Thị Thảo, con gái nhà thơ Tú Mỡ, pháp danh Diệu Thảo. Thất lộc ngày 08 tháng 9 năm 2011 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ).
Trong lãnh vực giáo dục, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã dạy tại các trường: Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội). Khi di cư vào Nam, Hiệu Trưởng Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961), Trường Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn 1961-1962). Tu nghiệp về ngành giáo dục tại Hoa Kỳ (1966-1968)… Giáo Sư Đại Học Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn.
Tác giả sách giáo khoa: Khảo Luận Về Cao Bá Quát (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Nguyễn Công Trứ (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Đoạn Trường Tân Thanh (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Tản Đà (Nam Sơn, 1960). Khảo Luận Về Nguyễn Khuyến (Hồng Hà, 1960). Khảo Luận Về Trần Tế Xương (Hồng Hà, 1960)… Văn Học & Tiểu Thuyết, 2 quyển (ghi chú: Dành cho sinh viên Vạn Hạnh).
Trong lãnh vực văn chương: Tác phẩm đầu tay Sợ Lửa (tập truyện, Người Việt, 1956) cho đến nay khoảng 30 tác phẩm.
Năm 1955, ông ra tờ tuần báo Người Việt nhưng được vài số rồi đình bản. Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo và tạp chí văn nghệ Sáng Tạo với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách (1959).
Thuở còn là thanh niên, ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Sau đó, khi phong trào này để lộ bộ mặt cộng sản, ông đã rời bỏ kháng chiến “dinh tê” về thành. Chính thời gian nầy, ông là chứng nhân trước thực tế phũ phàng giữa chủ thuyết và thực tại… và cũng là chất liệu trong các tác phẩm của ông.
Tác phẩm Khu Rừng Lau, trường thiên tiểu thuyết gồm 4 quyển: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Đàm Thoại Độc Thoại – Những Ngả Sông (1966).
Theo Lê Văn, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), trong cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng “Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nga như Chiến Tranh & Hòa Bình” trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và “có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ khi chiếm được miền Nam”.
Văn hào Nga Leo Tolstoy (1828-1910) với tác phẩm nổi danh War and Peace (Chiến Tranh & Hòa Bình) trong giai đoạn vào cuối thế kỷ XIX trong cuộc chiến giữa Nga trước và sau sự lâm lăng của Pháp. Tác phầm gồm 15 phần, trong mỗi phần có nhiều chương, tổng cộng khoảng 1.600 trang. Qua bản dịch tiếng Anh của Aylmer Maude và Louise Maude, bản dịch Chiến Tranh & Hòa Bình của dịch giả Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Tập 1: 758 trang, tập 2: 729 trang, tập 3: 733 trang, tập 4: 716 trang. Đây là tác phẩm liên quan đến lịch sử và sự dấn thân của giới quý tộc (Bá Tước, Công Tước)… với những chàng trai tham gia trong cuộc chiến và những mối tình vừa bi thương lẫn lãng mạn. Tác phẩm với khoảng một trăm nhân vật chính trong số năm trăm nhân vật.
Văn hào Leo Tolstoy sinh trước nhà văn Doãn Quốc Sỹ một thế kỷ, tác phẩm Chiến Tranh & Hòa Bình được khởi thảo vào năm 1863 và hoàn thành năm 1869. Tác phẩm Khu Rừng Lau của nhà văn Soãn Quốc Sỹ, ấn hành từ năm 1962 và năm 1966… Như một sự ngẫu nhiên với sự trùng hợp của hai văn tài.
Tác phẩm Khu Rừng Lau là trương thiên tiểu thuyết cũng khoảng hai nghìn trang, vẽ lại bối cảnh của lịch sử Việt Nam trong thời kỳ nhiễu nhương vào giữa thế kỷ XX. Những nhân vật từ lúc trưởng thành trong thành phần tiểu tư sản nhưng chiến tranh do Pháp gây ra, tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng đụng chạm với thực tế phũ phàng với lý thuyết và thực tế nên ngán ngẫm, trở về thành rồi di cư vào Nam, rồi dấn thân trong bối cảnh đất nước phân ly, thế hệ trẻ lại chống chọi trong thời chinh chiến. Theo lời tác giả: “ Khu Rừng Lau tôi cũng viết bằng cả cái kinh nghiệm bản thân của tôi, có nhân vật từ thuở gia nhập chống Pháp. Thời đó chống Pháp là tất cả các thanh niên và chính bản thân tôi ở trong Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc để mà chống Pháp. Rồi thì chính tôi, bản thân tôi đã từng họp dân chúng biểu tình để đi phá kho thóc của Nhật để phân phát gạo cho người dân vào cái thời đó.
Với cái việc của bản thân như vậy thì tôi dựng lại thành cái bộ truyện trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau đó. Và cái bối cảnh cùng những tình tiết thì đều là lẽ cố nhiên là viết dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng mà kinh nghiệm là do kinh nghiệm bản thân của tôi với những điều mắt thấy tai nghe, và rồi thì là để vào viết thành cuốn tiểu thuyết như vậy” (RFA, 23/6/2008).
Đề cập đến tác phẩm Khu Rừng Lau, với tôi, không thấy ghi trong phần tiểu sử của ông (ngay cả trong các tác phẩm) là sự thiếu sót vì không nói lên giá trị đích thực của tác phẩm với bối cảnh và giai đoạn xảy ra mà người viết như chứng nhân của thời cuộc.
Trong tác phẩm Gìn Vàng Giữ Ngọc, Sáng Tạo ấn hành năm 1959, có hồi ký Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều (trang 111-116), tác giả viết về bản thân ông, sinh viên Luật ở Hà Hội, tản cư và gia nhập Việt Minh:
“Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. (Ghi chú: khoảng năm 1946).
Đến năm 1948, khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình tôi ai nấy đã có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.
– Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi – lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi – chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.
Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói khác:
– Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc thật, nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm…
… Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.
Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên. Còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên Khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác.
Trụ sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang: bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là “Bến đò liễu xanh”…
… Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy ban Kháng chiến Hành chính Huyện – cậu mợ tôi là những người làm chứng – nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả y như một đám cưới vụng trộm…
… Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học hết năm thứ ba, hy vọng thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến, các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tìm tài liệu tự nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng…
Mùa Đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn, quết như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi. Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu rất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên”.
Mẹ ông đi chợ gặp lúc phi cơ Pháp bay từng đoàn bắn phá và giội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc… mọi người bỏ chạy. Chiều sẫm, ông ra chợ đón mẹ.
“… Tôi hỏi: “Sao mẹ về muộn quá thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên”. Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là một chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba…
Tối hôm đó khi đi ngủ, thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bít tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi “thoát ly” ra ngoài”.
Như vậy, gia đình ông tản cư và ông theo kháng chiến trong khoảng 5 năm (1946-1951) mới thoát ly về Hà Nội dạy học.
Thời gian kháng chiến (cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác) ông là “cán bộ thông tin” nên sau đó am tường chính sách mị dân, lừa bịp của họ… trước thực tế phũ phàng nên từ bỏ chiến khu, trở về Hà Nội. Đó cũng là chất liệu để ông viết tác phẩm Khu Rừng Lau (4 quyển).
Tập I, tác phẩm Ba Sinh Hương Lửa (1962), những dòng đầu (Khai Từ) với các nhân vật chính: Khiết và Khóa (sinh năm 1913), Lãng (1918), Hãng (1921), Hiển (1922), Tân (1923), Kha (1924), Miên (19260… cũng là thế hệ của tác giả vào đầu thế kỷ XX. Và, vào thời đó tuổi thơ đã chứng kiến giai đoạn bi thảm của lịch sử: Ngày 17/6/1930, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học (28 tuổi) cùng 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị Pháp đưa lên Yên Bái để thi hành án tử hình. Ký giả Pháp Louis Roubaud được chứng kiến cuộc hành quyết các nhà cách mạng Việt Nam đã viết: “Tôi phải dở nón nghiêng mình kính phục tinh thần ái quốc, lòng dũng cảm vô bờ bến của những người Việt Nam yêu nước…” (Vietnam, Tragédie Indochinoise).
“Căn cứ vào thứ bậc tuổi tác trên chúng ta thấy Khiết, Khóa và Lãng ở vào cùng thế hệ, tạm mệnh danh là thế hệ Nguyễn Thái Học vì họ có trực tiếp tham gia hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng phong trào phục quốc của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Còn năm người kia: Hãng, Hiển, Tân, Kha, Miên thuộc thế hệ sau, trưởng thành trong cuộc khói lửa toàn dân kháng pháp 1946- 1954…”
Tác giả lấy tựa đề trong điển tích “ba sinh hương lửa” trong thi phẩm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:
“Dạy rằng hương lửa ba sinh. Dây loan xin nối cầm lành cho ai”.
Ba Sinh Hương Lửa gồm 3 phần 16 chương.
Phần I: Câu Chuyện Khởi Đầu với 5 chương: Thời Thơ ấu, Cách Nhau Ngàn Vạn Dặm, Anh Trưởng Vỏ, Phẩm Tiên Rơi Đến Tay Hèn, Bên Giường Mẹ.
Phần II: Màu Tím Hoa Lau với 5 chương: Nàng Tiên Dưới Ánh Trăng, Độc Hành, Viên Cố Vấn Thủ Thuật, Mầm Sen Trong Hỏa Ngục.
Phần III: Giã Từ với 7 chương: Người Anh Trở Về, Ý Thức Về Nốt Nhạc, Phong Trào Tam Phản Khóa Bảy, Đôi Bạn Nhỏ, Một Tấn Bi Hài, Dòng Suối Tìm Đường, Hai Lần Sang Sông.
Khi tác phẩm nầy vừa ấn hành, Tràng Thiên (nhà văn Võ Phiến) trong mục Điểm Sách trên tạp chí Bách Khoa số 159 (15/10/1962) ghi nhận (trang 71-73):
“… Nhà văn Doãn Quốc Sỹ dường như có ý định xây dựng cả một hệ thống tiểu thuyết xung quanh Khu Rừng Lau của ông. Ba Sinh Hương Lửa là quyển truyện thứ nhất. Tác giả kể ra ở Khai Từ tên tám nhân vật chính, nhưng tổng số các nhân vật trong truyện có lẽ cũng đến ngót 80. Chừng ấy người cùng trải qua ba thời kỳ đau khổ: thời Pháp thuộc, thời Nhật thuộc, thời Việt Minh thuộc. Chịu hết những sóng gió bể dâu của cà ba giai đoạn lịch sử, đó là trải qua “ba sinh”! Cuối truyện ta thấy ba người thanh niên (hai trai: Kha, Hiến, và một gái: Miên) cũng đua nhau về thành. Nhưng trên đầu họ đạn còn réo, xung quanh họ chiến cuộc còn tiếp diễn, việc đời còn ngổn ngang, bao nhiêu kẻ còn chìm nổi trong loạn ly.
Ba Sinh Hương Lửa là cuốn truyện diễn lại một thời đau khổ của dân tộc, nhưng người đọc không cảm thấy bi đát. Trái lại, truyện để lại một cảm tưởng êm đẹp, gây tin tưởng ở cuộc đời. Sự thực chắc chắn không mấy khi độc giả gặp trong tác phẩm văn nghệ được nhiều tâm hồn đẹp đẽ như trong Ba Sinh Hương Lửa…
… Nhân vật của Doãn Quốc Sỹ đều thừa hưởng một của kho tình thương vô tận: tình thương. Tình thương tràn ngập khắp cùng: giữa cha và con, vợ chồng, anh em, chú cháu, bạn bè, giữa láng diền chòm xóm, giữa người quen kẻ thuộc, và giữa cả những người không hề quen nhau… Tình thương mênh mông áy làm cho tất cả các nhân vật đứng về một phía. Phía bên kia là chế độ của hiềm thù. Và tất cả các nhân vật của Ba Sinh Hương Lửa chống lại chế độ của một điềm xung khắc giữa thương và thù đó…
… Cả cái xã hội gồm đa phần là thanh niên nam nữ có học thức, có tài, có gan dạ, đẹp và rất thơ mộng của ông Doãn, họ sẵn sàng chịu mọi điều cay đắng cam go trong chiến đấu, nhưng khi họ nhận ra rằng trong thế giới của họ tình thương đang bị hủy diệt; thế là họ cùng lắc đầu, từ chối, kéo nhau đi…
… Phần đông trong số thuộc thế hệ Doãn Quốc Sỹ, những người đã trải qua “ba sinh” của đất nước, có kẻ cay đắng chua chát, có kẻ hằn học thù hận, có kẻ hoàn toàn chán chường, có kẻ hoang mang rắc rối, không chút tin tưởng…”.
Với tập I Ba Sinh Hương Lửa (trong 3 tập sau mới ghi thêm Khu Rừng Lau) mà lúc đó, nhà văn Võ Phiến khi đọc viết “Doãn Quốc Sỹ dường như có ý định xây dựng cả một hệ thống tiểu thuyết xung quanh Khu Rừng Lau” vì khi tham gia trong vùng kháng chiến đã là chứng nhân sự thật phũ phàng nên trong chương cuối Hai Lần Sang Sông, Hiển, Kha và Miên đoạn tuyệt với vùng Cộng Sản về vùng Quốc Gia với dòng kết: “Dù cánh đồng này – Miên nghĩ thầm – có biến thành cả khu rừng lau khô xác đi nữa thì giờ đây, trên đường đời, có những ba bóng người!
Bớt cô quạnh!”
Khi tham gia kháng chiến của Việt Minh, Miên là nữ y tá giỏi, nhưng bị hạ công tác để cho đảng viên thay thế. Miên bị giao cho việc rình mò theo dõi bạn đồng nghiệp để báo cáo, nên cô cảm thấy hụt hẫng, e chề, chán chường. Với Tài, con trai cha mẹ nuôi của Miên, coi như anh ruột, nhưng khi Tài thành đảng viên, không còn tình cha mẹ, anh em mà người máy của đảng. Với những sự kiện xảy ra trước mắt, Miên đã thức tỉnh. Rồi đến Hiển, Kha, Hãng… ngán ngẫm khi chứng kiến những điều bất nhân, không còn tình người… Vì vậy họ không thể chấp nhận thực tế phũ phàng, chua xót đó để ở lại. (Trong quyển Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Kha và Hiền gặp Tân mới biết Tân đã về thành từ mùa hạ năm 1951 trước họ 6 tháng).
Đó chỉ là giai đoạn đầu trong thời kỳ kháng chiến nên theo dòng lịch sử, người đọc cũng nghĩ rằng nhà văn Doãn Quốc Sỹ không dừng lại ở đó mà tiếp nối cuộc hành trình tiếp theo.
Tập II, tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964) gồm 18 chương: Tiếng Hát Tự Lòng Đất Khu Rừng Già, Chiếc Nhẫn Saphir, Về Làng, Ông Chủ Báo, Cô Gái Bên Sông Tần Hoài, Những Cụm Hoa Vàng, Tiếng Hát Tự Lòng Đất, Trên Bờ Vực Lịch Sử, Ngọn Đèn Lương Tri, Thần Tượng, Một Sự Chuyển Hướng, Vật Đổi Sao Dời, Cướp Đoạt, Xiếc Hữu Mai Hề, Tiếng Vọng Mùa Xuân, Người ở Lại, Bến Đò Rừng, Chiếc Bè Nữ Chúa.
Cũng nên nhắc ở đây, Quốc Gia Việt Nam (État du Việt Nam) lúc mới thành lập ngày 7/12/1947, nhưng chính thức thừa nhận giữa Quốc Trưởng (cựu hoàng Bảo Đại) và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ký Hiệp Định Élysée 8 tháng 3 năm 1949 trong khối Liên Hiệp Pháp. Chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm Quốc Kỳ. Hà Nội được Pháp chuyển giao cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam, dược sĩ Thẩm Hoàng Tín làm thị trưởng thành phố.
Mở đầu tác phẩm “Hình ảnh lá cờ vàng ba gạch đỏ phe phẩy thanh bình vẫy gió còn mãi mãi về sau này in hằn trong tâm tưởng Miên một ấn tượng của thịnh vượng và của tình người…”
“Bốn giờ chiều, Luận đến sớm ngỏ ý đón Hiển, Kha, Miên để đưa đi một vòng qua các phố tỉnh lỵ gọi là ‘xem tình hình quốc gia’.
… Luận đưa ba người ra bến xe, chính chàng mua ba vé hạng trên. Luận căn dặn thêm một lần nữa khi ba người về đến Gia Lâm nhớ phải vào Ty Công An trình diện mà xin cấp giấy thông hành tạm thời”… Dĩ nhiên khi trở về thành, không dễ dàng chấp nhận, Công An phải điều tra để tìm hiểu nguyên do cặn kẽ. Nhưng mọi việc được an bày trong cách đối xử đầy cảm thông và tình người.
Rồi tháng năm ở Hà Nội, Hãng đi du học ở Pháp, chia tay các bạn bè bao năm ở bên nhau. Cuộc sống mới của Khiết, Khóa, Lãng, Hiển, Tân, Miên… được tác giả đề cập khá chi tiết… Nhất là Kha, chàng trai với tâm hồn lãng mạn lẫn bi thương…
Khi Hiệp Định Genève ký kết, đất nước phân chia rồi đến khi di tản vào Nam. Mối tình cuối giữa Kha và Vân (tuy đã có con) “Kha đã gặp Vân, Kha sắp được Vân, Kha đang say mê Vân, điên cuồng”… nhưng đến giờ phút cuối đành chia tay.
“Kha vào Nam cũng bằng đường thủy. Chàng đến khu lều Thăng Long của Đoàn Sinh Viên Di Cư Hà Nội – khu lều này được dựng trên nền khám lớn cũ và sau đây là nơi xây cất Đại Học Văn Khoa”. Đó cũng là hình ảnh của tác giả cùng bạn bè khi vào Nam.
Đoạn kết tác phẩm với những lá thư của Vân, người ở lại:
“Hiệp định Genève ký, đoàn thể giữ khéo con em lại và cử em về Hà Nội để thuyết phục những người thân…”
Lá thư cuối tác phẩm, Vân viết: “Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến của anh đã chấm dứt hàng chữ cuối cùng của lá thư cuối cùng này ở đây.
Hôn anh một cái hôn làm nổ vỡ tinh cầu nhưng tình chúng ta thì chói rạng mãi mãi.
Vĩnh biệt anh,
Em”.
Trước khi chuẩn bị vào Nam. Kha viết thư cho Miên:
“Cô Miên,
Chẳng còn bao nhiêu ngày nữa đến lượt Hà Nội bị tiếp thu. Chuyến này tôi về thăm làng lần cuối rồi xuống Hải Phòng đợi cô cùng vào Nam. Nhìn cảnh Hà Nội hoang vắng tôi lại nghĩ đến cô từng ao ước được thăm khu rừng lau trên núi sáng, Bỉnh Di…
Tôi vẫn nghĩ rằng mọi người chúng ta ai cũng mang trong lòng một khu rừng lau. Có kẻ chẳng bao giờ đạt tới, có kẻ đạt tới rồi hủy hoại chính khu rừng đó như chuyện con chó ngu xuẩn thả mồi bắt bóng…”.
Rồi khi Miên gặp được Kha “ghì chặt lấy chàng, giọng nàng thanh như tiếng chim nhưng thảng thốt nghẹn ngào như một linh hồn biết khóc:
– Khu rừng lau của em! Khu rừng lau của em!”
Với bộ ba Hiển, Miên (em gái của Hiển) và Kha đã một thời gắn bó với nhau. Miên có tình cảm với Kha nên bán món nữ trang độc nhất là chiếc nhẫn saphir (chương 3) để lấy tiền giúp Kha trong khi bị gam giữ và khi Kha được thả ra, ba người ở chung với nhau, tiền kiếm tiêu chung. Khi Miên biết Kha yêu Vân nên Miên với tâm hồn cao thượng để nhường tình yêu nầy nhưng định mệnh giữa Kha và Vân thật oan nghiệt!
Đến tác phẩm thứ hai, độc giả mới hiểu tựa đề trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau.
Tập III, tác phẩm Tình Yêu Thánh Hóa – Vỡ Bờ (1965), gồm 4 phần. Phần I Bối Cảnh với các chương: Thành Đôi, Một Chuyến Buôn Văn Hóa, Một Cuộc Gặp Gỡ, Người Em Ra Bắc, Câu Chuyện Điện Biên Phủ. Phần II Vỡ Bờ với các chương: Lê, Con Đê, Mụ Cát Thành, Một Ký ức Thô Bỉ. Phần III Quỳnh Hương với các chương: Bên Lề Hội Nghị, Bà Cụ Hồng Kông, Tài Mệnh Tương Đố, Ông Cai, Mối Tình Linh Lan, Cô Em Cũ, Chuyện Dĩ Vãng, Nỗi Lòng Tô Thị. Phần IV Chặt Thuyền Dĩ Vãng với các chương: Tiếng Hát Đối Diện Với Sao Bắc Đẩu, Hoàng Tử Của Hằng Nga, Những Triều Nước Mặn, Tình Thương Trong Mưa, Tiếng Hát Lạ Trên Kinh Thành Vienne, Tiếng Hát Hồi Hương.
Khởi đầu với cuộc di cư vào Nam. Vân ở lại Hà Nội. Kha và Miên được gặp nhau và làm lễ thành hôn trong khu định cư làng Thăng Long. Tác giả ghi lại hình ảnh với lịch sử Quảng Nam (quê hương tôi nên tôi rất tâm đắc). Với Miên “Giờ đây nàng sống trong tay người yêu, ngợp trong hạnh phúc, nàng cũng thấy là nàng đương du hồn vào khu rừng lau. Nàng nhắm mắt lại như để chạy trốn ánh sao bên ngoài khi nãy. Khu rừng lau trong tâm tưởng nàng lúc đó là bà tiên khoác tấm khăn choàng tím ngát” (trang 35).
Trong Câu Chuyện Điện Biên Phủ đề cập đến tháng ngày năm xưa khi Kha, Miên… đã về thành. Hiển còn ở lại “đi theo Vìệt Minh đánh Pháp, giờ đây Vìệt Minh thắng, mình lén trốn khỏi vùng họ, sang được vùng quốc gia thấy những người lính Pháp đầu đội mũ sắt có hai chữ P.M. (Prévoté Militaire) thì mừng. Không bao giờ ưa thực dân nhưng thấy rằng cộng sản còn ghê tởm và nguy hiểm hơn nhiều, đã đến lúc phải thay đổi chiến tuyến! Đến Hải Phòng anh bạn khai thẳng với Công An quốc gia mình là sĩ quan Việt Minh trốn sang, xin cho điều tra ngay và cấp thẻ căn cước để sống bình thường như dân. Một tháng sau anh xuống tàu cùng gia đình di cư” (trang 85).
Tân, chỉ xuất hiện thoáng qua trong Ba Sinh Hương Lửa, ở tác phẩm nầy đề cập nhiều về Tân và người yêu là Lê. Tân cũng đa tình và đào hoa như Kha, đã từng ân ái với Thoa (em gái của Lãng)… Với Kha, tuy đã có Miên nhưng vẫn đa tình. Từ khi gặp ca sĩ Quỳnh Hương ở phòng trà Ly Ly, Quỳnh Hương là em gái nuôi của Hãng và bạn thân của Vân và của Thi thời học sinh ở Hà Nội nhưng những giây phút gặp gỡ nhau giữa Kha và Quỳnh Hương như “đôi tình nhân”.
Cũng như trong Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Quỳnh Hương đi sang Tây Đức đóng phim và lập gia đình với đạo diễn Karl, đạo diễn. Với những là thư từ Vienne, Tây Bá Linh gởi về cho Kha “Đặc biệt trên hai chữ “Chào anh” của bức thư này Quỳnh Hương có viết hai chữ gì mà nàng rập xóa đi mất. Tò mò Kha đem lá thư ra cửa sổ soi lên ánh sáng. Chàng bỗng thở dài cúi đầu. Đó là hai chữ “Hôn anh”” (trang 378).
“Đi vào dĩ vãng, trong khoảnh khắc nhớ lại buổi gặp Kha lần đầu cùng Hãng ở phòng trà Ly Ly, nhớ lúc Kha ôm mình nhảy bản slow khuya và cúi xuống hôn nhẹ lên môi… Trời ơi, Quỳnh Hương bỗng thèm Kha điên cuồng. Ngày nào cùng Kha đi Thủ Dầu Một về cùng ăn cơm trong căn phòng ấm cúng của nhà hàng Cheong-Nam, rồi khi từ biệt trên vỉa hè Tự Do nàng đã có ý tưởng ngộ nghĩnh sẽ hôn Kha trước vì chỉ hôn trước một người như Kha mới không sợ bị rẻ rúng” (trang 381).
Là nhà mô phạm nhưng trong tác nầy nhà văn viết về cuộc sống ở Sài Gòn với phòng trà ca nhạc, vũ trường, nhảy đầm rất sành điệu và còn chửi thề (Đ.M) trong vài mẩu đối thoại vì vậy rất thoáng, sinh động, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Ông thích làm thơ, chơi dương cầm nên trong tác phẩm của ông được dẫn chứng những dòng thơ, vài ca khúc… khi đọc cảm thấy thú vị.
Tập 4: Những Ngả Sông (Đàm Thoại – Độc Thoại) 1966, gồm 7 chương: Mối Tình Thiên Thu, Người Lính Nhảy Dù, Người Phá Cầu, Tập Sơ Khảo Của Kha, Mây Trắng Nước Xanh Người Tù, Mây Trắng Nước Xanh Thần Tượng Trong Đêm, Dư Dục Vô Ngôn.
Trong tác phẩm nầy với những nhân vật chính từ Ba Sinh Hương Lửa trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam Việt Nam. Khóa, Kha, Miên, Tân, Hiển, Luận… trong gia đình Văn Hóa. Khóa bị giam ở lao tù Đà Lạt trong 11 tháng. Tân, Hiển, Phiệt phục vụ trong quân đội VNCH. Tác giả mô tả đến các trận chiến giữa thập niên 50 & 60 như phóng viên chiến trường với từng chi tiết. Với những trang nhật ký của Tân (Trung Úy Y Sĩ) trong binh chủng Nhảy Dù, sau nầy đọc hồi ký Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu, cảm phục tài tình của tác giả Những Ngả Sông. Với quần đảo Hồng Sa, nghe rất xa lạ, tác giả đã dành vài chục trang để nói về lịch sử và người dân nơi nầy.
Với hai cuộc binh biến năm 1960 & 1963, tác giả ghi nhận tất cả sự kiện xảy ra… Kha và Khiết cũng không may bị vào chốn lao tù. Trong khi đó “Tân, Hiển ngoài tiền tuyến chẳng thể được tâm hồn tương đối thanh thản như Khiết, Kha những ngày sống khuất mặt trong khám lớn” (trang 154). Rồi “Phiệt bị đạn ở chân tại chiến dịch cao nguyên được đưa về bệnh viện Cộng Hòa… Tân hỏi Phiệt có muốn giải ngũ để chàng xin cho và Phiệt sẽ về bên Vĩnh Hội ở với tiểu gia đình của Tân. “Người lính nhảy dù” đó đã say mê gia nhập đời sống quân ngũ làm sao dứt bỏ các bạn đồng ngũ sao đành, Phiệt xin ở lại phục vụ bên ngành quân nhu, ban chung sự” (trang 155).
Với Hiển “trong những lúc xông pha nơi tiền tuyến… chàng hoàn toàn như người đi trong sa mạc. “Miên ơi – chàng muốn kêu lên như thế – trong giai đoạn nầy đừng nghĩ đến rừng mía, ngay như được gặp khu rừng lau để có chút bóng mát cũng là quý rồi. Anh cô đơn đi giữa sa mạc, cô có biết không?”.
Tác phẩm Ngã Ba Sông ngắn hơn 3 tác phẩm trước, đề cập đến cuộc chiến và nên chính trị ở miền Nam Việt Nam rối răm trong thời chinh chiến. Với tác phẩm Ngã Ba Sông, cũng có người khen, người chê vì “thiên kiến chính trị” nhưng với nhà văn, sự khách quan và thực trạng xã hội không thể sai lạc. Với những dòng đề cao tinh thần, trách nhiệm về người lính với nhà văn không khác áo chinh y cũng nói lên tấm lòng của tác giả.
Nhà văn Võ Phiến trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan đã có đoạn viết về nhà văn Doãn Quốc Sỹ như sau:
“Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết kiên trì theo đuổi con đường văn hóa nhưng đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó âu cũng thành nghiệp chướng của mình nên khó bỏ lắm. Khu Rừng Lau phơi bày ra cái hiểm ác xủa chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn biểu lộ trong tác phẩm. Tuy nhiên ông Doãn cũng như Khiết trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”. Ông chê cái này chống cái nọ vì nó ác nó xấu. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ… Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục…”. Trong quyển sách nầy, theo nhà văn Võ Phiến, khuynh hướng luận đề có Doãn Quốc Sỹ (trang 266).
Trên tạp chí Bách Khoa số 192 (1/1/1965) trong mục Sống & Viết (trang 39-44) trong cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Ngu Í với nhà văn Doãn Quốc Sỹ (14/12/1964) sau khi tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến ấn hành. Sau nầy in trong quyển Sống & Viết (trang 124-147) có tấm hình ông bà và 7 người con (Ngọc Thanh 1952, Kim Khánh 54, Cẩm Liên 56, Quốc Thái 58, Quốc Vinh 61, Quốc Hưng 62, Quốc Hiền, chưa có Thanh Hương trong số 4 trai & 4 gái).
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1951. Từ chỗ kháng chiến ác liệt nhất, Liên Khu Việt Bắc. Kháng chiến, tôi kháng chiến hết mình, tôi từng là một “anh hùng lao động” của cơ quan tôi. Nhưng đến khi giã từ “Thiên đường Đỏ” thì cũng giã từ quyết liệt, dứt khoát…
… Bất cứ ai đã qua cơn ác mộng với Cộng Sản, đã hiểu rõ bộ mặt thật của chúng, đều có thái độ dứt khoát, vừa đơn giản vừa cương quyết như vậy…”.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một trong những nhà văn được nhiều người viết trong sáu thập niên từ trong nước và hải ngoại, ngoài giá trị văn chương qua những tác phẩm của ông, với tâm hồn nhân bản, đôn hậu, nhân cách sống của ông trong lao tù và ngoài xã hội, được kính nễ. Ngay cả những người con của ông khi viết về người bố cũng là hình ảnh tiêu biểu của bậc cha mẹ (thế hệ chúng tôi) để noi gương.
Nhà văn Nhật Tiến viết: “Sau năm 1975, chúng tôi đến thăm anh ở căn nhà trong khu ngõ đường Thành Thái. Lần cuối cùng chúng tôi thăm anh vào thời gian trước khi anh bị bắt một tuần lễ. Và thời điểm đó, tin tức lọt ra về danh sách những nhà văn sắp sửa bị bắt đã loan truyền rộng rãi trong giới văn nghệ. Trong danh sách này có tên anh Doãn Quốc Sỹ. Vì thế, chúng tôi đến thăm anh với tất cả mọi sự bồn chồn lo lắng và ngao ngán, cái ngao ngán chung của những người cùng một giới đang bị bao phủ bởi một bầu không khí nghiêm trọng nặng nề.
Tuy nhiên, lúc gặp anh, chúng tôi vẫn thấy anh điềm nhiên, vui vẻ. Vẫn dáng dấp điềm đạm, đôi mắt sáng, hiền từ, nụ cười thản nhiên, đôn hậu. Anh chuyện trò với chúng tôi một lát thì tiến lại cái dương cầm màu nâu nhỏ kê ở ngay ngoài phòng khách. Anh dạo cho chúng tôi nghe một bản nhạc cổ điển Tây phương. Qua những âm thanh thánh thót, tôi thấy cả tâm trạng bình thản của anh lúc đó. Lúc chia tay, chúng tôi không nói được gì nhiều với nhau. Chẳng ai muốn nói gì nhiều với nhau lúc đó. Chúng tôi chỉ nắm chặt lấy bàn tay nhau và truyền cho nhau những ý nghĩ an ủi, cảm thông.
Một tuần sau, chúng tôi được tin anh bị bắt… Một người như anh, một người cha gương mẫu trong gia đình, một nhà giáo đầy tài năng và tận tụy, một nhà văn chừng mực chỉ viết ra những điều làm đẹp con người, làm đẹp xã hội, và một con người đầy nhân cách, giàu lòng vị tha, tôi tự hỏi một con người như thế lại bị gạt ra ngoài xã hội và phải chịu nằm tù ròng rã trong bao nhiêu năm trời, thì chế độ Cộng Sản là cái thứ gì?”
Doãn Quốc Hưng viết về bố:
“Những bài học đạo đức, nhân bản, thiền học… mà chúng tôi nhận được từ bố một cách “có hệ thống” chỉ bắt đầu từ sau khi bố tôi đi cải tạo lần một về vào năm 1980. Đó là các buổi nói chuyện của bố tôi với bọn tôi và một nhóm bạn bè, bọn tôi gọi đó là “đại học bỏ túi”. Đó cũng là cột mốc của một “gia đình” thứ ba của bố tôi. Trong gia đình đó, chúng tôi mới thực sự được nghe bố tôi nói nhiều hơn về điều ông đã viết trong tác phẩm, đã làm trong cuộc sống…
… Nhắc tới chống đối, có một thứ mà rất nhiều người khuyên rằng chúng tôi “phải noi gương bố”, đó là “tinh thần bất khuất trước quyền lực”, hoặc “một trong những biểu tượng của tinh thần chống cộng của Miền Nam Tự Do”. Các nhà “phê bình văn học” của Việt Cộng đã tấn phong cho bố tôi là đầu xỏ của “những tên biệt kích cầm bút”, mô tả ông như một “kẻ căm thù cộng sản đến tận xương tuỷ”. Tôi cũng đã được nghe kể lại nhiều lần từ bạn bè trong tù của bố về giai thoại về một ông DQS “hiên ngang đối khác với cán bộ CS trong trại giam”, những câu tuyên bố mang tính “hào hùng, nghĩa khí” của ông trước “kẻ thù”. Thực hư ra sao cũng chẳng rõ, chỉ có điều chắc chắn là chưa bao giờ tôi được nghe chính bố tôi kể lại những giai thoại ấy…
… Trở lại với cái ngày xét xử bố tôi vào năm 1988 cùng với các cô chú văn nghệ sỹ khác: Hoàng Hải Thuỷ, Duy Trác, Lý Thuỵ Ý,… phiên toà “DQS và đồng bọn, với tội danh tuyên truyền phản cách mạng, chống phá nhà nước XHCN”. Đó là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một phiên toà chuyên chính vô sản của nhà nước Việt Nam…
… Bố tôi căm thù cái phi nhân của một chủ nghĩa, sự ngu dốt và độc đoán của một tầng lớp lãnh đạo. Bố tôi không nhắm vào những cá nhân thừa hành bên dưới, vì họ cũng chỉ là nạn nhân của sự bưng bít, thiếu kiến thức, thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn. Điều đó thể hiện trong nếp sống thường ngày…
… Bố tôi là một ông giáo hiền lành, một con người nhân hậu vì bản chất của ông là như vậy. Nhưng sức mạnh của ông bắt nguồn từ chữ Tâm. Khi cái Tâm đã toả sáng vì nó đã biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu, nó bắt đầu thoát ra khỏi sự sợ hãi. Đó là điều kiện kiên quyết để có một cái Tâm tự do. Sức mạnh tâm linh của một cá nhân sẽ nhờ sự tự do mà tự toả sáng, không cần ngôn từ, không cần chứng tỏ. Bố tôi đã dạy cho tất cả chúng tôi ngồi thiền để tốt cho sức khoẻ, để luyện tâm thanh tịnh…
… Chú Nguyễn Đình Toàn đã từng nói với bọn tôi rằng: “Trong giới văn nghệ sĩ, không ai phục ai về tài viết văn cả. Nhưng nhiều văn nghệ sĩ trong Nam quí mến bố cháu ở cái đời sống đạo đức của ông”. Đối với con cái cũng vậy. Chúng tôi được dạy dỗ bằng chính cách sống của bố, chứ không bằng những “phương pháp giáo dục”…
… Hồi bố tôi chuẩn bị xét xử lần thứ hai vào năm 1988, bạn bè khắp nơi trên thế giới đã vận động mạnh mẽ đến nỗi chính quyền Việt Nam phải hoãn xét xử vào giờ cuối để tìm cách giảm nhẹ tình hình. Để tránh mất mặt khi phải đổi giọng, đảng và nhà nước đã phải cử ông chú tôi làm trung gian vào tù thương lượng, đề nghị bố tôi nhượng bộ bằng cách tỏ vẻ “ăn năn” để được “khoan hồng”. Tất nhiên là cuộc thương lượng đó bất thành, họ đánh giá bố tôi quá thấp! Điều đáng kể ở đây là thái độ của bố tôi trước biến cố này. Lọt vào tay “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, đây ắt hẳn sẽ trở thành một câu chuyện li kì về “tấm gương đấu tranh bất khuất, một cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai anh em hai chiến tuyến…”. Lần duy nhất bố tôi nói về nó là do sau này tôi hỏi và bắt bố tôi kể lại. “Có gì đâu, chú đề nghị bố xin lỗi. Giống như sau khi mình tát ai một cái thì mình cũng phải tỏ vẻ ân hận một chút. Nhưng đời nào bố lại làm vậy…”…
Hình ảnh Doãn Quốc Sỹ được bắt gặp qua hai câu nói Pascal cũng đã khẳng định: “Con người là một cây sậy nhưng là cây sậy có tư tưởng’” (Triết gia Blaise Pascal) và “Sức mạnh của con người không nằm ở thể chất mà đến từ ý chí bất khuất’” Thánh Gandhi).
Với nhiều bài viết, chỉ trích phần Tạp Ghi Văn Nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh liên quan đến tác phẩm Khu Rừng Lau: “Ở Doãn Quốc Sỹ, ông viết Khu Rừng Lau như một cách lý giải sự thất bại của những người quốc gia trong thời cuộc hiện đại. Họ là những người đã bị những tay sai quốc tế Cộng Sản đệ tam lường gạt trong công cuộc giành độc lập cho đất nước…
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã muốn cho đời sau một chứng liệu về một biến cố không những riêng của đất nước Việt Nam mà còn cả chung của thế giới nữa…
Những tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ dường như có chung một mẫu số mà văn chương dùng để tải đạo và làm cuộc sống con người tươi đẹp hơn. Có rất nhiều nhận xét về ông, như là một nhà văn có chân tài, một nhà giáo tận tụy, một kẻ sĩ khí tiết…”.
Kim Khánh viết về người bố, khi nhắc đến tác phẩm Khu Rừng Lau: “Nhân vật chính là Miên và các nhân vật khác đã có cuộc sống đi qua suốt chiều dài lịch sử từ thế hệ mà tác giả mệnh danh là thế hệ Nguyễn Thái Học cho đến thế hệ trưởng thành trong cuộc chiến toàn quốc kháng chiến. Có những người như Khóa, Lãng, Khiết trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng của những đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng hoặc Đại Việt. Còn các nhân vật thế hệ sau như Hãng, Hiển, Tân, Kha, Miên,… thì mới đầu tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó nhìn thấy bộ mặt thực của đảng Cộng Sản Việt Nam nên trở về thành và sau đó di cư vào Nam…
Hình như, họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến, thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công”.
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác trong bài viết Doãn Quốc Sỹ, Người Anh Khả Kính: “Nhiều người trong giới cầm bút khen và cũng chê tính đôn hậu trong tiểu thuyết Doãn Quốc Sỹ. Họ lý luận rằng ông đôn hậu quá nên nhân vật tiểu thuyết của ông đẹp nhưng có vẻ không thực, ông không lột hết được bản chất phức tạp của cuộc đời, bản chất hàm hồ của con người, bản chất tàn nhẫn phi lý của lịch sử. Khi xây dựng nhân vật, Doãn Quốc Sỹ thường không lưu tâm moi móc những ngóc ngách xấu xa của họ. Trái lại, ông lưu tâm tô điểm những nét đẹp của họ. Những Kha, những Miên, những Hãn, những Khiết của Khu Rừng Lau…”.
Với tác phẩm Khu Rừng Lau, năm 2020 nhà văn Doãn Quốc Sỹ chia sẻ: “Có nhiều khi đọc lại Khu Rừng Lau, tôi cũng không hiểu tại sao mình có thể hoàn tất được bộ tiểu thuyết ngàn trang này. Tôi nhớ là vào thời đó, có khi tôi ngồi viết như người lên đồng, viết giống như có ông bà tổ tiên nhập vào vậy.
Tôi nghĩ rằng tôi chỉ được trời cho năng khiếu sử dụng ngòi bút của mình. Còn lại, tôi viết như theo lời nhắn nhủ siêu hình của tổ tiên, viết theo hồn thiên dân tộc để phục vụ tổ quốc”. (Việt Báo)
Trước năm 1975, vài ý kiến cho rằng nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên chọn những tác phẩm tiêu biểu, trong đó có trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau dịch ra Anh, Pháp ngữ để tham dự giải Nobel Văn Chương. Trong bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam của tôi đã đề cập đến các tác giả Tây Phương đã được Nobel Văn Chương được các nhà văn, dịch giả đã dịch sang tiếng Việt rất nhiều. Có tác giả với vài tác phẩm tiêu biểu, có tác giả với toàn bộ tác phẩm như Alexander Solzhenitsyn (Nobel Văn Chương 1970)… Hầu hết toàn bộ tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ đều bối cảnh trong nước, ngoại trừ tác phẩm Sâu Mây khi ông du học ở Mỹ. Đây là tập du ký, và theo Thanh Tâm Tuyền; “Đây không phải là tác phẩm chủ yếu, nhưng là cái viết tự do và bay bổng nhất của Doãn Quốc Sỹ. Cũng là cuốn sách nhỏ nhưng óng chuốt và đáng yêu hơn cả của ông giáo…’.
Với tác phẩm Khu Rừng Lau với bối cảnh và thời gian trong giai đoạn thăng trầm lịch sử của đất nước được ghi lại từ bản thân của tác giả, là chứng nhân của thời cuộc.
Đọc tác phẩm Khu Rừng Lau liên tưởng đến hai câu thơ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều vào thế kỷ XVIII:
“Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”
Theo nhà văn Võ Phiến: “Doãn Quốc Sỹ soạn sách về ngữ pháp, về văn học Việt Nam hiện đại (bằng Anh văn” (sđd tráng 66) nhưng rất tiếc tác phẩm Khu Rừng Lau không dịch ra tiếng Anh (chỉ có truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn – The Stranded Fish – mới dịch).
*
Nếu cho rằng sách là người thầy trầm lặng và người bạn tốt – với tôi – ngay từ lúc trẻ đã ảnh hưởng đến bản thân. Những quyển sách Học Làm Người của nhà văn, dịch giả Nguyễn Hiến Lê và nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua vài tác phẩm.
Nhân đây, một chút riêng tư, với tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến. Năm 1963, trong sinh hoạt gia đình Phật Tử, tôi “quen thân” người bạn gái (học dưới hai lớp) nơi cố hương. Hè năm 1963, để tránh bắt bớ, nàng “thoát ly vào bưng”… Trước đó khoảng một tháng, thầy tôi (đảm nhiệm khuôn hội Phật Giáo Phước Ấm) qua đời vì đầu óc quá căng thẳng, uống quá liều lượng thuốc Tây, gây biến chứng, không chữa trị kịp… Trong số 6 người “thoát ly vào bưng”, có 5 người học cùng lớp. Nếu lúc đó, nhận được thư nàng, tôi không biết có quyết định liều lĩnh của tuổi trẻ bồng bột, nông cạn ra sao? Các bạn tôi giấu kỹ vì anh tôi trong ngành Cảnh Sát.
Cuối năm 1966 tôi theo học Khóa Nguyễn Trãi I tại Trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Giai đoạn đầu quân trường gửi học 4 tháng quân sự tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Đầu năm 1967, khi ở quân trường Thủ Đức, đi phép về Sài Gòn khi thấy quyển NĐBKVT tôi rất thích, mua ngay nhưng không đọc vì để nhớ hình ảnh người bạn gái “bên kia chiến tuyến”. Tiếp tục quân trường ở Đà Lạt gần 2 năm, trong chiến dịch Diên Hồng về quận Quế Sơn, Quảng Nam, tôi vẫn mang theo sách và hình dung người bạn gái vào bưng chốn nầy… Rất tiếc, sách bị chôm! Sau nầy lập gia đình với người Hà Nội, bạn bè hỏi thăm nơi chốn, tôi nói đùa “người đàn bà bên kia vĩ tuyến”…
Sau tháng 4/1975, nàng có gia đình, về Đà Nẵng, theo lời mẹ và anh, nàng ghé lại tìm tôi nhưng gia đình không hay biết vì tôi ở Đà Lạt, mất tích hay đi tù nên không rõ. Nàng cho biết trước khi đi, có viết lá thư gởi cô em gái nhờ chuyển cho tôi nhưng cô em sợ bị liên lụy nên đốt lá thư!… Nàng ra mộ thầy tôi thắp nhang cầu nguyện.
Năm 1987, sau khi ra tù, tôi về thăm quê, có gặp nàng… Trong số 6 người đã chết hai cậu cháu người bạn tập kết là Văn Đức Hội và Kim Chi. Tôi gặp Huỳnh Tú Mỹ kể lại chuyện xưa về hình bóng cũ, nỗi buồn vây quanh. Chị tôi biết chuyện, khuyên không nên liên lạc nhau vì mỗi người “số phận” đã an bày. Và, từ đó hình ảnh người xưa mãi mãi là “bên kia chiến tuyến”!. Tôi cũng may mắn được hưởng chút “đào hoa chiếu mệnh” nhưng “cái thuở ban đầu” trong trắng vẫn lững lờ như áng mây giữa trời xanh bao la.
Hầu hết các tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ tôi đã đọc qua vì văn phong và cách diễn đạt của ông cũng là vị thầy trong cuộc đời cầm bút. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết: “Suốt hai mươi năm trên nửa phần đất tự do của quê hương, ông đã say mê hai công việc đó. Học trò ông, độc giả của ông đã yêu mến kính phục ông qua hình ảnh một ông thầy yêu nghề, một nhà văn mực thước và nhân ái”.
Với những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Sợ Lửa (1956), U Hoài , Gánh Xiếc, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Định Mệnh, Hồ Thuỳ Dương, Trái Cây Đau Khổ, Người Việt Đáng Yêu, Cánh Tay Nối Dài, Đồi Biên Giới, Sầu Mây, Vào Thiền, trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau, Trên Dòng Đời, Người Vái Tứ Phương, Dấu Chân Cát Xóa, Mình Lại Soi Mình, Cúi Đầu, Trái Đắng Trường Sinh, Cò Đùm, Đi (Hồ Khanh)… đã đóng góp cho kho tàng văn chương Việt Nam.
Little Saigon, November 2022
Vương Trùng Dương
VHMN 54-75 (85): Doãn Quốc Sỹ, người anh khả kính
Nguyễn Mộng Giác
Trước mặt tôi là bản tin cho biết ngày 27 tháng tư năm 1988 vừa qua, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã đưa một số văn nghệ sĩ tên tuổi ra tòa án nhân dân xử tội và kết án tù những người này theo tội danh “liên lạc với nước ngoài, tuyên truyền phản động chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa”. Theo bản tin này, nhà văn Doãn Quốc Sỹ bị kết án 9 năm tù, nhà văn Hoàng Hải Thủy bị án 8 năm tù, ca sĩ Khuất Duy Trác 4 năm tù. Hai nhân viên bưu điện làm trung gian chuyển tác phẩm của các văn nghệ sĩ kể trên ra nước ngoài bị tội tòng phạm, mỗi người lãnh án 2 năm tù.
Đối với một độc giả bình thường ở một nước dân chủ, bản tin không làm cho ai ngạc nhiên. Những nhà thương điên, những trại lao động khổ sai, những vụ trục xuất, những ruồng xét khủng bố, những trường hợp như Solzenitsyn, Pastemak, Kundera… được báo chí sách vở trên thế giới nói nhiều, đến nỗi người ta chỉ ngạc nhiên nếu một người cầm bút dưới chế độ cộng sản tự xuất bản được một tập thơ ca tụng Tự Do, hoặc một tiểu thuyết gia phổ biến được một cuốn truyện ca tụng Con Người. Tù đày, khủng bố đã trở thành thuộc tính của chính sách văn nghệ dưới chế độ cộng sản, đến nỗi trở thành hiển nhiên, không còn ai ngạc nhiên nữa.
Tuy nhiên, bản tin trên làm cho tôi băn khoăn thật lâu, nhất là bản án dành cho một nhà văn đàn anh tôi hân hạnh quen biết và kính phục là Doãn Quốc Sỹ.
Trong các nhà văn lớp trước, tôi cho rằng Doãn Quốc Sỹ và Võ Hồng là hai cây bút có văn phong lãng mạn và một tâm hồn đôn hậu rất Việt Nam, cái chất Việt Nam nhân ái hiếu hòa, cần cù lương thiện, hớn hở vui mừng khi gặp người đồng điệu, mà cũng dứt khoát phẫn nộ nói ra thành lời khi gặp chuyện bất bằng, cái chất Việt Nam chưa bị những lý thuyết ngoại nhập làm cho thui chột để trở thành tàn nhẫn, độc địa, lai căng, lưu manh, lố bịch. Thế giới tiểu thuyết của Võ Hồng không có người đáng ghét, chỉ có đa số những người hiền, một thiểu số rất nhỏ còn lại là những kẻ đáng thương.
Thế giới tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ cũng vậy. Tuy là một trong những người sáng lập ra nhóm Sáng Tạo, ông như một người anh cả ngồi riêng một góc nhìn bạn bè cùng tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn lớn tiếng đòi tắt mặt trời, tát cạn biển, giương cao cờ; khói thuốc lá phun mù phòng khách, chai bia rỗng vất khắp nền nhà, để rồi khi tàn cuộc, bạn bè lăn quay ra ngủ, người anh cả lặng lẽ thu dọn những gạt tàn thuốc, những rác rưới lẫn lộn với quần áo bẩn, và đắp lên người họ những tấm chăn ấm.
Nhiều người trong giới cầm bút khen và cũng chê tính đôn hậu trong tiểu thuyết Doãn Quốc Sỹ. Họ lý luận rằng ông đôn hậu quá nên nhân vật tiểu thuyết của ông đẹp nhưng có vẻ không thực, ông không lột hết được bản chất phức tạp của cuộc đời, bản chất hàm hồ của con người, bản chất tàn nhẫn phi lý của lịch sử. Khi xây dựng nhân vật, Doãn Quốc Sỹ thường không lưu tâm moi móc những ngóc ngách xấu xa của họ. Trái lại, ông lưu tâm tô điểm những nét đẹp của họ. Những Kha, những Miên, những Hãn, những Khiết của Khu rừng lau, những Thiệu những Yến của Dòng sông định mệnh, tuy mang cái thao thức rất – lịch – sử, nhưng lối sống của họ, lối nói năng của họ phảng phất lối nói lối sống của những Dũng, những Loan, những Độ, những Hào của Đôi bạn, Đoạn tuyệt. Cùng một nhóm Sáng Tạo, những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ khác một trời một vực với Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, Tùy bút của Mai Thảo.
Không phải Doãn Quốc Sỹ, như một nhà nho cuối mùa, đã mất hết khả năng thích ứng và tiếp thu cái mới. Ông là người khao khát học hỏi, nhạy cảm trước sự đổi thay, và có điều kiện cũng như kiến thức tiếp xúc với cái mới hơn nhiều nhà văn đồng thời. Doãn Quốc Sỹ từng du học ở Hoa Kỳ một thời gian. Hồi hương, ông viết cuốn Sầu mây, nhân vật chính đã có mẫu mắt xanh, mái tóc vàng, mũi cao, da trắng. Nhưng nhân vật ấy mê ca dao Việt Nam, như Miên như Kha, lãng mạn đôn hậu như Yến. Qua đôi mắt quan sát của Doãn Quốc Sỹ, qua màng lọc tâm hồn ông, Con Người được viết hoa. Ông dành chỗ rộng trong tiểu thuyết cho những người trung thực đôn hậu. Ông yêu âm nhạc, ghét những tiếng ồn, và những nhân vật ông thân yêu nếu không mê ca dao thì cũng mê thích một loại nhạc khí cổ điển nào đó, hoặc vỹ cầm, hoặc dương cầm.
Một người có tâm hồn như vậy không thể thích ứng với những nghề đòi hỏi óc mưu mẹo, đòi hỏi khả năng đối phó với nhiều hạng người phức tạp. Cũng không thể thích ứng với những vụ trình diễn chiêng trống xập xình, cờ quạt mũ mãng sặc sỡ. Nếu cho rằng cái tính trời sinh là biểu hiện của định mệnh thuyết, thì định mệnh đã dành sẵn cho Doãn Quốc Sỹ một nghề: nghề giáo. Những ước mơ cao đẹp ông ấp ủ, tình yêu người yêu đất, niềm tin ở Tự do, Công bằng, Lẽ phải, chỉ có cơ hội thực hiện và quảng bá qua hai công việc mà Doãn Quốc Sỹ cho là thích hợp nhất đối với ông: đi dạy và viết văn.
Suốt hai mươi năm trên nửa phần đất tự do của quê hương, ông đã say mê hai công việc đó. Học trò ông, độc giả của ông đã yêu mến kính phục ông qua hình ảnh một ông thầy yêu nghề, một nhà văn mực thước và nhân ái. Không có ai nhớ về Doãn Quốc Sỹ như một kẻ giương cờ gióng trống hô hào một cuộc cách mạng văn chương, hoặc một ông vua xuống đường hô hào lật đổ cái này để bày cái khác. Kể cả khi viết về những kinh nghiệm của ông trong thời kháng chiến, kinh nghiệm về người Cộng sản, Doãn Quốc Sỹ vẫn viết với giọng điềm tĩnh đôn hậu cố hữu. Ông không “nổ” như Nguyễn Mạnh Côn, không “độc” như Võ Phiến. Người Cộng sản ông từng biết thời thanh niên của ông, qua lời ông viết, là những nạn nhân của một chủ thuyết ngoại lai, không phải là tác nhân. Và đó là chủ đề những truyện ngắn chống Cộng Doãn Quốc Sỹ viết thời kỳ sau hiệp định Genève.
Nhớ về ông, phần lớn bạn bè, học trò hay độc giả nhớ tới một mẫu người Việt Nam thường thấy nên thanh tiêu biểu: hình dáng mảnh mai nhưng rắn chắc, khuôn mặt xương xương, nước da nâu, đi đứng chậm rải, và trên môi luôn có một nụ cười hiền lành. Một người ung dung và tự tín, bằng lòng với những điều mình làm và cuộc sống mình có. Theo quan niệm ngày trước, ông không phải là típ người “khẳng khái cần vương” mà thuộc loại “thung dung tựu nghĩa”.
Doãn Quốc Sỹ chọn cái khó “thung dung tựu nghĩa” vì bản tính chứ không phải vì cho rằng “khẳng khái cần vương” là việc dễ không đáng làm. Sự lựa chọn đó ít va chạm quyền lợi kẻ khác, lại quảng bá tuyên xưng những điều tốt đẹp nên làm lợi cho xã hội. Lẽ công bằng bắt buộc người đời phải mến yêu ông. Lối sống ông chọn không rực rỡ, không thời thượng, thì người ta cũng sẵn sàng dành cho ông một chỗ đứng yên ổn tịch mịch, để ông tiếp tục ươm những mầm non yêu đời, yêu người, yêu tổ quốc. Doãn Quốc Sỹ được hưởng thành quả những điều mình làm trong hai mươi năm bằng một vị trí xứng đáng trên văn đàn, một địa vị tôn trọng trong giáo giới, và một nếp sống gia đình yên ấm, trong con hẻm đường Thành Thái.
Nhưng rồi tất cả đều bị đảo lộn sau 30 tháng Tư năm 1975. Trong những ngày hoang mang lơ láo đó, giới viết lách Miền Nam vẫn thường gặp nhau trên phố Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Tự Do để chứng kiến cảnh những tác phẩm tim óc của mình bị đổ từng đống hoặc bày la liệt ở vỉa hè bán solde cho những ai còn muốn giữ chút dư hương của một quá khứ đã mất. Lái sách, ngoài những tay buôn bán cũ chuyên nghiệp còn có những nhà văn, nhà thơ thất cơ lỡ vận gia nhập vào lãng. Người mua gồm đủ thành phần: những người mê sách, những người chưa hề nếm qua mùi Cộng sản tưởng 30 – 4 – 75 cũng giống như những cuộc đảo chánh chỉnh lý trước đây, những chú bộ đội tò mò, những đồng bào Miền Bắc chịu đựng mười mấy năm một gánh nặng mà không dám kêu than muốn tìm một tâm hồn đồng điệu… Tác phẩm và tác giả cùng nhìn nhau bùi ngùi giữa cảnh bát nháo hỗn loạn của cuộc đời.
Trong lúc những người khác hối tiếc không nhanh chân hay hớn hở cho hợp thời, tôi thấy Doãn Quốc Sỹ vẫn ung dung, điềm tĩnh. Ông biết rõ những gì đang chờ đợi ông, nhưng ông quyết định ở lại. Ông nói ông không thể rời bỏ quê hương được. Ông không lạc quan tếu, cũng không tuyệt vọng. Tôi nhớ ông nói nếu có gặp hoạn nạn vì những gì đã viết thì cũng đành chịu, vì không khác được. Ông phải viết những điều cần viết, và sẽ rán viết tiếp những điều cần viết. Không nói ra, nhưng chúng tôi biết ông ngầm cho rằng muốn có chất liệu viết được những điều sẽ viết, ông phải ở lại. Không hối tiếc, không hớn hở.
Ông bị bắt lần đầu giữa năm 1976, bị đày lên những trại tập trung tệ hại nhất ở cao nguyên, rồi do can thiệp của dư luận quốc tế, ông được phóng thích năm 1981. Ông ra khỏi nhà tù được vài tháng, ngẫu nhiên tôi được gặp ông trong bữa “tiệc” tối do một hoạ sĩ đứng ra khoản đãi. Anh bạn hoạ sĩ (Vũ Hối) có một bức tranh lưu lạc ở nước ngoài từ trước 1975 và có tin bạn bè ở hải ngoại gửi về cho biết tác phẩm của anh được một hàn lâm viện mỹ thuật chọn bảo tồn. Bức tranh đó, sau này tôi thấy nhiều cơ sở sản xuất tranh sơn mài ở hải ngoại lấy mẫu sản xuất hàng loạt. Anh họa sĩ vô cùng hân hoan, nên xoay một món tiền nhỏ, nhờ một người quen nấu cho nồi cà ri gà, mua bánh mì và một ít nem chả, thế là đủ làm tiệc vui khoe với thân bằng cố hữu. Tôi nhớ hôm ấy món cà ri gà còn được giặm thêm bằng tiếng đàn nguyệt của một ông hoàng Huế đa tài, và giọng ngâm của Hồ Bắc. Thơ cổ kim theo tiếng đàn khoan nhặt chỉ làm nặng lòng những kẻ bẽ bàng lơ láo là đám văn nghệ sĩ chiến bại, gồm đủ mọi ngành, hoạ có, văn có, thơ có.
Doãn Quốc Sỹ xin phép về sớm khi tiệc chưa tàn, sau khi một người trong tiệc cao hứng hứa nếu ai có tác phẩm cần gửi ra nước ngoài thì anh sẽ tìm cách giúp đỡ.
Tôi tiễn ông ra cửa. Nhà người bạn cho mượn làm nơi hội họp ở khu vắng vẻ, bên cạnh dòng sông và cách xa đường cái bằng một khu vườn. Đêm tối đen. Tôi hỏi thăm ông về những năm tháng ở trại Gia Trung, nhân tiện hỏi hư thực về tin đồn bên ngoài bảo rằng từ khi bị bắt, Doãn Quốc Sỹ cương quyết quay mặt vào tường, tọa thiền diện bích, từ chối không trả lời những câu hỏi của cán bộ chấp pháp. Ông cười, rồi nói:
– Anh em ở ngoài vì thương nên đồn đãi như vậy. Mình ở trong tay họ, làm vậy có ích gì! Cái cốt yếu là giữ được tư cách dù ở trong tay họ.
Ông nói câu ấy với giọng bình thường, không cao giọng, không bậm môi rướn cổ. Ánh đèn từ trong nhà lọt qua cửa kính, khuôn mặt của ông trông xương xương hơn xưa, nhưng ánh mắt vẫn sáng vui. Nhân tiện, tôi chào từ biệt ông, thấp giọng thú thực tuần sau tôi sẽ vượt biên. Ông im lặng một lúc, rồi nói:
– Anh em lần lượt đi hết, cũng buồn. Nhưng nếu không thể ở lại được nữa, thì cũng đành vậy. Qua bên đó có khi lại viết được những điều cần viết.
Nghe ông nói, lòng tôi nhẹ lại. Trước đó, đôi lúc không nhịn được, tôi thố lộ chuyện toan tính ra đi với vài bạn thân, họ đều có giọng trách. Tôi phải nại cớ này cớ nọ: nào sống lêu bêu vô tích sự chỉ làm gánh nặng cho vợ con, nào không thể sống mãi trong trạng thái hồi hộp, nào mình không phải là loại activiste, militant. Câu trả lời của Doãn Quốc Sỹ đầy thông cảm và nhân ái, tôi xem như một món quà ý nghĩa một người đàn anh gửi cho người em vào lúc giã biệt.
Chuyến đi ấy thất bại, và tôi chỉ đi thoát vào chuyến thứ năm, cuối năm 1981.
Cuối năm 1982, tôi được đi định cư tại thành phố Houston Hoa Kỳ sau 11 tháng chờ đợi ở đảo. Đặt chân lên miền đất tự do, tôi ngấu nghiến đọc hết sách báo của bảy năm lưu vong. Trong một vài truyện ngắn, trong một cuốn tuyển tập, tôi nhận ra được cái văn phong đôn hậu thung dung và lãng mạn một thuở. Tôi đoán già đoán non tác giả, và được một vài bạn hữu lấp lửng xác nhận.
Doãn Quốc Sỹ đã viết những điều cần viết, và sẵn sàng ung dung chấp nhận tất cả mọi hậu quả, trong khi không bao giờ, phải, ông không bao giờ tự nhận mình là một chiến sĩ, một người đấu tranh. Trước sau ông vẫn là một nhà giáo kiêm nhà văn, với tất cả ý nghĩa cao đẹp của hai nghiệp vụ đó.
Nguồn: Văn Học số 31, tháng Tám 1988
Nguồn bản điện tử: nguyenmonggiac.info
Ghi chú:
“Kháng khái cần vương” là một khái niệm được ghép từ hai phần: “kháng khái” (hành động mạnh mẽ, dũng cảm, có nghĩa khí) và “cần vương” (giúp vua cứu nước, ban đầu là một hành động phò vua). Cách diễn đạt này thường dùng để mô tả tinh thần của các sĩ phu, văn thân hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi vào năm 1885, dũng cảm đứng lên chống Pháp để bảo vệ chế độ phong kiến và đất nước.
“Thung dung tựu nghĩa” là một thành ngữ có nghĩa là “chết vì nghĩa, chết để làm trọn đạo lý“. Cụm từ này thường được dùng để ca ngợi sự hy sinh cao đẹp của một người vì lý tưởng, chính nghĩa.
VHMN 54-75 (87): Những Khoảng Đường Chung Với Doãn Quốc Sỹ
Thế Uyên
Tôi biết đến Doãn Quốc Sỹ khá sớm, khi còn học năm chót Trung học. Hai đứa em gái học Trưng Vương một buổi chiều đến mang về cuốn Dòng Sông Định Mệnh, vừa đọc vừa khen hay nức nở. Tôi tò mò đọc theo và bị lôi cuốn bởi truyện tình giản dị và thơ mộng này. Bút pháp của Doãn Quốc Sỹ quá giản dị trong sáng, tâm lý tâm trạng của các nhân vật cứ như trong truyện thần tiên, rất hợp với lứa tuổi mới lớn. Vài năm về sau, tôi đã trưởng thành hơn, đọc những cuốn sau của Doãn Quốc Sỹ, tôi không còn tìm thấy những sự quyến rũ đầu tiên nữa. Và phải nhiều năm, rất nhiều năm về sau, mới có một cuốn khác của tác giả này làm tôi đọc một cách thích thú, đó là cuốn Vào Thiền. Dĩ nhiên, đã có rất nhiều biến đổi, nhiều nước chảy qua chân cầu giữa hai cuốn với hai lần đọc này.
Trong khoảng thời gian này, đã có rất nhiều điều xảy ra. Trước hết, sau hai năm dạy Lý Hóa vạn vật ở trường Nguyễn Đình Chiểu ở Đại học Mỹ Tho và trường Trung học Kiến Hòa (Bến Tre), tôi đã trở lại với Đại học thành phố Sài Gòn, nhưng theo học ngành văn. Trở thành giáo sư Văn sau đó, tôi đã quen với Doãn Quốc Sỹ với tư cách đồng nghiệp trẻ, gặp gỡ nhau khá nhiều trong các kỳ thi hàng năm. Và tôi cũng bắt đầu viết văn, do đó có thêm thân thiết với Doãn Quốc Sỹ. Sau cuộc đảo chánh bất thành của binh chủng dù năm 1960, bị công an lùng bắt vì tội có tham gia cuộc binh biến này, tôi đã xuống Hà Tiên sống mấy ngày với mục đích vượt biên sang Cao Miên rồi từ đó qua Pháp học tiếp với sự trợ giúp của linh mục Cras, thầy dạy thân thiết với tôi ở Đại học Văn Khoa. Lúc đó tôi biết đến Doãn Quốc Sỹ đang làm hiệu trưởng trường trung học nơi này, nhưng tôi không muốn tới thăm, vì sự liên lụy tới anh. Trong thời gian vài ngày tại quê hương của người hùng văn võ kiêm toàn Mạc Thiên Tứ, và nhà thơ nghiêm túc cổ kính Đông Hồ, tôi đang lang thang cùng bạn bè thăm các thắng cảnh quá êm đềm, xinh nhỏ và hòa bình ở đây. Rồi một buổi tối, ngồi một mình với ly cà phê trong một quán nhìn ra hồ phẳng lặng dưới ánh trăng mờ nhạt, tôi đã suy nghĩ lại rồi quyết định không đi Cao Miên. Con đường khoa cử với giấc mơ đỗ tiến sĩ không còn hấp dẫn tôi nữa. Với tuổi trẻ lý tưởng hồi đó, toi cho rằng tôi ở lại trong nước phục vụ dân tộc mình coi bộ hữu ích hơn. Vả lại, những gì đã viết ra, tôi tin tôi có thể trở thành một nhà văn như anh Duy Lam tôi, như các bác, các chú Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam trước đây.
Quyết định như vậy rồi, tôi đến bên cửa hàng bán đồi mồi gần đó, lựa mua một chiếc nhẫn đồi mồi để mang về tặng Thi làm nhẫn đính hôn. Tình yêu của hai đứa đã đến chân tường, lửa nóng cháy hun hai đứa tối đa. Nếu tôi trở lại Sài Gòn thì hai đứa chắc chỉ còn cách nhảy qua bức tường ấy – để trở thành vợ chồng mà thôi. Từ khi gặp Thi và yêu Thi, tôi đã ý thức rõ ràng đó là người con gái duy nhất trên cõi đời này tôi muốn lấy làm vợ. Và hơn thế nữa, tôi ý thức tôi và Thi sinh ra là để lấy nhau, yêu nhau từ cuối bãi đầu ghềnh cho đến sơn cùng thủy tận, từ tuổi trẻ đến tuổi già, từ vinh quang và quyền lực đến đọa đầy và lao tù nghèo khó. Lúc đó tôi mới 25 tuổi, quá trẻ với nhiều lý tưởng, chưa muốn lập gia đình. Nhưng mọi sự xảy ra sau đó đẩy đưa tôi như một định mệnh. Lệnh động viên đã ban hành và căn cứ vào hạng tuổi, tôi biết chắc chắn sẽ thuộc khóa 14 hay 15 của trường Võ Bị Thủ Đức. Dĩ nhiên tôi không thể tưởng tượng được làm thanh niên trong một nước mà lại trốn lính… Chiến tranh chờ đợi không xa, một thời để yêu và một thời cho cuộc chiến.
Hai đứa tôi thành vợ chồng khi tôi đang học ở Buôn Mê Thuột và Thi đang theo học ở viện Đai học Đà Lạt. Hai đứa sinh kịp con trai đầu trước khi cuộc chiến 30 năm chụp lên tất cả. Thi là con gái đầu lòng của giáo sư Nguyễn Huy Dương, dòng dõi của Nguyễn Huy Tự viết Hoa Tiên ngày xưa. Một buổi sáng tôi dậy trễ vì nghỉ phép, đang nằm dài thỏa mái trên chiếc giường nhỏ kiểu con gái của Thi – sau khi nhập ngũ, tôi mang con và Thi về gởi bên vợ – tôi bỗng dưng thấy tiếng Thi vui vẻ chào hỏi “chú Sỹ” ngoài sân. Tôi đi ra, thấy ông già vợ và Thi đang nói chuyện vui vẻ với Doãn Quốc Sỹ. Sỹ quay lại thấy tôi, ngạc nhiên hỏi: “Anh làm gì ở đây vậy?”. Tôi cười trả lời, giơ tay chỉ giáo sư Dương và Thi: “Tôi làm rể ông này và làm chồng cái cô bé này ở đây!”
Trước 1954 ông già vợ tôi là hiệu trưởng trường học thành phố Nam Định, và Doãn Quốc Sỹ đã dạy nơi này với tư cách một giáo sư lớp trẻ. Anh đã đến nhà Thi nhiều lần, và dĩ nhiên Thi vẫn kêu anh là chú xưng cháu. Di cư vào nam, hai bên vẫn cứ giữ quan hệ thân hữu. Dĩ nhiên Doãn Quốc Sỹ đã biết cô cháu gái xinh xắn năm xưa đã từng bế trên tay nay đã lớn và đã lấy chồng. Và với tư cách bạn văn của tôi, anh biết tôi cũng đã lấy vợ và sinh con. Nhưng mãi tới buổi sáng hôm đó anh mới biết là tôi đã lấy cô cháu gái Thi của anh… Anh ân cần mời vợ chồng tôi lại chơi nhà anh ở đường Thành Thái. Bọn tôi đã nhận và nhiều lần tới căn nhà trong hẻm này. Nhưng bây giờ Thi leo thang, không gọi DQS là chú nữa, mà kêu theo tôi là anh Sỹ, theo luật bất thành văn trong giới cầm bút là luật bạn vong niên, không tính tới tuổi tác xưng hô bao giờ. Nhưng dù có thế, tôi để ý mỗi khi gặp Thi, dù Doãn Quốc Sỹ có kêu bằng chị Uyên, nhưng giọng nói cũng như thái độ bao giờ cũng có vẻ che chở ân cần, y hệt một cô cháu mình.
Trong một lần gặp gỡ, tôi có nhắc tới thời kỳ tôi sống ở Hà Tiên dự tính vượt biên. Anh tỏ ý hối tiếc vì biết tin quá trễ, không kịp kiếm ra tôi để hai đứa lang thang các thắng cảnh vùng này. Khi nghe tôi giải thích đã không kiếm anh vì sợ làm phiền nhau, thì anh cười cho biết cùng lắm anh bay chức hiệu trưởng. Và đối với anh, cái chức hiệu trưởng hay một chức nào to hơn cũng chẳng nhằm nhò gì, có mất vì giúp bạn cũng chẳng sao. Lúc đó tôi đã khá thân với anh để hiểu rằng anh nói thât. Anh có một tâm hồn rất kẻ sĩ Đông phương, trọng nghĩa khinh tài. Đối với anh chữ nghĩa khí và tình bằng hữu là hoàn toàn có thật… Anh mang những sách đã xuất bản ra tặng tôi, nhưng tôi chỉ coi qua và bày trang trọng trong ngăn tủ. Văn anh bây giờ đã trở thành chất phác, quá giản dị để lôi cuốn tôi. Ngay cả bộ trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau cũng vậy, tôi chỉ đọc kỹ có mỗi phần nói về chế độ học tập cải tạo tư tưởng của Cộng sản Việt Nam mà thôi. Và rất nhiều năm về sau, khi lâm vào cảnh cải tạo trên rừng, những kiến thức tôi thu thập được từ Khu Rừng Lau đã giúp ích cho tôi khá nhiều trong việc đối phó với cuộc tấn công tư tưởng của các quản giáo đại diện cho Đảng trong trại.
Tình bạn của tôi với DQS cứ thế tồn tại với năm tháng. Không quá thân thiết và cũng không lơi là, trong khi trên thực tế, đường lối của nhóm Sáng Tạo và của nhóm Thái Độ mỗi ngày một dị biệt. Bởi thế với các thành viên khác của Sáng Tạo, tôi ít quen ai. Thí dụ như một Thanh Tâm Tuyền, mặc dù bị động viên cùng khóa 14 Thủ Đức, cũng chẳng ai muốn nói chuyện với ai. Chỉ sau này, đời sống quân đội và cuộc chiến khốc liệt mới làm tôi và TTT thân thiết hơn, gặp nhau vui vẻ nói chuyện. Cùng là nhà văn cùng thế hệ, cùng chia sẻ thân phận làm lính, và sau 1975, cùng chia sẻ thân phận cải tạo dài dặc trên cõi xứ rừng núi xám. Có thân thiết nhau hơn cũng là tự nhiên. Đối với Mai Thảo cũng vậy, gặp nhau khá thường như chỉ bắt tay, vài câu chuyện loanh quanh rồi thôi.
Có một lần nhà in đòi tôi lấy cuốn sách mới in về vì thiếu chỗ tồn kho, tôi đang lúng túng kiếm xe thì gặp DQS. Anh đề nghị để anh chở giùm vì đi tu nghiệp ở Mỹ về anh có mua được một chiếc Daihatsu khá tốt. Thế là hai đứa, DQS và tôi khênh sách lên xe, từng bịch từng bịch một đưa đến nhà phát hành cũng như đưa về nhà. Gần mười hai giờ trưa mới xong, cả hai đứa đều mệt và đói. Tôi đề nghị ghé vào một quán càri Ấn Độ khá nổi tiếng đường Nguyễn Trãi. Dĩ nhiên đó là một bữa ăn rất vui. Ăn xong, chia tay trong thoải mái. Doãn Quốc Sỹ là một người như thế đấy: tốt, chân thật, chí tình với bạn bè. Tôi chơi khá thân với anh chỉ vì con người anh là như vậy.
Từ khi đi Mỹ về, anh biên khảo nhiều hơn, thiên về cổ tích và văn học dân gian. Những truyện có tính chất thần thoại của anh phải kể vào hàng xuất sắc. Cái giản dị chất phác mà mộng mơ của anh đã không giúp anh thành công trong thể loại truyện sáng tác – truyện Sầu Mây chẳng hạn – thì lại rất hợp với loại dành cho thanh thiếu niên này. Lúc đó, cả hai chúng tôi không ngờ rằng một thần thoại anh viết về con cáo chín đuôi, con hồ ly chín đuôi hại dân hại nước, đã làm đảng CSVN thù hận anh kinh khủng. Họ cho rằng anh đả kích bản thân Hồ Chí Minh, người mà Đảng đã thần thánh hóa trở thành một đấng tối cao, cao hơn cả Thích Ca, chúa Ki Tô lẫn giáo chủ Mahomed. Anh về sau đột nhiên viết một cuốn là tôi chú ý và đọc một cách thích thú là cuốn Vào Thiền, ghi chép lại một số công án của thiền sư Nhật Bản Muju. Nhờ cuốn sách này, tôi mới biết càng cao tuổi, anh càng thiên về Phật giáo, xa dần những ảnh hưởng văn hóa Âu châu mà anh thu nhập thời tuổi trẻ.
Những năm chót trước năm 1975, một phần tôi quá bận bịu – vừa làm lính vừa dạy học vừa viết vừa lo xuất bản, chưa kể vài nổ lực đấu tranh khác – một phần vì Thi cho rằng DQS không cảm tình với nàng cho lắm, tôi ít ghé lại chơi tại nhà anh hơn kỳ trước. Và anh chị cũng không hề giữ bọn tôi lại ăn cơm gia đình lần nào. Rút cuộc, hai đứa tôi bạn bè với nhau đã gần mười năm rồi, rút cuộc tình bạn vẫn cứ lãng đãng thế thôi.
Sau 30 tháng 4 năm 1975 vài ngày, tôi có biết anh đã ở lại Việt Nam cũng gia đình. Tôi cũng chẳng hề ngạc nhiên về chuyện đó vì đa số các nhà văn nhà thơ của miền nam đã chọn ở lại với dân tộc, với quê hương mình. Số di tản 1975 chỉ là thiểu số. Tôi không ngạc nhiên về sự kiện này bởi vì đã hiểu từ lâu một con người có thể trở thành nhà thơ nhà văn thường là con người có tình cảm liên đới với đồng loại với dân tộc với quê hương hơn những người trung bình khác. Hơn nữa làm nhà văn nhà thơ mà rời quê hương thì giống như cái cây bị bứng rễ. Đã lưu vong thì một là hết sáng tác, hai là có tiếp tục được thì khó khăn vô cùng. (Nhưng đó là nói về thời 75. Bây giờ, sau 12 năm, đa số các nhà văn thơ miền Nam lại ở hải ngoại thì là do đi về sau này, kể cả tôi).
Năm 1976, tôi đang ở trại cải tạo Ka Tum thì được Thi lên thăm nuôi lần đầu tiên. Lợi dụng khoảng khắc làm thủ tục nhập trại tiếp tân, chỉ có hai đứa gần nhau ngoài sân, Thi cho biết ĐCS đã mở một chiến dịch bắt hầu hết nhà văn nhà báo và tri thức đại học nào chưa bị bắt đi cải tạo tháng 6, 1975. Thi cũng cho biết thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng bị bắt, và sau một thời gian giam giữ, đã suy kiệt. Cũng tương tự như trường hợp nhà văn Tuấn Trình Nguyễn Tấn Phát (đi cải tạo với tư cách cựu đại tá), Đảng muốn tránh tiếng sát hại nhà văn, phút chót công an tha cho cả hai người trở về chết trong gia đình vài hôm sau. Tin tức này làm tôi buồn và ngậm ngùi. Vũ Hoàng Chương đã từng là thầy dạy văn của tôi năm lớp 11. Khi đã thành nhà văn, thỉnh thoảng có gặp ông và chỉ gọi là anh theo cách xưng hô vong niên của giới cầm bút. Tôi quý ông và biết ơn ông vì những vần thơ của ông đã tạo biết bao nhiêu cảm xúc, hào hứng cho lớp trẻ hậu sinh như tôi. Tôi buồn không phải chỉ về cái chết buồn của ông mà còn vì hầu hết bạn bè của tôi như vậy đi tù hết. Tôi còn nhớ mãi cái ngày 30 tháng 4, 75. Hội văn nghệ Giải phóng mời tất cả giới cầm bút miền Nam đến dự buổi họp do chính quyền mới tổ chức tại tòa Đại sứ Đại Hàn cũ gần dinh Độc Lập. Tôi gặp khá nhiều bạn bè ngoài khuôn viên, nên vào phòng khách khá trễ. Không còn một chỗ ngồi, ngoại trừ một chiếc ghế bành nhô ra phía trước. Không lẽ đứng suốt buổi họp không biết kéo dài bao lâu, tôi đã len lỏi ngồi đại vào chiếc ghế đó. Ngồi an vị, mới thấy người ngồi đối diện tôi bên kia chiếc bàn nhỏ là nhà thơ Cung Trầm Tưởng, tóc bạc trắng xóa. Hai đứa bắt tay nhau hoàn toàn không thể ngờ đó là lần, tôi không muốn gọi là lần chót vì nhà thơ này chưa chết, mà sau đó không biết bao giờ mới gặp lại nhau trong cuộc đời này. Tôi rút bao thuốc ra châm hút thì có tiếng gọi ngay gần. Đó là Ninh Chữ, nhà thơ kiêm thợ may Can nổi tiếng đường Tự Do. Sau khi châm thuốc cho anh bạn vui tính này, tôi lại nghe một câu nói nhỏ nhẹ: “anh Uyên cho em một điếu…” Tôi đưa bao thuốc lại phía đó trước khi nhận ra người ấy là Trần Dạ Từ. Buổi họp khai mạc với người giới thiệu là nhà báo Thế Nguyên của tạp chí Trình Bày.
Sau đó các cán bộ thay nhau lên tiếng, nói những điều ngọt ngào nhưng mơ hồ về tương lai. Sau đó họ mời một vài người lên phát biểu. Nhà văn Nguyễn Thị Vinh được mời đầu tiên. Đứng trước máy vi âm, mặt chị buồn hiu. Sau cùng chị lên tiếng, cũng thật khôn khéo trình bày rằng Cách Mạng vào đột ngột quá làm chị bàng hoàng không biết nói gì. Rồi chị đi xuống. Kịch gia Trần Lê Nguyễn bị gọi lên, đã đi một đường rất kịch tính. Anh chắp hai tay lại phía trước như bị trói, rồi nhỏ nhẹ: “Này bạn bè ngoài khu về, nói thật nhau đi. Bao nhiêu năm, bao nhiêu năm…” Tất cả mợi người ngồi dưới đều hiểu anh muốn nói là bao nhiêu năm tù. Không khí căng thẳng hẳn lên. May mắn thay một tài tử kiêm ca sĩ nổi tiếng của giới cải lương phóng lên oang oang ngâm một bài thơ mới sáng tác để ca tụng “Bác Hồ”. Quả thật giới cầm bút lúc đó nói chung chưa hề muốn đụng độ với chế độ mới, ai cũng chờ xem chính sách của Đảng CS ra sao rồi mới tính.
Nhưng bây giờ, trên bãi cỏ hoang ven suối bìa rừng Ka Tum, tôi hiểu mọi sự thế là hết. Chính sách của Đảng dứt khoát là theo cả đường lối của cả Stalin lẫn Mao Trạch Đông. Với chính sách này, tất cả người cầm bút của chế độ cũ đều bị coi là kẻ thù của chế độ, ít hay nhiều, nặng hay nhẹ mà thôi. Thi cũng mang lên cho tôi tờ Văn Nghệ, cơ quan chính thức của hội Văn nghệ Trung ương hồi đó, trong có bài của Chế Lan Viên mang đích danh bốn nhà văn ra kể tội: Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam và tôi. Trong phần kết tội Doãn Quốc Sỹ, Chế Lan Viên còn trách DQS cái tội bất hiếu với bố mẹ anh (nhà thơ Tú Mỡ) chết mà không thèm tới đưa đám. Nhiều năm về sau khi gặp nhau ở Sài Gòn, tôi mới hỏi DQS về chuyện này thì anh cho biết Chế Lan Viên đã mạt sát anh một cách tiểu nhân vì lúc Tú Mỡ chết thì công an đã bắt nhốt anh rồi. Làm sao mà đưa đám cho được.
Bài này của Chế Lan Viên làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Trong bốn người bị kể tội đích danh, đã chết mất một. Hai đi cải tạo với tư cách sĩ quan từ 75 là Phan Nhật Nam với tôi. Còn có mỗi DQS bị bắt nốt. Tôi hiểu ngay rằng nếu tôi không khéo léo giữ gìn mồm miệng, không biết đường nhịn thở qua sông, không biết đi một đường Hàn Tình Câu Tiễn Phạm Lãi, thì chắc tôi sẽ vùi thây làm mồi cho mối nơi gốc rừng hoang nào đó của đất nước này. Hơn nữa, tôi vừa thấy gương hiện đại của Pasternak, của Solezenitsin… Chế độ Stalin ghê rợn như thế mà còn chẳng triệt được, nữa là…
Sau khi được tha về Sài Gòn, tôi duyệt lại một vòng bạn bè trong giới cầm bút, thấy chẳng còn được bao nhiêu đứa chưa đi tù. Hầu hết bị nhốt vào trại cải tạo K.1 gần Pleiku. Còn được tự do (hiểu theo nghĩa tương đối) bên ngoài chỉ có vài ba người: Nguyễn Thị Vinh, vợ chồng Nhật Tiến – Đỗ Phương Khanh, Minh Quân, Lệ Hằng, Nguyễn Mộng Giác, Huỳnh Phan Anh,.. Cũng cần ghi thêm lúc đó Nguyễn Mộng Giác, Dương Nghiễm Mậu cũng đều mới được thả ra tù chưa được bao lâu. Còn Lệ Hằng, con người nổi danh với truyện tình Thung Lũng Tình Yêu, về sau chị cũng bị bắt với tội mưu toan vượt biên. Tôi theo bè bạn đến câu lạc bộ của Hội Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, lúc đó Vũ Hạnh còn giữ được chức Tổng thư ký. La cà cà phê thuốc lá nơi này. Sơn Nam là người được cử thay mặt Hội nói chuyện tào lao với anh em, và chưa chi ông nhà văn của khai hoang, của miệt vườn đã phê bình chính sách của Đảng một cách ngay thẳng. Tôi chẳng dại về hùa với anh vì dù sao Sơn Nam còn có cả MTDTGPMN ủng hộ, coi như gà nhà, đâu sợ công an chính trị Bắc – kỳ – quốc, của miệt Đàng Ngoài. Còn tôi, thân phận cải tạo được tha về đâu có khác thân phận paria. Intouchable bên Ấn Độ. Hở sườn một chút, là lãnh cái cán búa ngay. Ngay Nguyễn Mộng Giác, vốn người Bình Định kín đáo và thàng hậu (xin dùng đỡ từ của Võ Phiến) tiến thoái thận trong, đôi khi còn biết cả vài đường lăng ba vi bộ nữa, vậy mà cũng đi tù lần thứ hai vì vài lời phát ngôn trât khớp lệch chìa trong một buổi họp văn nghệ ở vùng cư xá Thanh Đa năm 1980 do báo Tia sáng tổ chức. Dĩ nhiên lý do chính thức công an đưa ra không nhắc tới lý do chính. Cũng cần nói thêm ông bạn cố tri này của tôi còn chịu khó đi tù một lần nữa cho đủ quá tam ba bận trước khi vượt thoát được ra nước ngoài. Ngay cả vợ chồng Nhật Tiến anh em ruột thịt ngoài Bắc hơi đông, nhưng nếu không cùng Dương Phục, Vũ Thanh Thủy phóng chạy ra nước ngoài, thì trước sau gì cũng bị bắt mà thôi. Phe giáo điều trong Đảng CSVN đã chủ trương bắt hết, bắt gọn, bắt sạch, bắt không sót một ai trong giới văn học báo chí miền Nam để trấn áp, để diệt cho bằng được. Rút cục ai cũng đi cải tạo hay đi tù ít nhất một lần, mới được coi là “đạt chỉ tiêu”.
Đi từ thì đi. Ai cũng đi thì ta cũng đi. Từ trại mít mùng miền U Minh đến chân núi Hoàng Liên Sơn ngoài Bắc. Nhưng nếu Đảng CS có thể nhốt được bản thân người cầm bút, họ lại thất bại trong việc bẻ gãy ngòi viết, câu thúc tâm hồn con người của văn học. Nhà văn nhà thơ nhà báo đi tù bao giờ cũng đông đảo bạn bè, và ai sao ta vậy, ngày tháng cứ trôi qua, rồi cũng đến lúc được tha về dù là sau 12 năm như Duy Lam, hay chẳng biết bao giờ như Phan Nhật Nam. Nhưng đi lâu hay chóng, không ai làm điều gì đáng chê trách, cứ tà tà một người như mọi người. Nhưng cũng có vài ba người đi một đường sĩ khí đầy trời, khí tiết kiểu sĩ phu Cần Vương hay Đông Kinh Nghĩa Thục, như Duy Lam, Phan Nhật Nam hay Doãn Quốc Sỹ.
Tin tức từ giới truyền thông cộng sản lộ ra ngoài cho biết công an phụ trách hỏi cung đã rất bực dọc với thái độ “ngoan cố” của DQS, nhưng đồng thời cũng than phục thái độ ngay thẳng chính trực của nhà văn này. Khi biết những chuyện đó, cũng như biết tới thái độ của Duy Lam và Phan Nhật Nam, tôi chỉ biết thở dài. Tôi không đồng ý với các nhà văn ấy về thái độ “làm cây thông đứng giữa trời mà reo”, rồi muốn – tới – đâu – thì – tới. Đảng CS đã để cho công an kẹp nát hai mắt cá chân của Duy Lam ở trại cải tạo Phú Khánh. Nếu các con gái không dựa vào nguồn thuốc men tiếp tế của thân nhân nước ngoài, chắc chắn nhà văn này đã chết vì nhiễm trùng nơi vùng núi khô cằn của phần rừng núi miền Trung. Còn Phan Nhật Nam thì bị áp tải từ trại cải tạo về Sài Gòn, đưa ra trước Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh lãnh cái án khổ sai chung thân. Nhưng nếu tôi không cho cái thái độ cứ nhất định làm “cây thông” là khôn ngoan – theo tôi, phải là cây tre tốt hơn, nhưng thán phục thì vẫn cứ thán phục. Thời nào, lúc nào cũng cần có vài ba người như thế làm biểu tượng cho sĩ khí truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Sau khi được tha về, tôi và Thi hay lui tới nhà Doãn Quốc Sỹ hơn xưa. Vài ba bốn năm cuộc đời không dài gì, nhưng dư đủ cho một bé gái mới ngày nào còn nhảy lò cò vừa hát véo von trước hiên nhà biến thành một thiếu nữ xinh tươi. Đó là trường hợp con gái lớn Doãn Quốc Sỹ. Cháu Ngọc Thanh bây giờ đã thành một thiếu nữ xinh tươi, vươn lên, nở bung ra như một cánh hoa. Chị Doãn Quốc Sỹ ngày càng ít nói với bao nhiêu gánh nặng chồng chất, nên càng tới chơi, Thi và tôi càng thân với cháu Thanh. Chẳng mấy lúc, tôi thấy tôi có thái độ ân cần trìu mến đối với Thanh, y hệt thái độ của Doãn Quốc Sỹ đối với Thi bao nhiêu năm về trước. Hơn nữa, Thanh thông minh, chịu khó đọc nên chú cháu gặp nhau không thiếu điều để nói. Tôi rất thích những lần Thanh lại chơi, không biết những lúc khác có ăn mặc như thế không, nhưng mỗi lần lại nhà tôi chơi trong cư xá Chí Hòa, Thanh ăn mặc y phục Tây Phương. Khi thì áo T – shirt với một quần Jean, khi thì thỏa mái trong mini – robe với túi xách tay rất hippy.
Khi tôi nộp đơn xin từ chức giáo sư Đệ Nhứt cấp ở trường Phú Lâm vì lí do đã xin xuất ngoại để đoàn tụ gia đình. Khẩu phần gạo đã bị cúp ngay lập tức. Không biết làm gì hơn, hai vợ chồng tôi tính mở một quán café tại nhà để sinh nhai. Vốn không có môt đồng, Thi lại đau bệnh, chưa biết ngày mai lấy đâu ra gạo nấu cơm thì cứu tinh xuất hiện ngay ngoài cổng. Anh họ lớn tuổi nhất, cũng là nhà văn Tường Hùng, đã xin phép từ Pháp về thăm nhà. Trong họ tôi, anh nổi tiếng tốt và hào phóng, và cũng rất là văn nghệ nên cũng chẳng giàu. Nhưng khi anh ra đi cũng để lại cho một khoản đủ mua bàn ghế ly tách tối thiểu để bọn tôi có thể mở quán Cây Bông Giấy – quán được gọi như vậy vì bàn ghế bày ngay dưới cành lá um tùm của cây bông giấy cành đan kết như mãng xà trườn trên núi đá. Nghe tin này, dì Lan gửi về cho một coffee – maker mà bà con quê nhà gọi tắt là cái phin điện. Nhờ trợ giúp căn bản này, quán Cây Bông Giấy khởi sắc, giúp bọn tôi sống qua ngày tháng.
Phía gia đình Doãn Quốc Sỹ cũng không khá gì hơn. Một hôm nghe tin cháu Thanh đã mở một chỗ bán rau má xay ở vỉa hè gần Ngã Bảy, hai vợ chồng tôi ghé đến. Thanh vẫn linh hoạt, vui vẻ, pha cho hai ly nước rau má. Dĩ nhiên lần này cô gái chỉ mặc một đồ bộ giản dị cho thích hợp với vai trò cô hàng sinh tố vỉa hè. Thanh kể cho bọn tôi nghe là nàng đã có người yêu – chuyện tất nhiên thôi. Những thiếu nữ xinh xắn và duyên dáng, theo kinh nghiệm của riêng tôi, thường đắt chồng hơn là giai nhân. Thanh cũng kể là DQS bây giờ hay tọa thiền trên trại cải tạo K.1. Tin tức này làm tôi băn khoăn. Thời kỳ tôi ở trại cải tạo Trảng Lớn, tôi đã chứng kiến một sĩ quan ngày nào cũng tọa thiền ngoài sân nắng. Trên danh nghĩa là anh ta đang tu Phật đấy. Nhưng nhìn thân hình trần trụi bóng nhầy mồ hôi, dù mắt nhắm nghiền, nhưng các bắp thịt cứ nổi gồng lên, tôi có cảm tưởng như anh đang đi một đường vận khí để đối phó tới nơi tới chốn với cán bộ. Không hiểu sao tôi e ngại DQS cũng đang tọa thiền như thế. Và như thế thì dám ở lại quét trại cải tạo đến lúc tuổi già xế bóng mất. Tôi dặn Thanh là chuyến đi thăm nuôi sắp tới, hãy nói với bố là thiền không phải ở tọa mà là ở trong lòng. Dĩ nhiên anh không nghe tôi rồi, như những gì xảy ra sau này sẽ chứng tỏ.
Một hôm ghé thăm phía nhà DQS, sau khi thưởng thức một lối cắm hoa mới trên bàn – gia đình này, dù bao nhiêu năm khó khăn, cũng giữ được truyền thống bao giờ cũng có một bình hoa cắm theo ảnh hưởng của Nhật Bản – tôi được cô cháu gái tâm sự rằng sắp theo chồng chưa cưới làm một chuyến vượt biên. Tôi không ngạc nhiên về chuyện đó vì hầu hết mọi gia đình miền Nam đều rán hết sức đầu tư số vốn cuối cùng, và những thùng quà thân nhân nước ngoài gởi về, để gửi cho được một đứa con ra hải ngoại. Đứa con này có nhiệm vụ mở đường, và nhất là gửi tiền, quà về cứu nguy toàn thể gia đình. Tôi chúc Thanh thượng lộ bình an. Vợ chồng tôi theo dõi kết quả, và biết chuyến đi xuôn sẻ, tốt đẹp, Thanh đã cũng người chồng chưa cưới lập nghiệp bên xứ Úc tít mù Nam bán cầu. Dĩ nhiên đôi trẻ lấy nhau thôi, và cô cháu Thanh đã sinh con với tốc độ khá nhanh, một đứa rồi hai đứa, đúng như lời cụ xưa đã nói: Những người thắt đáy lưng ong, Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con. Và dĩ nhiên coi hình gởi về, cô Thanh mảnh mai đã biến thành một thiếu phụ trẻ phát triển đầy đặn hơn xưa nhiều.
Doãn Quốc Sỹ được tha về khá sớm. Sớm đây là so với các bạn vẫn bị bắt cùng thời kỳ mà thôi, chứ khó có thể bảo gần 6 năm cải tạo là ít ỏi được. Vợ chồng tôi đến thăm anh ở đường Thành Thái, vẫn căn nhà nhỏ khiên tốn tít trong hẻm. Hai đứa trao đổi ít kinh nghiệm trong cõi “quần đảo Goulag”, nhắc tới vài người bạn chung. Có hai người được nhắc tới với đôi chút ngắn ngủi là Nguyễn Sĩ Tế và Thế Viên. Trong các nhà văn của nhóm Sáng Tạo, Nguyễn Sĩ Tế là người hiền lành, viết cũng hiền lành, vậy mà Đảng lại chụp cho anh những cái tội nặng nhất. Tôi có thể khẳng định được tính hiền lành của anh vì khi còn nhỏ, tôi đã là học trò môn Văn của anh khi học lớp 8 Chu Văn An Hà Nội. Anh hiền đến độ học trò học trò trong giờ anh ai muốn nghe thì nghe, ai muốn nói chuyện cứ việc nói. Chẳng bù với Vũ Khắc Khoan (tôi học văn ông lớp 10) thì đố có học trò nào dám giỡn mặt. Người thứ hai được nhắc đến là nhà thơ Thế Viên. Khi tôi bắt đầu văn nghiệp thì anh ngưng sáng tác, chẳng hiểu tại sao vì anh lớn tuổi hơn, lại ít thân với tôi. Anh bị bắt chỉ vì hôm công an xông vào nhà bắt Doãn Quốc Sỹ, anh đang ngồi uống cà phê cùng chủ nhà. Doãn Quốc Sỹ kể Thế Viên cũng bị giam ở K.1, cùng phòng gian và vẫn vui vẻ, không hề oán hận gì về chuyện bị bắt oan ức như thế.
Trong lúc hàn huyên, khi bàn về chủ nghĩa Mác – Lênin và các chính sách, Doãn Quốc Sỹ có nói một điều làm tôi chú ý: “Những người cộng sản đã vận dụng tận cùng chủ nghĩa và đẩy mọi lý luận đến ranh giới cuối cùng. Sau đó chẳng còn là gì hết…” Sau đó một thời gian, Doãn Quốc Sỹ đến thăm quán Cây Bông Giấy của vợ chồng tôi. Anh chọn bàn ngoài cùng sát lộ, nên khi tôi tiến ra ngoài đón bạn, ánh nắng buổi sáng chiếu sáng toàn thể nửa trên thân hình, làm khuôn mặt anh hiện ra rõ rệt trong khoảnh khắc. Bây giờ mỗi khi nhớ lại anh, tôi vẫn còn nhớ rõ khuôn mặt dưới nắng này hơn mọi hình ảnh khác. Sau khi cùng cạn ly cà phê, bằng những lời lẽ thận trọng để những thực khách chung quanh có nghe cũng không hiểu được, Doãn Quốc Sỹ và tôi tôi đồng ý rằng cả hai đứa đều là con vật đen của chế độ, luôn luôn bị canh để đề phòng mọi kết hợp. Sự thận trọng này có thể là khó hiểu đối với những người Việt di tản 75 và những người ngoại quốc khác, còn đối với những người đã đi tù, đi cải tạo hay đã sống nhiều năm với chế độ cộng sản, thì biện pháp này chỉ là một sự phòng thủ thụ động tối thiểu. Nếu có đấu tranh, chống đối thực sự rồi thất bại mà đi tù, thì cũng được đi. Chúng tôi không hề muốn chỉ vì một báo cáo xuyên tạc của một công an hạng bét, chỉ vì dăm câu nói sơ ý trong lúc ngà ngà hơi men, mà đi tù chuyến nữa. Nhất là một trong các chiến thuật sở trường để củng cố nền chuyên chính của Đảng mà công an chính trị hay dùng là tạo ra Phục Quốc giả, Kháng Chiến giả. Họ tung ra một nhóm cò mồi đóng vai chống đối, ai ghét Đảng sẽ sáp lại gần như ruồi thấy mật… Khi nào thấy đủ một mẻ lưới thì công an tóm gọn trong một đêm, cho đi cải tạo từ năm đến bảy năm. Đảng CSVN dùng thủ đoạn này khá nhiều nên bà con cũng biết. Đến độ một câu chuyện do một sĩ quan cảnh sát cải tạo kể đã được biến thành một giai thoại khá phổ biến trong giới sĩ quan công chức chế độ cũ.
Tại ngã ba Nguyễn Thiện Thuật và Phan Đình Phùng, một sĩ quan học tập cải tạo về đang ngồi uống cà phê thì một màn kịch diễn ra. Hồi 1: Truyền đơn Phục Quốc tung ra như bươm bướm, sĩ quan cải tạo ngồi một chỗ, tiếp tục uống cà phê. Hồi 2: bà con túa ra nhặt truyền đơn, sĩ quan cải tạo vẫn tiếp tục uống cà phê. Hồi 3: Ông già Tàu bán bánh mỳ nhặt hai tờ truyền đơn, giấu dưới xấp giấy gói một tờ, đưa tờ kia cho cải tạo, bảo: “Chú đọc đi, của Phục Quốc đấy”. Cải tạo lắc đầu, tiếp tục uống cà phê. Hồi 4: Một hiệu lệnh được ban ra, công an đủ loại mai phục từ lâu chung quanh túa ra bắt những người đã nhặt truyền đơn. Một công an chĩa súng vào ông bán bánh mỳ, quát: “Đưa tờ truyền đơn giấu diếm ra đây!”. Ông già hết cãi, bị còng tay liền. Hồi 5: Một lệnh mới, các công an áp tải những người phạm tội nhặt truyền đơn, đi ngay lập tức. Ngã ba trở lại yên tĩnh và sĩ quan cải tạo về vẫn tiếp tục ngồi uống cà phê.
Dù không khí ngột ngạt như thế, DQS và tôi vẫn gặp nhau ít nhất hai lần trong Tết Nguyên Đán và lễ Vu Lan tháng bảy ở một phần đất khá trung lập là chùa Giác Minh. Một phần vì sư trụ trì Thích Đức Nhuận đã từ lâu là bạn bè khá thân – tương quan giữa thầy và tôi giống như tương quan giữa nho sĩ và thiền sư thời trước – một phần chùa này từ lâu đã được coi là chùa của gia đình cũng như dòng họ. Mộ Nhất Linh, cũng như mộ của bà Hoàng Đạo, Thạch Lam và nhiều người thân cũng đều để ở nghĩa trang Giác Minh thuộc chùa này. Những lần gặp gỡ ấy rất thỏa mái, cả hai đứa tôi đều mang theo vài ba đứa con để chúng cùng khua đũa ăn cơm chùa (hiểu theo nghĩa đen nghĩa bóng đều đúng) một bữa. Nhưng rồi sóng gió lại nổi lên cho văn giới miền Nam một lần nữa. Vụ án Hồ Con Cua bỗng dưng bùng nổ.
Vụ án này phát sinh do hai nguyên nhân. Một nguyên nhân từ văn giới, một nguyên nhân khác do chính sách củng cố chuyên chính vô sản kiểu Stalin/ Mao của Đảng CSVN. Nguyên nhân phía nhà văn: Một khoảng thời gian trước, Tổng thư ký của Bút Văn Việt Nam hải ngoại là Trần Tam Tiệp có nhắn về là Hội có quyên góp được một ngân khoản của bà con nước ngoài, có thể dùng khoản này để giúp các nhà văn nào đang đói rách ở quê nhà mỗi người một chút. Sau khi được một bạn văn cho địa chỉ, tôi viết thư cho Trần Tam Tiệp xin được giúp đỡ. Trước 75, Tiệp và tôi chưa gặp mặt nhau nhưng khá biết nhau. Thời kỳ nên Không Quân cho ra đời tập san Lý Tưởng, Trần Tam Tiệp có phụ trách tòa soạn và chính Cung Trầm Tưởng đã đến mời tôi hợp tác. Tôi chỉ gửi đăng có một bài và được trả nhuận bút khá cao… Trần Tam Tiệp trả lời vui vẻ, nhận lại bạn bè và dĩ nhiên tôi bắt đầu nhận được những gói thuốc nhỏ, khoảng chừng 2 lbs. Ngoài tôi, khoảng 20 nhà văn nhà thơ khác cũng được tương trợ như vậy, trung bình mỗi người 2 gói. Riêng tôi, vì tôi và Tiệp trở thành bạn bè qua thư từ trao đổi nên về sau, khi ngân khoản của Hội đã cạn, anh đã lấy tiền riêng gởi cho tôi hai lần nữa và hai lần này là những gói nặng ký hơn.
Chuyện Văn Bút hải ngoại tương trợ văn hữu quê nhà này, không một ai nghĩ rằng sau này sẽ bị coi như tội phản quốc và gián điệp cho ngoại bang cả. Bởi thế không ai che giấu gì nội vụ. Phía công an cộng sản dĩ nhiên phải biết từ lâu vì gia đình nào muốn lãnh quà và tiền của thân nhân nước ngoài, đều phải xin chính quyền hai cuốn sổ lãnh tiền, lãnh quà, trong đó thường khai rõ những người ở nước ngoài thường gởi cho mình. Chỉ nhận tiền gởi chui, gửi đen mới bị coi là phạm pháp thôi. Nhưng Đảng lúc đó lại đặt vấn đề khác hẳn. Và thời gian này, các sĩ quan và công chức chế độ cũ được tha về khá đông đảo, trong đó có nhiều nhà văn nhà thơ. Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Thế Viên, Dương Hùng Cường, Duy Trác và nhiều người khác nữa. Đó là một mối lo cho Đảng. Mặt khác, một số sĩ quan được tha về đông đảo lại tạo một mối lo to lớn hơn. Mặc dù mọi biện pháp khắc khe nhằm triệt hạ uy tín cũng như bao vây kinh tế đưa thành phần này xuống đất đen của chế độ, Đảng CSVN vẫn không thành công. Mà hậu quả còn ngược lại. Đảng càng gây khó khăn cho các cái tạo trở về, dân càng thương. Trong mấy năm đầu, dân còn oán trách các sĩ quan VNCH về tội đánh nhau quá dở, để sập tiệm chế độ, để cộng sản tràn vào làm khổ dân. Nhưng với thời gian, chế độ CS càng tệ hại, cán bộ càng tham nhũng thì thì dân lại càng thương các sĩ quan công chức cũ của mình. Rút cục, lúc xảy ra vụ án Hồ Con Cua, thì cải tạo trở về được bà con tiếp đón niềm nở. Đến độ một sĩ quan được tha tít mù ngoài Quy Nhơn, chỉ cần xưng mình là sĩ quan cải tạo được tha về, thì được bà con nuôi ăn, xe đò chở không lấy tiền vé, cho tới khi về tận cửa nhà – dù nhà có ở tít mù tận Long Xuyên. Cải tạo trở về sống trong dân như cá sống trong nước, được dân thương yêu và che chở, trong khi cán bộ đảng viên ngày càng trở thành giống các quan lại tham ô thời Pháp thuộc, đi đến đâu dân cũng ghét.
Trung ương Đảng rất sợ các nhà văn sẽ kết hợp với giới sĩ quan cải tạo về, mặc dù sự quản chế những người này rất kỹ, Đảng vẫn lâu lâu ngụy tạo ra các vụ án phản động tiêu biểu để dằn mặt mọi thành phần chống đối. Dĩ nhiên chẳng cải tạo nào muốn biến thành con dê chịu tội trong loại vụ án ấy. Họ thủ rất kỹ. Thành thử công an phải vơ bèo gạt tép để tạo ra những vụ án dằn mặt, thí dụ như một vụ xử ở Sài Gòn năm 1985. Theo bản án đăng tải trên tạp chí, một hạ sĩ nhất bị truy tố về tội làm Chủ tịch phong trào Phục Quốc với phó chủ tịch là một trung tá mới được tha về. Tin ngoài hành lang cho biết chẳng qua ông hạ sĩ này vốn là đệ tử cũ của ông trung tá. Hạ sĩ thì chế độ không chấp, dễ kiếm sống nên ông này cũng kiếm ra tiền. Gặp ông thầy cũ mới được tha về đói rách, bèn kéo đi nhậu một bữa với bạn bè. Rượu say thì coi trời cũng bằng vung, nữa là Đảng! Ông hạ sĩ tự phong mình là Chủ tịch phong trào Phục Quốc, phong ông trung tá là Phó chủ tịch. Thế là thầy trò cứ ngất ngưởng mà soạn ra cương lĩnh và thông điệp. Mặc dù ông hạ sĩ khóc ròng trước tòa, khai vì quá chén nên làm vậy thôi, Tòa vẫn xử tử hình. Còn ông trung tá lãnh 15 năm tù. Tuổi đã gần 60, lãnh án 15 năm coi như không thấy đường về.
Đối với các nhà văn thì không thể đạo diễn thô sơ như vậy được. Đảng dư biết vô cớ bắt nhốt nhà văn sẽ gặp phản ứng bất lợi trong nước cũng như ngoài nước. Một số sĩ quan cao cấp của bộ Nội Vụ liền đưa ra ý kiến xài lại bài bản Vụ án Hồ Con Cua 1976 (vụ án ngụy tạo này đã đưa hầu hết các người cầm bút và trí thức khoa bảng miền Nam vào tù). Dĩ nhiên lần này đạo diễn công phu hơn. Trần Tam Tiệp được tấn phong làm một nhân vật cấp cao của CIA, được cấp cho những ngân khoản khổng lồ để mua chuộc các nhà văn miền Nam viết bài chống cộng đăng ở nước ngoài. Những gói thuốc gởi về chính là tiền nhuận bút, là tiền mua chuộc. Để tạo thêm về xác thực, công an đưa ra nhân vật Nguyễn Thị Nhạn, nhân viên bưu điện Sài Gòn, kẻ được coi là tay sai của CIA Trần Tam Tiệp ở Việt Nam. Ở đây cần nói thêm là các nhân vật như Nguyễn Thị Nhạn đã có hơi nhiều và từ lâu. Lý do tại chương trình ODP. Muốn xin đoàn tụ với thân nhân trong nước, thân nhân hải ngoại phải nộp giấy từ chứng minh quan hệ ruột thịt họ hàng, và với INS của Hoa Kỳ, thì đòi hỏi rất kỹ, đòi đến cả hình 4×6 của những người được bảo lãnh để đề phòng sự đánh tráo người (cũng đã từng xảy ra). Thân nhân ở Việt Nam phải sao gởi khai sinh, gía thú, sổ gia đình cũ,… một hồ sơ khá dày nếu gia đình đông người. Nhưng khi gửi qua bưu điện thì mười hồ sơ này bị công an bưu điện vứt vào sọt rác hết chín. Bà con phải xoay sở gửi bằng những cách khác (thí dụ như gia đình người viết bài này đã phải gởi bất cứ giấy tờ gì, hình ảnh nào của gia đình mình ít nhất là 3 lần, gửi thẳng tới Mỹ, gửi qua Pháp, gửi qua Đức,… để may ra có một lần tới tay người nhận). Và cách hay nhất vẫn là chi tiền cho nhân viên bưu điện để những người này dùng thủ thuật chia chác sao cho các thư dày cộp giấy tờ đó khỏi bị vứt vào sọt rác. Nguyễn Thị Nhạn chỉ là một cô gái trẻ mới được đi làm bưu điện chưa lâu, nhưng thuộc loại nhận tiền bà con để miễn vứt thư vào thùng rác này. Có vậy thôi, nhưng bây giờ do nhu cầu đạo diễn, Nguyễn Thị Nhạn bị bắt và được gán cho một vai trò tối ư quan trọng trong hệ thống “gián điệp quốc tế” này (Trần Tam Tiệp ở Pháp).
Công an căng một màn lưới tỉ mỉ và rất kiên nhẫn theo dõi để lập một danh sách những người cần phải bắt. Dĩ nhiên những nhà văn thơ miền Nam không đề phòng gì cả. Ngay cả tôi và Doãn Quốc Sỹ cũng vậy. Cả hai đứa đều đi cải tạo vài ba niên trở lên cả, biết khá rõ những gì cộng sản có thể làm được, nhưng không thể nghĩ nổi là Đảng CSVN đã thoái hóa suy sụp yếu đuối đến độ lợi dụng đến cả việc tương trợ giữa bạn bè thân hữu lúc đói thiếu ăn, ốm thiếu thuốc men để tạo dựng một vụ án chính trị như vậy. Trước 1980, Đảng CSVN “hùng” hơn, có tư cách hơn nhiều. Theo tôi được biết, việc Doãn Quốc Sỹ, (đã được cấp giấy xuất cảnh cùng vợ đi Úc đoàn tụ gia đình với cháu Thanh), được gọi đi phỏng vấn và khám sức khỏe, đã bật đèn xanh cho vụ án mà bà con hay gọi là vụ án Hồ Con Cua. Ngành công an đã hao tổn công phu cỡ hai năm rồi, nếu để Doãn Quốc Sỹ đi thoát, thì uổng công quá. Phần tôi, không hề biết đèn xanh đã bật, nên khi nghe tin anh chị Doãn Quốc Sỹ đi khám sức khỏe để ra đi, đã rủ Thi đến thăm để liệu đường giã từ nhau. Bọn tôi đến vào một buổi chiều, căn nhà nhỏ trong hẻm Thành Thái đông văn giới. Đủ cả Thanh Tâm Tuyền, Dương Hùng Cường, Thế Viên, và một số người nữa. Tôi hỏi thăm Thế Viên về vụ bị nhốt trên sáu năm chỉ vì đã đến đây uống một ly cà phê với chủ nhà, thì anh cười rất hào sảng trả lời anh chỉ tiếc một điều là chưa được uống ly cà phê cháu Thanh pha mang ra. Phin chưa chảy hết thì công an đã ập vào. Thế Viên buông một câu: “Giá được uống cạn ly cà phê đó rồi mới bị còng thì cuộc đời còn không gì để hối tiếc!”. Tất cả những người có mặt đều cười vui vẻ vì câu nói đó… Khi tiếng cười đã dịu xuống, con trai lớn của Doãn Quốc Sỹ buông ra một câu nhận xét: “Hôm nay các chú tới đông vui quá! Chẳng khác gì họp Bút Việt…”
Thi vốn là người có một trực giác tinh tế. Nhiều lần nhờ thứ trực giác này, nàng đã gỡ tôi ra khỏi những hoàn cảnh khó khăn mà lý trí của tôi không thể tính ra được. Nàng hích tôi: “Về lẹ đi anh. Em thấy bất an”. Bọn tôi cáo biệt bạn bè, bắt tay vui vẻ từng người một. Dương Hùng Cường tiễn bọn tôi ra cửa, nói nhỏ: “Tôi đang lo lắm. Nói riêng với anh chị thôi là tôi sợ phút chót họ không cho cụ Sỹ lên máy bay đâu”. Tôi không hỏi thêm tại sao, chỉ bắt tay từ giã. Đó là lần cuối cùng tôi gặp những người bạn ấy. Hai đứa dắt xe đi bộ ra ngoài hẻm thì gặp anh chị Doãn Quốc Sỹ đi khám bác sĩ trở về. Anh chị cho biết thủ tục đã xong, mặc dù phải chụp tới lui hai lần. Anh hẹn tôi chiều hôm sau trở lại nói chuyện nhiều. Tôi y hẹn. Nhà anh khá đông người thuộc lớp trẻ, hoa lá tưng bừng và hai cậu đang dượt lại dương cầm và Tây Ban cầm ồn không thể chịu nỗi. Doãn Quốc Sỹ bèn rủ tôi đi uống cà phê. Hai đứa đi không xa, ngồi ngay quán vỉa hè đường Thành Thái. Buổi chiều đã tắt nắng, con lộ trước mặt cũng thưa xe. Hai đứa bàn về tương lai và Doãn Quốc Sỹ bày tỏ một sự hăng hái như thời thanh niên, làm tôi hơi khựng lại. Tôi nhẹ nhàng góp ý kiến là khi mới tới Úc, thế nào báo chí cũng phỏng vấn, đề nghị anh nên dè dặt trong những lời tuyên bố để khỏi kẹt cho anh em còn lại. Tôi không tiện nói với anh là trong túi tôi cũng đã có một giấy xuất cảnh đi Mỹ – từ những năm tháng dài trên rừng trước đây, tôi đã học được nhiều điều để tồn tại trong chế độ cộng sản, trong đó điều quan trọng nhất là kín đáo về mình. Doãn Quốc Sỹ ngẫm nghĩ một chút rồi trả lời: “ Anh nói đúng. Vả lại tôi cũng phải lo cho các cháu còn ở lại.” (cháu Thanh chỉ đủ điều kiện bảo lãnh cho cha mẹ già thôi)…
Hai đứa tiếp tục ngồi nói chuyện lặt vặt khác nữa, trong thân hữu và thỏa mái vô cùng. Chơi với bạn già, bạn cố tri có cái thú như thế. Tôi chỉ đứng dậy từ giã khi phố đã lên đèn. Hai đứa đồng ý đây là lần gặp nhau lần chót trước khi Doãn Quốc Sỹ lên máy bay. Tôi rất ngại đưa tiễn không phải vì lúc tiễn đưa, mà vì lúc máy bay cất cánh rồi, khi mình trở về, mới thực là ngao ngán – tôi đã kinh nghiệm một lần kiểu tiễn đưa này nên tự hứa chẳng bao giờ tiễn ai ra nước ngoài thế nữa. Tôi bắt tay anh thật thân hữu và nhẹ nhàng như bao lần rồi dắt xe xuống lòng đường. Khi tôi châm điếu thuốc lá cuối cùng Doãn Quốc Sỹ mua cho, thì anh đã xoay người bắt đầu đi vào ngõ hẻm.
Ngay đêm đó vụ án Hồ Con Cua nổ bùng. Bởi thế đó là lần cuối cùng tôi gặp Doãn Quốc Sỹ. Những gì diễn ra sau đó thật gay cấn và toát mồ hôi lạnh. Và vào những lúc khủng khiếp nhất, tự do cuối cùng của tôi mong manh như sợi tóc, tôi vẫn hay mỉm cười nói với Thi: “Dù thế nào chăng nữa anh cũng sẽ hơn được anh Thế Viên ở điểm anh đã được uống cạn ly cà phê của Doãn Quốc Sỹ!”
Tháng 6.88
Ghi chú:
“Thắt đáy lưng ong” là một cụm từ để miêu tả dáng người phụ nữ có ba vòng hoàn hảo, với vòng 1 và vòng 3 đầy đặn, còn vòng 2 thì rất nhỏ gọn và thon thả. Đây được coi là một chuẩn mực vẻ đẹp nữ tính, quyến rũ và hấp dẫn trong văn hóa dân gian và các chuẩn mực thẩm mỹ xưa, đồng thời cũng gắn liền với các câu ca dao về sự đảm đang.
Thầy tôi: Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ
Đỗ Duy Ngọc
21-10-2025

Vào những năm đầu của bậc trung học, tôi đọc được truyện ngắn “Chiếc chiếu hoa cạp điều” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Truyện đã khiến cho đứa bé mới lớn ở thành phố miền Nam là tôi thấm thía và xúc động. Một câu chuyện với lối viết chân tình như một lời tâm sự mang tính nhân văn, kể lại chuyện buồn của một gia đình trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc.
Chính phong cách viết đấy đã khiến tôi tìm đọc thêm nhiều tác phẩm của nhà văn. Ở mỗi lứa tuổi, cách nhìn vấn đề, cách suy nghĩ mỗi khác nên càng đọc truyện của nhà văn tôi càng ngưỡng mộ và kính trọng. Ở phần kết của truyện, tác giả viết:
Các bạn yêu quý của tôi!
Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ hàn mà tôi và những người thân của tôi đã trải qua, trong đó có chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều!“
Cái kết đó cho tôi hình dung ra tính cách của nhà văn, và điều đó khiến cho tôi thêm kính trọng.
Từ truyện ngắn này, tôi đến với những tác phẩm văn chương của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tôi đọc trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Tình Yêu Thánh Hóa, Những Ngả Sông trong những năm cuộc chiến tranh Nam Bắc đang thời kỳ cao điểm. Và những cuốn sách đấy giúp tôi nhìn và suy nghĩ về một mặt khác của chiến tranh.
Lên đại học, tôi học Ban Việt Hán, Đại học Vạn Hạnh và tôi hân hạnh được Học môn Phê bình văn học do Giáo sư Doãn Quốc Sỹ giảng dạy. Vốn ngưỡng mộ và kính trọng nhà văn đã lâu nên được làm học trò của Thầy đối với tôi là niềm vinh dự.
Để nghiên cứu thêm về văn học, tôi tìm đọc những khảo luận của Thầy như Khảo Luận Về Cao Bá Quát, Về Nguyễn Công Trứ, Về Đoạn Trường Tân Thanh, Về Tản Đà, Về Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tự Lực Văn Đoàn… Những tư liệu trong các khảo luận đó đã bồi bổ kiến thức cho tôi, giúp tôi có thêm hành trang phong phú trong việc giảng dạy văn học sau này.
Thầy không chỉ là nhà giáo mà còn là người viết có nhân cách và tâm đạo sáng trong, thể hiện rõ trong từng trang văn, luôn hướng về cái đẹp, cái thiện và lòng từ bi của con người Việt giữa những đổi thay khốc liệt. Những tiểu thuyết như Khu rừng lau, Gìn vàng giữ ngọc, Sợ lửa, hay tập Người Việt đáng yêu đều toát lên một tinh thần nhân bản, vị tha và đầy đạo vị mà ít người giữ được đến cuối đời. Được nghe Thầy giảng dạy những năm đại học là niềm tự hào vì Thầy là một nhân cách lớn và một cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, đặc biệt là của thời kỳ miền Nam trước 1975.
Trong thời gian học ở Đại học Vạn Hạnh tôi cũng có một cuộc triển lãm tranh riêng, hôm khai mạc Thượng Toạ Viên trưởng Thích Minh Châu và Giáo sư Doãn Quốc Sỹ cùng đến dự. Thầy bắt tay, vỗ vai tôi và bảo hay lắm. Tôi vui vì được khích lệ.
Sau năm 1975, tôi không còn được gặp Thầy. Rồi Thầy cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ. Thầy đi tù hai lần và ở trong tù Thầy đã thể hiện bản lĩnh và phong cách vững vàng của mình. Theo nhà văn Nguyễn Mộng Giác kể lại: “Đêm tối đen. Tôi hỏi thăm ông về những năm tháng ở trại Gia Trung, nhân tiện hỏi hư thực về tin đồn bên ngoài bảo rằng từ khi bị bắt, ông cương quyết quay mặt vào tường, tọa thiền diện bích, từ chối không trả lời những câu hỏi của cán bộ chấp pháp. Ông cười, rồi nói: “Anh em ở ngoài vì thương nên đồn đãi như vậy. Làm vậy có ích gì! Cái cốt yếu là giữ được tư cách“.
Thầy vẫn thế, bất kỳ trong hoàn cảnh nào cũng vững vàng, xử sự như một thiền sư. Thầy không oán hận, thù hằn và căm tức về thời gian bị tù đày, thản nhiên đi qua những khổ nạn.
Cách đây 15 năm, vào những năm 2010 và sau đó, tôi có thực hiện một trang web về văn nghệ sĩ Việt Nam và thế giới. Bên cạnh phần giới thiệu thường đi kèm chân dung. Giáo sư, Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một trong những người đầu tiên tôi vẽ và giới thiệu. Sau này, một cô bạn học ở Đại học Sư Phạm có quen biết với chị Doãn Liên, con gái của Thầy, tôi nhờ cô bạn gởi Thầy bức chân dung. Tôi mong Thầy sẽ vui vì đã hơn nửa thế kỷ với biết bao biến cố, vẫn còn đứa học trò ngày xưa vẫn tha thiết nhớ đến Thầy.
Năm 2019, trong một lần đến Mỹ, tôi đến thăm Thầy. Lúc này Thầy đã 97 tuổi, bước chân còn vững hơn tôi dù đã bắt đầu lẫn. Được gặp Thầy quá vui. Lúc ấy, Thầy thường ngồi dùng kéo cắt giấy vụn, tôi không hỏi nhưng tôi nghĩ đó là một cách vận động gân cốt. Hai Thầy trò nói chuyện nhưng mỗi người nói mỗi cách vì Thầy đã lãng tai. Đó là lần cuối cùng tôi được gặp Thầy và nắm tay, chụp hình cùng Thầy.
Thầy đã cỡi hạc quy tiên ở tuổi đại thọ 103. Nhưng những tác phẩm, cách sống và tư tưởng của Thầy vẫn còn đó. May mắn là người được học với Thầy, được nghe Thầy giảng trong những buổi học Phê bình văn học đã gieo trong tôi hạt giống văn chương, nhân bản và tự trọng trí thức. Tôi mang ơn Thầy.
Vĩnh biệt Thầy, Giáo sư, Nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ và văn học Việt Nam hải ngoại
22/07/2012
Nguyễn Mạnh Trinh
Sáng Tạo
Với nhiều người bản xứ, hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt Nam được đặc biệt chú ý. Tôi có một người bạn cùng lớp Creating & Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Việt Nam: A traveler’s literary companion “do John Balaban và Nguyễn Quý Ðức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc hội thảo văn học với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “Living Two Cultures: A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn? Nhà giáo? một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …
Có một người đã làm thơ để dường như trả lời giùm cho cá nhân tôi. Những câu thơ gợi ý và lấy từ những nhan đề của tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trong suốt hơn một nửa thế kỷ cầm bút:
“Dòng sông định mệnh”, thiên thu
“Sầu mây” còn đỉnh mịt mù dương gian
nước non mấy nẻo quan san
lốc quay thời thế gian nan một đời
Ðến. Ði. Ði. Ðến. ngược xuôi
Quê hương. Ðất lạ chỗ ngồi bụi không.
“Khu rừng lau” lửa mênh mông
“U hoài “đâu tiếng bên sông gọi buồn.
Ðường ranh lịch sử mỏi mòn
“Ba sinh” còn tấc “lửa hương” chập chờn
ngã tư bước rẽ không hồn
lưu lạc nào để mất còn hoang mang
“Ðàm thoại, độc thoại” từng trang
“Tình yêu thánh hóa” trường giang mấy nguồn
biển khơi nào rã rêu rong
ai trăng lụn tưởng nến chong dặm ngoài
“Giữ ngọc” thôi cũng “gìn vàng”
sót thiên lương với ngỡ ngàng tâm tư
“Vào thiền” giây phút hoại hư
kiết già ngục tối mắt thù chăm chăm
trong tâm linh thoảng hương trầm
trong lênh đênh có lời thầm đinh ninh
Thì thôi, “Mình lại soi mình”
“Dấu chân cát xóa bóng hình nổi trôi
“người vái tứ phương”, một đời
hoa thơm ngát để một trời mông mơ
kinh vạn quyển thiếu một tờ
chữ vô tự nẻo mịt mờ muôn năm
Tâm ai vằng vặc trăng rằm
Lời ca dao vẫn tiếng ngâm triệu đời”
Bài thơ đầy những tên tác phẩm của nhà văn thuộc vào hàng đầu của văn học miền Nam họ Doãn: Dòng sông định mệnh, Sầu mây, U hoài, Vào thiền, Khu rừng lau, Ba sinh hương lửa, Tình yêu thánh hóa, Ðàm thoại độc thoại, Gìn vàng giữ ngọc, Mình lại soi mình, Dấu chân cát xóa, Người vái tứ phương, Ði,…và cũng nêu được tính chất riêng của một kẻ sĩ phương đông. Luôn luôn chân thành và tin tưởng vào cuộc đời ở những khía cạnh nhân bản tốt. …
Những năm 1984.1985, nhà xuất bản Lá Bối ở hải ngoại có in một tác phẩm “Ði” với tác gỉa Hồ Khanh. Cuốn sách đã tạo ra dư luận xôn xao một thời lúc đó. Ðược in ở hải ngoại và chính ông là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang. Về sau này có người hỏi ông tại sao lại lấy bút hiệu Hồ Khanh thì ông trả lời rất dí dỏm:”Hồ Khanh là hành khô nói lái lại đấy..”
Câu chuyện kể lại một chuyến vượt biên ở vào thời điểm mà cây cột đèn đường ở Sài Gòn cũng muốn xuống ghe tìm tự do như lời người dân ví von. Có những đại gia đình mấy chục người vùi thân nơi Biển Ðông sóng dữ và cũng không biết bao nhiêu người bị bắt giam tù tội cũng như biết bao nhiêu gia đình bị tan nát sống lang thang vỉa hè vì vượt biên không thoát. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã mang chính cuộc đời những con cháu mình để tạo thành một tác phẩm vẽ lại một thời kỳ cực kỳ đen tối của đất nước. Người dân bị đẩy vào những cảnh ngộ không lối thoát và đã mang chính sinh mạng của mình và gia đình mình đánh bạc với rủi may. Chính vì chất bi thảm nên động tới lương tâm nhân loại và rốt cuộc mới có những đợt thuyền nhân và bộ nhân tới định cư ở các nước tự do.
Riêng với tôi, tôi biết những chi tiết trong “Ði” thực tới gần một trăm phần trăm và hình như rất ít hư cấu. Tôi vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình con cháu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên khi đọc lại những trang sách thấy mồn một rõ những nhân vật với cả những cá tính và cả hoàn cảnh nữa. Khi thường đi lại với người bạn cùng quân chủng Không Quân là con rể của nhà văn Doãn Quốc Sỹ ở căn nhà ở con hẻm đường Thành Thái tôi đã thấy được đời sống tuy thanh bạch mà rất nghệ sĩ. Sau khi bác Sỹ mới được thả về lần thứ nhất tuy công an rất để ý, nhưng ở nhà các con vẫn tụ họp ca hát những ca khúc ngày xưa mỗi khi có bạn bè mặc kệ công an, mặc kệ dò xét. Tôi nhớ có lần buổi tối ghé thăm thì thấy trước cửa con nít trong xóm bu đông lại xúm xít để nghe ca nhạc. Dù đời sống lúc đó khá thiếu thốn nhưng vẫn đầy tinh thần lạc quan. Trong hoàn cảnh căng thẳng như lúc ấy, không phải là dễ để có những phong cách như vậy.
“Ði” đã mô tả rất thực hoàn cảnh gia đình nhà văn cũng như cuộc sửa soạn chuyến vượt biển và những ngày trên biển Ðông nên có sự lôi cuốn từ người thực việc thực. Những lá thư của con cháu gửi về tả lại đời sống ở trại đảo cũng như ở xứ người biểu lộ tâm tư khá tiêu biểu của những người bị dồn vào thế phải bắt buộc xa quê hương. Ra đi mà vẫn ngoái nhìn về đất nước với những người thân còn ở lại. Riêng tôi, tôi có cảm nhận rằng tác phẩm được viết ra với một tấm lòng thương con thương cháu vô bờ. Người thường nếu có tâm tưởng như thế cũng có thể viết xuất sắc huống chi một nhà văn nổi tiếng là đôn hậu thì sự lôi cuốn độc giả sẽ lên đến mức nào!
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã muốn cho đời sau một chứng liệu về một biến cố không những riêng của đất nước Việt Nam mà còn cả chung của thế giới nữa. Tại sao cả triệu người muốn rời bỏ đất nước mình trong khi tâm lý của người Việt Nam không muốn rời xa quê cha đất tổ? Ðông lực nào đã đẩy họ đi vào một cuộc phiêu lưu, đánh vật với biển cả, với dông bão, chiến đấu với những loài người tàn ác: công an ở nội địa Việt Nam và hải tặc ở ngoài khơi Biển Ðông? Bao nhiêu người đã chôn thân xác ở dưới đáy biển lạnh? Bao nhiêu oan hồn bây giờ vẫn còn trôi nổi theo từng đợt sóng dữ loạn cuồng? Những câu hỏi ấy đã làm thành nội dung của tiểu thuyết “Ði” mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã ký dưới bút hiệu Hồ Khanh để in và phổ biến ở hải ngoại. Tiểu thuyết này bắt đầu với đại gia đình sum họp để oái oăm khởi sự cho cuộc chia ly:
“Mẹ con sau hai mươi sáu năm trời xa cách (trên một phần tư thế kỷ) được gặp nhau trước tết, lũ cháu nội ngoại được quây quần bên bà ríu rít chuẩn bị đón Xuân. Lũ cháu ngoại là đám con của Quy, đứa con gái đứng hàng thứ tư trong tổng số bảy đứa con của cụ. Như vậy là sau hiệp định Genève 1954 ba con trai hai con gái ở lại miền Bắc, hai đứa (thằng trưởng và Quỳ) di cư vô Nam. Cháu nội cũng như cháu ngoại, mặt mũi đứa nào cũng vằng vặc, mô Phật, và nhất là đức nào tâm địa cũng trung hậu, điều này làm cụ mừng nhất. Suốt từ 1954 đến nay có ngày đêm nào cụ quên niệm Phật đâu ! Nam mô đại từ bi cứu khổ cứu nạn linh cảm Quan Thế Aâm Bồ Tát” Nam mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát độ cho gia đình con sinh tâm hiền diệt tâm tham trên thuận dưới hòa một nhà êm ấm!
Tối lũ nhỏ nội ngoại tranh nhau ngủ với cụ (kể cả đứa lớn mười lăm mười bảy tuổi) để cụ gãi đầu xoa lưng trước khi ngủ.
Hạnh phúc mẹ gặp con, bà gặp cháu của một đại gia đình thương yêu hòa thuận không bút nào tả xiết. Vậy mà cụ có ngờ đâu sau đó chỉ ít lâu cụ chứng kiến cảnh chúng nó ra đi dần, có đứa bị bắt giữ rồi được thả, rồi lại ra đi nữa..”
Ðã có nhiều người viết về những trang bi sử thuyền nhân biển đông, có những cảnh ngộ thương tâm, có những hoàn cảnh tử biệt sinh ly đau đớn làm người đọc không cầm được nước mắt. Tuy cũng có cảnh người đối xử với người man rợ thú vật, nhưng nhân loại cũng có những người của những quốc gia giang tay cứu vớt thuyền nhân vì tình người. Tiểu thuyết Ði của tác giả đã viết trong chiều hướng lạc quan, của những người tin rằng ở trên cao có Thượng Ðế, có Trời Phật để phù hộ và giúp đỡ con người đang gặp cảnh nguy hiểm khốn cùng. Tiểu thuyết này ông viết vào năm 1980 lúc cao trào vượt biển đang ở cao độ và cũng là lúc con thuyền của hai vợ chồng con rể và con gái ông đến bến bờ tự do. Ông viết, có khi như là một cách thế để ân tạ đất trời…
Ông cũng viết truyện ngắn “Chuyến xe” và “Bố Về” gửi ra hải ngoại và được in trong tuyển tập “Tắm mát ngọn sông đào” như những chứng liệu của văn chương phản kháng của những nhà văn nhà thơ còn ở trong nước gửi ra thế giới bên ngoài. Những câu chuyện của một người tù của chế độ Cộng sản sau những ngày bị đầy ải trở về với gia đình trong “Bố Về” hay chuyện kể của người con đi thăm cha trong “Chuyến Xe” là những chứng tích của một thời đại mà nhà tù nhiều hơn trường học và cả nước là một nhà tù lớn mà ở đó một nhúm người lại có toàn quyền sinh sát, toàn quyền định đoạt số phận của cả dân tộc Việt Nam bằng chế độ độc tài toàn trị. Ông còn nêu lên sự tha hóa cùng cực của một xã hội mà căn bản đạo đức thông thường không còn được tôn trọng và cái chủ trương bất cứ điều gì cũng làm hết miễn có lợi trước mắt giống hệt cái chính sách cứu cánh biện minh phương tiện trở thành nguyên nhân của sự sa đọa trong xã hội.
Tiểu thuyết Người Vái Tứ Phương mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ hoàn tất năm 1982 sau bảy năm toàn thể miềnNam bị sống trong cảnh đọa đầy.Tác phẩm này được nhà xuất bản Văn nghệ in năm 1995 ở hải ngoại và là một nét đặc thù của tư tưởng của ông. Mặc dù ông đã bị chế độ vùi dập tù đầy nhưng ông vẫn giữ nguyên tâm hồn thanh thản và đôn hậu và chủ trương đem nhân ái thương yêu hóa giải tham tàn hung bạo. Nhân vật xưng tôi của Người Vái Tứ Phương là người: “năm 1970 tôi tốt nghiệp bác sĩ Y khoa tại Sài Gòn, hai năm sau tôi được cử đi tu nghiệp thêm một năm về Vi Trùng học cũng tại đại học Connecticut” Còn giáo sư Hoàn “tốt nghiệp tiến sĩ ngành Sinh vật Học tại đại học Connecticut năm 1968” nên cả hai người thân nhau và nhất là cùng có sở thích là chiêm nghiệm đời sống bằng tử vi và Dịch lý. Hai người cùng sống trong một chế độ mà trí thức bị coi là thành phần không cơ bản và bị dòm ngó rình rập. Nhất là lúc ấy phong trào vượt biên đang ở độ cao nhất. Mọi người thấy không thể sống nổi ở một chế độ như vậy, bất công đầy dẫy, kinh tế suy sụp, ngăn sông cấm chợ, đạo đức suy đồi, nên đành phải ra đi liều chết để tìm một đường sống. Giáo sư Hoàn đã xem tướng số giúp bao nhiêu người nên rất hiểu biết hiện trạng xã hôi. Ông cũng đã xem tướng số cho cả những tên công an, là thành phần cơ bản của chế độ dùng để đàn áp dân chúng. Ông khéo léo dùng lời nói để cảnh giác về những tội ác mà chúng đã phạm phải và khuyến khích làm những việc tốt giúp đỡ mọi người.Trong đó có một trung tá công an, người chấp pháp đã hỏi cung giáo sư Hoàn vì tội hành nghề bói toán và có những lời nói phê phán chế độ. Nhưng, sau cùng lại trở thành một người rất tin tưởng và theo lời dặn dò của giáo sư Hoàn mỗi nửa đêm ra bùng binh có tượng Phù Ðổng Thiên Vương làm “người vái tứ phương”. Không biết giáo sư Hoàn có làm hắn bớt đi tính ác của nghề nghiệp công an của hắn không nhưng ít ra cũng gây ra được mầm thiện tâm cho những thành phần nồng cốt của chế độ sắt máu độc tài toàn trị. Những người trí thức chỉ có thể phản ứng như thế với chủ ý là đem chính nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân mà thay cường bạo. Không hiểu trong thực tế có ảnh hưởng gì không vơí thời thế hiện nay?
Thời sự đất nước đã ảnh hưởng rất nhiều đến văn chương của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Sau năm 1954, di cư vào nam sống cuộc sống mới ông đã trải qua nhiều thăng trầm, trải qua thời kỳ Ðệ Nhất rồi Ðệ Nhị Cộng Hòa, với bao nhiêu là biến cố ông đã viết bộ trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau với ý định phác họa lại sinh hoạt của nhiều thế hệ tuổi tác nối tiếp nhau theo bước chân đi của lịch sử.
Sau năm 1975, qua một giai đoạn khác, cả nước sống dưới chế độ Cộng sản độc tài toàn trị vừa khắc nghiệt vừa bất nhân nên tình trạng của mọi phương diện đều bị xuống cấp và sa đọa đến mức khó tưởng tượng nổi. Ông đã phải trải qua 12 năm trong tù Cộng sản nhưng khẳng khái trước tòa và bất khuất trong khi bị tù giam nên đã thành một biểu tượng của kẻ sĩ miền Nam. Thái độ và hành động của ông đã làm lay động sâu xa lương tâm của những người trí thức trong nước và hải ngoại. Ông viết Mình Lại Soi Mình như một cách thế nhìn lại những sự kiện đã qua để tìm một phương cách sống tốt đẹp.
Truyện dài Mình Lại Soi Mình bắt đầu bằng một giai thoại thi ca. Dù quan niệm rằng thi ca khó lòng chuyên chở hết ý tưởng của mình nhưng ông lại sính thơ một cách đặc biệt. Như trong trường hợp mở đầu truyện dài này, bốn câu thơ hỏi và sáu câu thơ của bài đáp tạo thành nguồn cảm hứng cho tác giả. Những câu thơ vấn đáp đó là:
“Lúa Thủ Thiêm ngọn chìm ngọn nổi
Gió xa lộ lúc thổi lúc ngừng
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Vui thì vui vậy biết chừng nào xa”
Và bài đáp lại:
“đỉnh trời vằng vặc gương nga
long lanh soi tỏ lòng ta lòng mình
gương trong mình lại soi mình
thấy tình thăm thẳm thấy hình phù du
nẻo đời gió bụi kỳ khu
biết ai còn mất tình thu võ vàng”
Mình lại Soi Mình là chuyện cô Phượng trong thời gian nằm chờ để được bốc lên ghe lớn đi vượt biển ở một căn gác xép ở Vũng Tàu đã đọc lại những bản nháp của những bức thư cô gửi cho “ông nhà văn “như một cách gửi gấm tâm sự. Thơ không đề địa chỉ người gửi và cũng không chờ đợi hồi âm mặc dù lòng cô rất mong muốn. Tất cả là mười một lá thư cô gửi lần lượt cho đến khi ông nhà văn bị Công An bắt. Và cô đọc lại, trong thời gian chờ đợi chuyến đi dài lê thê, chiêm nghiệm lại những tháng ngày trải qua với những biến động lịch sử của những người thân trôi nổi theo thăng trầm của thời thế. Cô nhớ lại đời sống của cha cô, một người đã thù ghét Cộng Sản và có một sự tương đồng với ông nhà văn ở thái độ chính trị này. Ðời của cha cô đã nếm thật nhiều kinh nghiệm cay đắng và từ đó đã hiểu thật rõ bộ mặt thật của họ. Rồi lần giở những lá thư, cô nhớ đến Họa, người bạn trai và là một người lính đã tử thủ 78 ngày ở An lộc và có những kinh nghiệm về một cuộc chiến đẫm máu, không phải chỉ là xương máu của chiến sĩ hai bên mà của cả dân lành vô tội nữa. Cô lại nghĩ đến người anh tên Trung, là một bác sĩ và cũng trải qua những tháng ngày của những người ở về phía bị thua trận, thấy những ngu dốt của những người lãnh đạo mà vẫn phải ép bụng chịu đựng. Chiến dịch đánh tư sản làm cô nhớ lại người dì giàu có thời trước và bị mất nhà mất cửa của cải bị tịch thu của người dì và rồi cũng phải để lần lượt chồng và con tìm lối thoát bằng cách vượt biển tìm tự do. Phượng lại nhớ tới một người trong họ ở phía bên kia, chú Khôi, kể về những kinh nghiệm sống của một người trí thức sống và cảm nhận từ đời sống tối tăm được gọi là xã hôi chủ nghĩa. Cô lại nghĩ về anh Trung và những câu chuyện kể về những ngày bị tù tội vì bị gọi là ngụy quân của anh. Biết bao nhiêu là câu chuyện kể về những giai thoại của những người tù không bị kết án nhưng vô thời hạn như là một chứng tích rõ ràng của một chế độ rừng rú không tôn trọng pháp quyền …
Trong Mình Lại Soi Mình, nhà văn Doãn Quốc Sỹ muốn đi lại những chặng đường lịch sử, nhìn ngắm nó với suy tư và nhận định của một cô bé ngây thơ nhưng có lý tưởng. Ông quả thật đã gửi thật nhiều thông điệp tới độc giả và còn muốn gửi đến cho đời sau để phác họa lại một thời kỳ vô cùng tăm tối của lịch sử dân tộc Việt Nam. Thời của những chuyến vượt biên mà “những cột đèn đường cũng muốn ra đi”
Tập truyện ngắn Cò Ðùm được xuất bản ở hải ngoại là một thông điệp mà tác giả muốn gửi đến độc giả khi đã sang Hoa Kỳ sinh sống và đoàn tụ với con cái. Ở nơi chốn này, ông nhìn lại thời gian qua và tìm trong những tác phẩm đã viết của mình những nhận định mới. Cuốn sách gồm ba truyện ngắn và một vở kịch. Vở kịch “Tiếng hú tâm linh” của “Trái Cây Ðau Khổ “ thuở nào với những suy tư đã gây ra nhiều phiền phức cho tác giả lúc trước. Cò Ðùm là một truyện ngắn mà tác giả trong ngôi thứ nhất kể về một người bạn là một ông giáo đã sống và trải qua những ngày tháng của cuộc cải cách ruộng đất đấu tố địa chủ của Việt Minh Cộng sản. Ở đây ông dạy học và sống hoàn cảnh thiếu thốn mọi thứ của vùng kháng chiến. Người vợ của ông bị bệnh nặng mà nhà thương thì xa xôi không thể cáng đến được nên dù không tin tưởng nhưng cũng phải ép lòng để một anh y tá vườn chữa bệnh. Thế mà Cò Ðùm, tên người y tá vườn ấy đã chữa khỏi bệnh và sau đó trở thành người học trò học chữ Pháp của ông. Khi ông sửa soạn để trốn vào thành thì Cò Ðùm muốn gửi đứa con trai đi theo nhưng ông từ chối dù rằng trước đó Cò Ðùm đã giúp ông rất nhiều công việc với lòng hy sinh tốt đẹp. Trốn được vào thành rồi ông lại hối hận ray rứt vì tại sao lại từ chối một người tốt với mình như thế. Thành ra, sau này khi ông di cư vào Nam thường hay theo dõi hình ảnh những người chiêu hồi để mong tìm được và giúp đỡ người con của Cò Ðùm qua hính ảnh nhân dáng của một người mà bao nhiêu năm qua ông vẫn nhớ mãi trong tâm…
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ muốn nói gì trong truyện ngắn này? Có phải sống ở trong chế độ đầy ải con người như thế, vẫn có những nhân cách đáng kinh trọng. Những người học hành dang dở như Cò Ðùm, dù lớn lên trong gia đình địa chủ nhưng vẫn mang tính chất của người nông dân chịu thương chịu khó, hiểu lẽ sống ở đời và chỉ mong một cuộc sống thuần lương hạnh phúc. Thế mà, lớp con cái của họ, vẫn bị ép buộc cầm súng đi vào chiến trường tham gia một cuộc chiến đã giết hại hàng triệu người và tiêu hao tiềm lực quốc gia trong suốt bao nhiêu năm. Họ vẫn phải gánh vác trách nhiệm với lịch sử mà đáng lẽ những tên mại bản buôn bán chiến tranh phải chịu. Họ phải chịu những oan nghiệt của một thế thời mà những nước nhỏ bị điều động sai khiến từ những cường quốc trên bàn cờ chiến lược thế giới.
Những tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ dường như có chung một mẫu số mà văn chương dùng để tải đạo và làm cuộc sống con người tươi đẹp hơn. Có rất nhiều nhận xét về ông, như là một nhà văn có chân tài, một nhà giáo tận tụy, một kẻ sĩ khí tiết. Như nhà văn đã quá cố Võ Ðình đã viết: “sống ở một thời đại mà ngôn ngữ lạm phát thê thảm mà biết bao con người trở thành hời hợt trâng tráo Doãn Quốc Sỹ ăn ở thanh bạch tình yêu quê hương gia đình bằng hữu về nhân đạo và danh dự…mà không mảy may e dè ngượng nghịu thiển nghĩ ông thật đáng yêu ở chỗ đó…”
Riêng với tôi, qua những tác phẩm mà tôi đã đọc được, tôi tìm thấy ông là một người thầy mà những tư tưởng chuyên chở trong đó những bài học giúp tôi trưởng thành hơn trong đời sống và tìm được sự an nhiên trong tâm hồn giữa một cuộc sống đầy áp lực ở đây…
Nguyễn Mạnh Trinh
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ – Sư Cô Chân Không
Ba sinh hương lửa, Khu rừng lau là hai quyển sách gối đầu giường của tôi, đã mở mắt cho tôi từng tình tiết éo le của những người thanh niên thiếu nữ dấn thân vào việc giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ Pháp. Tôi đã đọc trên nhật báo những câu chuyện thật cảm động của những người con trai con gái trung trinh, can đảm, dũng cảm, vô vàn xứng đáng. Rồi từ từ tôi sống cùng những tình huống ôi là éo le đau xót vô cùng tận, tôi thao thức ngày đêm theo dõi từng trang hồi ký đăng trên nhật báo. Và rồi tôi bị quên mất các chi tiết sau thời gian.
Nhưng sau đó những câu chuyện kia được in thành sách Ba sinh hương lửa, Khu rừng lau và Dòng sông định mệnh. Lời văn chân thành mộc mạc nhưng ngầm chứa rất nhiều nếp sống thanh cao của những nhân vật trong truyện mà tôi vô cùng kính phục. Không phải Thầy giới thiệu và hướng dẫn “cô Tây con lớn lên trong văn chương Pháp” như tôi đọc những cuốn sách đó. Chính Thầy dạy tôi phải tìm đọc các quyển sách như Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, Nhà nghèo của Tô Hoài. Tôi đã tự đọc và tìm hiểu về tình trạng đất nước, đã thao thức ngay từ tuổi 14, 15 với những câu hỏi: Tại sao? Tại sao tôi có cơm ăn áo mặc, tại sao các cháu bé kia không được cắp sách đến trường như tôi? Những câu hỏi mà các anh chàng “các áng mây màu” của tôi không tha thiết, không cần biết.
Những ngày cuối của thành phố Sài Gòn, anh Trương Bính – một người bạn rất thân của Doãn Quốc Sỹ, ghé ngang Văn phòng Phái đoàn Hoà bình của Phật giáo Việt Nam tại Hội Nghị Paris. Anh xin theo Thầy học đạo cho đỡ cô đơn. Vợ anh mất vì không tặc làm nổ máy bay trên đường bay từ Sài Gòn đi Đà Nẵng. Gia sản của hai vợ chồng, anh chị định đem về làm một siêu thị lớn theo lối Hoa Kỳ ở Đà Nẵng, giờ đang kẹt tại các ngân hàng Sài Gòn. Mỗi sáng được uống trà với thầy trò của Phái đoàn Hoà bình Phật giáo, tôi rất ưa nghe anh Bính kể nhiều chuyện về Sài Gòn, nhưng tôi thích nhất là hỏi thăm được về nhà văn Doãn Quốc Sỹ, tác giả của cuốn Ba sinh hương lửa mà tôi đã đọc từng trang truyện trong Nhật báo Thần Chung lúc 16 tuổi. Ôi những tấm lòng trung trinh, yêu nước, yêu quê hương quá liêm trực và cũng rất nghệ sĩ. Qua anh Bính tôi biết chị Sỹ là con gái của cụ Tú Mỡ. Thầy chúng tôi thì biết nhưng tôi thì mù tịt. Tôi xin anh Trương Bính vui lòng cho tôi xin địa chỉ anh chị Doãn Quốc Sỹ ở đường Thành Thái. Thế là tôi viết thư ngay xin tên và địa chỉ của các con lớn của anh chị để xin gửi quà về làm quen và tỏ lòng tri ân. Đối với tôi, Doãn Quốc Sỹ là vị thầy đã mở mắt cho tôi về tình trạng đất nước trong những khu kháng chiến qua những mảnh đời của những người trẻ lớn lên trong tao loạn miền Bắc Việt Nam. Qua chị và cháu Thanh, tôi được địa chỉ của Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn…
Nhờ sự giới thiệu của anh Trương Bính, anh chị Sỹ thương tôi ngay như cô em gái nhỏ. Tôi là cô Chín của các cháu Thanh, Liên, Hưng, Hương. Vui quá là vui! Lần nào cô Chín gửi về những gói quà nhỏ thì chị cũng bảo các cháu đem hộp thuốc cảm này, mấy viên Cequinyl chia cho Thanh Tâm Tuyền và cho họ địa chỉ của cô Chín khi họ cần thuốc men. Vì vậy cho nên các vị lần lượt liên lạc với tôi khi cần thuốc men. Thư nào cũng cám ơn cô Chín, thăm anh Bính và kính lời thăm “dì Năm”. Hạnh phúc lớn của tôi lúc này là được thư các cháu kể cho nghe chuyện bao nhiêu lần công an đến nhà xét lúc 12 giờ khuya, 1 giờ sáng rất kinh khiếp. Họ vứt tung tất cả sách vở giấy tờ của gia đình. Họ thô tháo lục tung giấy tờ của bố các cháu là anh Doãn Quốc Sỹ. Nhưng suốt ba tiếng đồng hồ anh đã đã ngồi thiền thật yên trước bàn Phật. Tiếng hét, tiếng doạ nạt càng dữ dằn thì bố các cháu càng ngồi yên. Yên cho tới nỗi họ không dám đánh bố dù là một tát tay. Cuối cùng gia đình anh Doãn Quốc Sỹ cũng gửi được một tác phẩm “chui” cho cô Chín và thư nào cũng kính lời thăm “dì Năm”. Dì Năm là ai các bạn biết không? Đó là thầy Nhất Hạnh. Sau này các cháu giải thích là bố Sỹ của các cháu nói bố thương Thầy như mẹ nên bảo gọi “dì” cho thân thương, “dì Năm”, trên danh nghĩa là em của mẹ anh Sỹ nhưng mà thật ra là thầy Nhất Hạnh.
Anh Bính đã mất trong thời gian tôi bận bịu trong công tác phụ tá cho Thầy trong chương trình Máu Chảy Ruột Mềm cứu thuyền nhân trên biển của World Conference on Religions and Peace – (WCRP). Hội này đã bầu và đề cử Thầy làm giám đốc (mời độc giả xem tập 2 Bước chân hộ niệm, hơi thở từ bi).
Quyển sách Đi là tác phẩm đầu tiên của Hồ Khanh (bút danh của anh Doãn Quốc Sỹ). Qua quyển Đi, độc giả biết được cách sống thanh bần mà cao quý dễ thương của gia đình ông giáo Doãn Quốc Sỹ. Vậy mà tại sao anh phải ĐI thôi!
Mình Lại Soi Mình

Thay Lời Tựa dành cho tập truyện “Cò Đùm” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
Hoàng Khởi Phong
Văn Việt

“Ngã kim nhật tại tọa chi địa
Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi“
Nguyễn Công Trứ

1- Với tôi nhà văn Doãn Quốc Sỹ là bậc trưởng thượng. Khi tôi ra đời, ông đã bước vào tuổi hai mươi, đã hăm hở lên đường cứu nước. Bởi vì năm 1943, dân tộc Việt chúng ta có tới hai cái ách ngoại bang tròng vào cổ. Trước tiên là người Pháp, đã đặt nền bảo hộ hơn nửa thế kỷ đầy máu. Kế đó Đệ Nhị Thế Chiến đã mang Quân Đội Nhật vào trú đóng trên đất nước chúng ta, rêu rao chiêu bài Đại Đông Á. Nhưng mà người Nhật cũng không khác gì Pháp, cái họ mang tới không phải nền độc lập, sự thịnh vượng, mà chỉ thêm vào những dòng máu khác. Đó là chưa kể tới những cái ách, của chính người Việt choàng lên cổ lẫn nhau. Nên vì đó bất cứ một thanh niên nào nhiều nhiệt huyết, thao thức tới vận mệnh tổ quốc, đều không sớm thì muộn cũng sẽ hăm hở lên đường như Doãn Quốc Sỹ.
Nên tôi không lấy làm lạ, nếu như nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã có một thời gian bôn ba trong vùng kháng chiến. Khi người ta còn trẻ và lòng đầy lý tưởng, ngay cả việc hy sinh tính mạng cũng là một điều nhỏ, thì sá gì những chặng đường rừng, những ngọn đồi cao, những con sông rộng. Khi người ta còn trẻ và tràn đầy những giấc mộng lớn, thì sá kể gì bụng đói, trên thân người một manh áo mỏng, một chiếc quần vải thô. Bởi vì người ta đem thân ra đi, để sống muôn đời. Mưa và nắng gió đường xa chỉ có thể làm cho lý tưởng vững chắc hơn, chứ không bao giờ làm cho nhụt đi những tin tưởng mãnh liệt vào tương lai của tổ quốc. Chọn lựa vào đời đầu tiên của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, là tham gia vào bất cứ một tổ chức nào, đi trên bất cứ con đường nào, miễn sao cứu được tổ quốc ra khỏi cảnh khốn cùng. Ông đã đem tuổi thanh xuân của ông, cống hiến cho cuộc chiến đấu một mất, một còn của tổ quốc, như bất cứ một người tuổi trẻ nào, ý thức được bổn phận của một công dân trong một xứ sở bị trị. Trước Doãn Quốc Sỹ nhiều thế hệ, những người thanh niên đã ra đi. Sau Doãn Quốc Sỹ sẽ còn nhiều thế hệ nữa tiếp tục lên đường.
Thế nhưng chỉ vài năm sau, Doãn Quốc Sỹ đã mơ hồ nhìn thấy con đường ông chọn, rồi ra sẽ không đưa tổ quốc tới được một tương lai tươi sáng hơn, nếu không muốn nói là tăm tối hơn, tàn bạo hơn so với sự cai trị của người ngoại chủng. Chính vì đó mà ông đã trở về thành, yên tâm đến trường, hoàn tất việc học mà ông đã bỏ dở. Ông đã phải bỏ lại đằng sau, cuộc chiến đấu ông đã chọn lựa, để rồi năm 1954, ông đã dắt díu gia đình vào Nam, chiêm nghiệm lại sự thất bại của thế hệ ông trước những đòi hỏi của lịch sử. Chính vì đã vào thành, bỏ dở lý tưởng ông đã chọn trong lúc tuổi thanh xuân, ông đã phải tìm con đường khác, để hoàn thành giấc mộng cũ. Đó là một trong những lý do khiến ông trở thành nhà văn sau này. Bởi vì văn chương chính là một sức mạnh tiềm ẩn, người ta không thể nhìn thấy, không thể cân đo, đong đếm được sức mạnh của văn chương. Nhưng người ta cảm nhận được sức mạnh của văn chương, chữ nghĩa.
2- Nhiều năm sau tôi bắt đầu thích đọc sách. Biết thế nào là những cuốn sách hay, và những cuốn sách biết hay không biết phân biệt thế nào là văn chương và thế nào là những chuyện hoang đường tưởng tượng. Tôi đã đọc Doãn Quốc Sỹ và mơ hồ nhận biết: Một tác phẩm lớn mở lối tới tương lai, khác với một cuốn tiểu thuyết hay, phục vụ cho thị hiếu bình thường của người đọc. Một tác phẩm kích thước, có thể thay đổi số phận nhiều con người, thường khi là một cuốn sách bán không chạy.
Khi nhận biết được những điều này, tôi bước chân vào tuổi hai mươi. Tuổi của Doãn Quốc Sỹ khi ra đi tham gia trận chiến của ông. Thế hệ tôi lớn lên có một trận chiến khác. Nhưng rồi trận chiến nào cũng giống trận chiến nào. Cũng súng đạn ngoại bang, cũng máu xương dân Việt. Có khác chăng giữa hai trận chiến là diện mạo quân thù. Khi Doãn Quốc Sỹ chong mũi súng về phía đằng trước, thì trước mặt ông là những người thực dân Pháp da trắng, cùng những người lính đánh thuê da mầu. Phía trước mũi súng của tôi là những người đồng chủng, tệ hơn nữa có thể là những anh em con chú, con bác đã không di cư vào Nam như gia đình tôi. Nói một cách khác, thế hệ chúng tôi tiếp tục trận chiến bỏ dở của thế hệ Doãn Quốc Sỹ. Riêng Doãn Quốc Sỹ, ông đã chọn trận chiến của riêng ông, là gióng lên những thất bại của thế hệ ông, nhằm cảnh giác thế hệ chúng tôi trong thế trận mới.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đến với tôi có một vị trí đặc biệt. Trước tiên do những thất bại của ông và của thế hệ ông, những thất bại vì không thể nhắm mắt đồng lõa với sự tàn bạo của con người, dành cho con người. Ông đã bỏ lại đàng sau, cái hàng ngũ đã reo rắc kinh hoàng, tang tóc cho một nửa nước phương Bắc. Ngay khi đặt chân xuống miền Nam, ông ngồi xuống bàn viết, và thế hệ chúng tôi nhận được bức thông điệp đầu tiên của ông. Trong tư cách một nhà văn, ông cổ súy cho: “Lòng nhân ái”.
Để chống lại sự tàn bạo đến phi nhân của kẻ địch, võ khí mà nhà văn sử dụng chính là lòng thương yêu. Năm mười tám tuổi, khi đọc “Dòng sông định mệnh”, “Chiếc chiếu hoa cạp điều” của ông, tôi bắt được những ý nghĩ trong lành trong từng trang sách.
Nói một cách khác trong đời chiến đấu khá ngắn ngủi của ông, ngay khi phát giác những người sát cánh bên cạnh mình, là những con người bạo tàn với đồng loại, với ngay cả đồng bào của chính mình. Khi phát giác ra điều này, nhà văn phải lập tức quay lưng lại với quyền lực, không những quay lưng lại mà còn phải lớn tiếng tố cáo, chống lại những bạo lực này, bằng cách ghi lại những ao ước của mọi người, thể hiện những ao ước này bằng lòng thương yêu, nơi mọi nhân vật trong tác phẩm của mình. Tính nhân bản luôn là nét chính, trong các tác phẩm đầu tiên của nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
Năm 1963, tôi hai mươi tuổi, nằm trong quân trường Thủ Đức. Tôi đọc cuốn đầu của bộ trường thiên tiểu thuyết bốn cuốn “Khu rừng lau”, của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Bên ngoài hàng rào quân trường, xã hội miền Nam đang trải qua những cơn bão tố chính trị. Thời đó ông chỉ mới hoàn tất cuốn đầu: “Ba sinh hương lửa”, 1962, để rồi những năm sau, trôi nổi trong đời quân ngũ, lúc nào tôi cũng quan tâm đến các phần còn lại của bộ trường thiên tiểu thuyết này: “Người đàn bà bên kia vĩ tuyến”, 1964, “Tình yêu thánh hóa”, 1965 và “Đàm thoại độc thoại”, 1966.
Cách ông đặt tên cho toàn bộ trường thiên, cũng như từng phần cho thấy trong tác phẩm này, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã bầy trước mặt ông quá nhiều vấn đề, quá nhiều mong ước. Éo le thay giải quyết các vấn đề này, cũng như làm đầy những ước mơ này, không nằm trong tay các nhà văn. Đau lòng hơn thế, suốt trong hơn hai thế kỷ cận đại, chưa bao giờ số phần của dân tộc Việt Nam, nằm trong tay dân tộc Việt Nam. Trong bộ trường thiên này, người đọc nhận thấy những biến đổi của chính trị, xã hội bên ngoài, khiến cho Doãn Quốc Sỹ nhìn lại chỗ đứng của ông. Ông đã chọn lầm vị trí khi rời nhà ra đi, tham gia kháng chiến. Chẳng lẽ ông lại lầm một lần nữa?
Một đàng là những bạo tàn đến từ phương Bắc, một đàng là những ung thối của miền Nam. Nhà văn đứng giữa cô đơn biết dường nào. Doãn Quốc Sỹ đã ký thác tâm trạng băn khoăn của chính ông, đan những suy nghĩ dầy dặc của ông, vào hành động của các nhân vật trong bộ trường thiên này. Ông vẫn giữ được trọn vẹn lòng nhân ái cũ, nhưng chen vào đó là những phút bâng khuâng, những câu hỏi về ngày mai. Giọng văn tha thiết với người, với đời còn đó, nhưng niềm tin bạt núi vào tương lai quả có sứt mẻ khá nhiều. Trong cung cách một nhà giáo, đào tạo những nhà giáo khác của ngành Sư Phạm, may thay ông còn được một ngõ thoát khác: Ông đã trực tiếp chuyển những chân thành nơi ông, sang những người học trò của ông nơi ghế nhà trường, ủy thác cho những nhà giáo tương lai việc trao truyền lại “thông điệp nhân ái”, mà ông đã dùng những tác phẩm văn chương của ông như một phương tiện để truyền đạt.
3- Năm 1975 ập tới, thế hệ của tôi mang về cho tổ quốc một kết quả tương tự như thế hệ Doãn Quốc Sỹ. Thế hệ của ông tuy thất bại, dẫu sao nữa vẫn còn giữ được cho chúng tôi một khoảnh đất tự do, một chút vốn liếng cuối cùng. Thế mà thế hệ chúng tôi nỡ lòng nào đánh mất cái vốn liếng cuối cùng này, để đến nỗi toàn bộ xứ sở chìm trong tù ngục. Tháng Tư năm 75, khi những người Cộng Sản ngoài Bắc tràn vô chiếm lãnh Sài Gòn, Doãn Quốc Sỹ đã không may mắn như năm 54. Ông ở lại và nhận lấy hậu quả nơi những dòng chữ chuyên chở lòng thương yêu của ông. Ông bị Cộng Sản giam giữ cùng với nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo của miền Nam. Nhiều người đã nằm xuống trong hàng rào, nhiều người được phóng thích, nhưng khi ra khỏi cổng nhà giam, chỉ còn là một thân xác bất động, thân nhân chỉ còn một thời gian rất ngắn kịp chạy ma chay. Tha về để trại giam tiết kiệm được một xuất cơm mỗi ngày, vài viên thuốc hết hạn, và một vài miếng ván đóng quan tài.
Cũng như bao người khác, thoạt mới bị giam giữ Doãn Quốc Sỹ bị bao trùm bởi sự sợ hãi. Nhưng nhờ đã có kinh nghiệm với người Cộng Sản trước kia, và nhờ ý chí mạnh ông đã qua khỏi được giai đoạn kinh hoàng khi mới bị bắt giam. Ông tiết kiệm từng hơi thở, gìn giữ mỗi cử chỉ, cốt để cho những người quản giáo không có cơ hội xúc phạm tới nhân phẩm của ông. Ông hít sâu vào lồng ngực, thở ra chậm chạp, như thở của một tu sĩ trong cơn tọa thiền. Vả lại nhà văn là những người có khả năng phân thân, có thể nhẩy lùi lại quá khứ, sống cuộc đời trăm năm trước, hay phóng mình tới xã hội của trăm năm sau, do đó thân tuy bị giam trong ngục tối, nhưng hồn thì ở cuối chân trời. Tuy bị bóng tối bao phủ, nhưng trong mắt nhìn của nhà văn, ông bắt gặp những mầu sắc tươi đẹp của ngày mai.
Doãn Quốc Sỹ là một trong những nhà văn của miền Nam được “chiếu cố” kỹ nhất. Nếu như trước kia ông không về thành, với khả năng của ông, có thể ông đã là một trong những người di rao giảng chiến thắng. Nhưng hơn hai chục năm trước, ông đã chọn vị trí cho riêng ông, ông đã đứng trong hàng ngũ của kẻ hôm nay chiến bại, nên vì thế mà những tác phẩm ông viết, đã bị những người được gọi là “nhà văn” xăm soi từng chữ, từng dòng. Người ta dùng kính lúp chiếu lên từng cái chấm, từng dấu phẩy trong những trang sách này, mong tìm tòi gán ghép cho nhà văn, những tội danh không tưởng. Song song với việc khai báo trong những lần làm việc với “chấp pháp”, lúc nào ông cũng nghĩ tới việc sử dụng ngòi bút khi ra tù. Chính vì vậy mà những năm đầu 80, sau khi ông được thả lần đầu, độc giả hải ngoại được đọc tác phẩm “Đi” của “Hồ Khanh”, từ trong nước chuyển ra hải ngoại. Hồ Khanh chính là bút hiệu “viết chui” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Trước sau ông bị bắt đi thả lại nhiều lần. Ông bị giam hơn 10 năm, và đặt chân tới Mỹ tháng Hai năm 1995. Ông đã 72 tuổi, đủ để bước vào cái tuổi mà các cụ cho là thất thập cổ lai hy. Ngay khi đặt chân xuống vùng đất mới, con người nhà văn trong ông sống lại, ông làm quen với những độc giả cũ của ông với ba tác phẩm: “Mình lại soi mình”, “Người vái tứ phương”, “Dấu chân cát xóa” mà trong đó có cuốn “Dấu chân cát xóa” là một tác phẩm được viết vào năm 1974, chưa kịp mang đến nhà in thì tai họa đã ập xuống đầu cả nước.
Những ai đã từng yêu Doãn Quốc Sỹ, nhận ngay ra văn phong của ông trong ba tác phẩm này. Ông là một ngòi bút dùng để tuyên dương điều thiện, cái đẹp, thế mà ông bị giam hãm trong một vùng đất mà tính ác và điều xấu bao trùm tới khóm cây ngọn cỏ. Thêm vào đó gần hai chục năm đắm chìm trong suy nghĩ, không có dịp cầm bút, nên cái nhịp của các tác phẩm này chậm chạp, các nhân vật ít linh hoạt hơn, so với những nhân vật trong các tác phẩm trước kia của Doãn Quốc Sỹ.
4- Tác phẩm mới nhất của nhà văn Doãn Quốc Sỹ có tên là “Cò Đùm”. Đây là một tác phẩm mới mà cũ, bởi vì ông đã viết truyện ngắn này vào năm 71. Cuốn sách được ông quyết định mang in sau khi ông đã hít thở không khí tự do của nước Mỹ chẵn tròn một năm. Trong một năm đó, gót chân ông đã vân du hai ba đại lục. Ông đã nhìn thấy tận mắt, đã nghe tận tai, đã thấy thế nào là hoan hô, đả đảo. Ông có dịp quan sát từ đối cực này sang đối cực khác. Những năm trong tù giúp ông có thời gian nghiền ngẫm lịch sử. Ông chiêm nghiệm được một điều: Trong các cuộc biến thiên của lịch sử bất lợi cho đất nước, trong mọi cuộc chiến tranh, đặc biệt là trong các cuộc nội chiến, lớp người thiệt thòi, khổ đau nhất là những nông dân, mà nhân vật “Cò Đùm” là một thí dụ. Nhưng cũng chính những người nông dân này có sức chịu đựng bền bỉ nhất. Chính những người nông dân này, đã oằn vai sốc vác gánh nặng của lịch sử trong những thời khoảng đen tối nhất. Họ là những mạch sống ngầm của dân tộc, hệt như những mạch nước do địa thế không thể chẩy lộ thiên, đã ngấm xuống và chẩy ngầm trong lòng đất. Khác với dòng nước sông Hồng đỏ ngầu máu địch, họ là những cái giếng trong cho mỗi một ngôi làng. Trong những lũy tre xanh, mỗi một ngôi làng là một cứ điểm tích lũy vốn sống của tổ tiên. Dưới mái ngói của mỗi ngôi đình là một niềm tự hào riêng của từng địa phương, mà ở đó những người dân quê tuy hiền lành, nhưng bướng bỉnh duy trì những mạch đời, liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Sự khôn ngoan của “Cò Đùm”, không thể là cái khôn ngoan rút được từ trong sách vở. Sự khôn ngoan đó là kinh nghiệm sống của nhiều kiếp con người. Những kinh ngiệm đó không phải thứ kinh nghiệm ù lì. Mà trái lại đó là những ứng dụng đầy sáng tạo. Trong những điều kiện thật khắc nghiệt của lịch sử, quân thù giới hạn việc di chuyển, thông thương. Mỗi một ngôi làng vẫn có thể tồn tại được, cho dù không được tiếp xúc, giao thương với các làng khác. Những cải tổ nông nghiệp thường khởi đi từ dân chúng, thí dụ như cách làm khoán cho từng gia đình, là sáng tạo của người nông dân Việt Nam, trước việc làm chung hợp tác xã cái kiểu cha chung không ai khóc được ứng dụng tại Trung Cộng trong những năm của thập niên 60. Muời năm trước Sài Gòn là một thành phố buồn thảm, như một cái cây trụi lá trong mùa đông, hiện nay đã có những tàn lá xanh, tuy chưa phải là mùa xuân, nhưng ít ra thành phố đã có mầu sắc. Sự thay đổi này được khởi đi từ dân chúng, không phải bởi những sắc lệnh “đổi mới” được ban bố từ trên xuống.
Hãy tưởng tượng những “Cò Đùm” của đất nước chúng ta, trong thời Bắc thuộc, khi chưa có bà Trưng, bà Triệu, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục… cho tới khi lịch sử sản xuất một Ngô Quyền. Thế rồi trên dòng trường giang của lịch sử, khi nòi Hán với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xâm lăng từ bên ngoài, mà nước Việt chưa kịp có những Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… Rồi gần chúng ta hơn nữa, trong thời Pháp thuộc, cái bạo tàn của thực dân được hỗ trợ bởi sự nhu nhược của triều đình, cộng thêm với sự nhũng lạm của các tham quan đã khiến cho dân chúng phải gầm mặt mà sống. Phải sống mà chờ một người anh hùng áo vải của ngày mai. Để có thể sống còn khi mà lịch sử còn đang u u, minh minh, những lũy tre làng hữu hiệu hơn các đô thị. Mỗi một ngôi làng là một cứ điểm đơn độc lặng lẽ sống, kiên nhẫn chờ, cho đến khi bóng dáng người anh hùng thực xuất hiện, bởi vì hơn bao giờ hết thời đại của chúng ta có quá nhiều anh hùng giả. Khi những người của lịch sử xuất hiện, thì ngàn vạn ngôi làng, ức triệu con người như “Cò Đùm” ngẩng mặt lên, nhất tề đứng dậy xếp hàng sau lưng người của muôn đời dựng lại lịch sử. Hãy tưởng tượng những “Cò Đùm” hôm nay, đang cúi mặt xuống, sống để mà sống. Ôi những người nông dân sông Tiền, sông Hậu, những người nông dân Nam Định, Thái Bình… Đã bao đời nay họ sinh ra để làm nông dân, không phải để làm đảng viên. Họ có thể bị chóa mắt bởi những lời phỉnh phờ, bởi những thủ đoạn của những người thực dân xâm lược, bởi những ông quan khệnh khạng trong triều, bởi những người làm chính trị nhiều thủ đoạn, và bây giờ là những người đảng viên Cộng Sản u tối đầy bạo lực. Họ có thể bị lừa năm, mười, hai mươi năm, và rồi cái vốn sống tiềm ẩn của bao nhiêu đời tích lũy, sẽ giúp họ giữ được bản chất hiền hòa của tiền nhân, nhẫn nhục sống chờ một ngày mai lịch sử thăng hoa, và muôn triệu con người có một kiếp người. Những người nông dân, những “Cò Đùm” của đất nước hiện nay, không có phương tiện để phản đối như chúng ta tại hải ngoại, không có báo, không có đài phát thanh, truyền hình, không có những diễn đàn cờ quạt, biểu ngữ, bích chương, khẩu hiệu. Cũng không có quần áo đẹp trịnh trọng phát biểu trước những dẫy micro, tuôn ra những lời nói kêu mà rỗng, hay những lời đả kích cho sướng miệng. Đã nhiều năm nay, tôi thấy những bài diễn văn của chúng ta, chỉ vang vang trong các hội trường, trong các góc phố, nơi các địa điểm tổ chức mít tinh, biểu tình. Những bài diễn văn của chúng ta hệt như những viên sỏi ném xuống một ao bèo, chỉ tạo được vài gợn sóng lăn tăn, rồi trả lại sự phẳng lặng cho mặt nước. Đã muôn đời nay, nông dân là những lớp sóng người, nhấp nhô theo vận nước. Họ làm nên sức mạnh chịu đựng trong mọi cơn khốn cùng của lịch sử, để rồi khi mạch sống dân tộc vươn lên, những lớp sóng người này cũng không được hưởng những vinh quang. Cái mà họ cần, chính là một cuộc sống ấm no hơn, con người ăn ở với nhau tử tế hơn, nhân ái hơn. “Cò Đùm” là một tập truyện ngắn, đã được nhà văn Doãn Quốc Sỹ viết không phải để phô diễn văn chương, mà để nói lên những chiêm nghiệm của ông trước những cơn ba đào của lịch sử, như hầu hết những tác phẩm cũ của ông.
Cách ông viết bây giờ, là lấy ngón tay chỉ mặt trăng. Hãy chú trọng tới mặt trăng, còn ngón tay chỉ là phương tiện.
5- Ở vào tuổi thất thập cổ lai hy, những tác phẩm mới của nhà văn Doãn Quốc Sỹ quả đúng là “Văn Dĩ Tải Đạo”. Trong văn chương, ông chống lại mọi guồng máy làm cho sức sống của dân tộc bị trì trệ. Bất kể guồng máy đó thuộc về phía nào. Ông viết từ tốn, không khoa đại ngôn ngữ, song thái độ của ông là một thái độ quyết liệt với bạo lực và tăm tối.
Với tôi nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một bậc trưởng thượng. Trên con đường văn nghiệp, ông đã khởi hành trước tôi 20 năm. Với tên tuổi, và những tác phẩm ông đã đóng góp với dòng văn học gần nửa thế kỷ nay, ông không cần một bài tựa. Bài viết này nghĩ cho cùng chỉ là những lời cám ơn, của một người khởi hành sau ông một khoảng thời gian, cách ông một thôi đường. Trong hành trình tiến tới tương lai, có thể ông sẽ nằm xuống trước tôi. Điều quan trọng chính là những nhát búa mở đường của ông và của thế hệ ông để lại, đã giúp cho hậu sinh chúng tôi tiến về phía trước thêm được một khoảng cách. Tôi tin rằng thế hệ của tôi cũng sẽ làm những việc tương tự, phóng những nhát búa, phạt những đường dao khác tiến tới phía trước.
Tôi cầu chúc nhà văn Doãn Quốc Sỹ sức khỏe, sống lâu trăm tuổi để có thể thấy những “Cò Đùm” của ông nơi quê nhà, rồi ra sẽ không còn cúi mặt.
Cò Đùm (truyện dài, 1997)
Ghi chú:
“Ngã kim nhật tại tọa chi địa
Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi“
Hai câu này ở bài Tựa trong cuốn Tây sương kí của Vương Thực Phủ đời Nhà Nguyên, nghĩa là : Tại chỗ đất ngày hôm nay ta ngồi, từng có người ngồi trước ta rồi. Chúng nằm trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ https://taodan.com.vn/chu-nhan-nguyen-cong-tru.html
Doãn Quốc Sỹ: nhà văn thần thoại

Từ thời say mê đọc sách trong các năm trung học, tôi đã nhìn thấy chung quanh mình như là một cõi phân đôi: thế giới thần thoại và thế giới đời thường. Cái nhìn đó vẫn theo tôi không rời, và tôi tin thật rằng các nhân vật trong truyện về các nàng Mị Nương, truyện Bích Câu Kỳ Ngộ của Việt Nam vẫn đang đi lại bên các vị thần của cổ tích Hy Lạp bên ngoài hiên nhà của tôi. Hễ tôi hé cửa nhìn ra là họ biến mất, nhưng khi khép cửa lại, tôi nghe được tiếng họ thì thầm như thúc giục tôi mở ra các trang sách để đọc về những cõi rất là thơ mộng.
Nhiều năm về sau, khi đọc nhiều hơn, tôi mới nhận ra rằng các trang sách của các nhà văn như Doãn Quốc Sỹ, Charles Perrault, Hans Christian Andersen, và Leo Tolstoy là những cánh cửa để tôi nhìn vào thế giới thần thoại, nơi rất nhiều nhân vật của họ là hiện thân của thơ mộng, yêu thương, và bất bạo động.
Các nhân vật của họ như dường không có thật. Nhưng khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ, với nụ cười thơ mộng không bao giờ tắt, bước vào tòa soạn Việt Báo, thế giới đời thường của cực nhọc, của suy tính, của các bài bình luận nhức đầu về kinh tế, chính trị, xã hội đều tan biến trước mắt tôi. Thế giới thần thoại hiện ra, bay lơ lửng quanh tôi, theo chân nhà văn họ Doãn, bất kể rằng ông đã vào tuổi lãng đãng. Mà nói cho cùng, có nhà văn, nhà thơ chân thực nào mà không lãng đãng, không cách này thì cách kia.
Thường thì tôi lúng túng khi nói chuyện, vì luôn luôn có người nhà đi theo nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tôi không giữ được cách xưng hô cho thống nhất. Tôi lại thân với bạn Doãn Quốc Hưng, người con trai thường dẫn nhà văn họ Doãn đi nơi này, nơi kia. Tôi hiếm khi nói trực tiếp với nhà văn họ Doãn, vì không biết nói gì với nụ cười rất mực Niết Bàn của cụ. Khi nói chuyện với mọi người, có khi tôi gọi nhà văn Doãn Quốc Sỹ là cụ Sỹ hay là bác Sỹ (khi nhớ rằng mình là bạn của Hưng), có khi gọi là anh Sỹ (khi nhớ rằng nhà thơ Trần Dạ Từ ở tù chung với nhà văn Doãn Quốc Sỹ nhiều năm), và gọi trang trọng là nhà văn khi ngồi viết tin. Và tôi nhận ra, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là người của thần thoại, và là người viết cho nền văn học thần thoại. Chắc chắn, nhiều người cũng sẽ mơ hồ nhìn thấy như thế. Mỗi dân tộc sẽ có một người độc đáo như thế.
Trường hợp nước Pháp là nhà văn Charles Perrault (1628–1703), không chỉ kể chuyện cổ tích cho trẻ em, mà còn gieo vào lòng người lớn những hạt giống yêu thương, đức hạnh. Trong các tác phẩm như Cô bé Lọ Lem hay Người đẹp ngủ trong rừng, nhà văn đã thần thoại hóa thế giới đời thường. Perrault không ca ngợi chiến thắng bằng sức mạnh, mà bằng lòng kiên nhẫn và tình yêu thương.
Trường hợp Đan Mạch là nhà văn Hans Christian Andersen (1805–1875), nơi nhân vật nào cũng ngây thơ và trong sáng. Ông viết cho những người bé nhỏ trong xã hội—cô bé bán diêm, chú lính chì, con thiên nga trên hồ —những nhân vật chịu đau khổ nhưng không đánh mất lòng yêu thương. Truyện của Andersen thần thoại hóa thế giới chung quanh, biến chiếc que diêm, hay giọt nước mắt thành biểu tượng tình thương. Văn chương của ông là ánh sáng dịu dàng soi rọi vào cuộc đời, để chúng ta học cách yêu thương nhau hơn.
Trường hợp nước Nga là nhà văn Leo Tolstoy (1828–1910). Tolstoy không chỉ là tiểu thuyết gia vĩ đại, mà còn là nhà hiền triết của lòng từ bi và bất bạo động. Trong những truyện ngắn đạo đức như Ba câu hỏi (The Three Questions), hay tuyển tập truyện trẻ em “The Lion and the Puppy: And Other Stories for Children”, ông dùng ngôn ngữ giản dị để truyền tải thông điệp sâu sắc về sự yêu thương, tha thứ và sống vì người khác. Tolstoy tin rằng sự trong sáng của tâm hồn là con đường duy nhất để nhân loại vượt qua khổ đau. Ông phản đối chiến tranh, lên án bạo lực. Tolstoy viết không phải để giải trí, mà để thức tỉnh trái tim con người.
Trường hợp Việt Nam là nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), người sống giữa rất nhiều môi trường bạo lực, từ chiến tranh cho tới nhà tù, nhưng ngòi bút vẫn hướng về một thế giới thần thoại trong đời thường, nơi các nhân vật là hiện thân rất mực trong sáng của tình yêu thương, lòng từ bi, sự hy sinh. Truyện của Doãn Quốc Sỹ phần lớn mang màu sắc u buồn nhưng thơ mộng, viết về đời thường mà y hệt truyện cổ tích. Và thực sự là họ Doãn đã kể chuyện thần thoại với tuyển tập “Thần Thoại: Nhật Bản – Đại Dương Châu – Hy Lạp – Bắc Âu” (NXB Sáng Tạo), nơi độc giả sẽ đi lạc vào thế giới hầu như ai cũng đi đứng nói cười với tâm trong sáng.
Có một yếu tố nữa. Khi vào đại học, tôi học ở Văn Khoa, không có cơ duyên học Vạn Hạnh. Không phải kỳ thị, mà chỉ vì nghe lời rủ của người bạn thân là nhà thơ Phan Nhật Tân. Nhìn lại, các vị thầy ở Đại Học Văn Khoa mà tôi học, như GS Nguyễn Văn Trung, GS Lê Tôn Nghiêm, GS Lê Xuân Khoa cho tôi đủ thứ lý luận phức tạp, bàn đủ thứ chuyện nhức đầu về chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Sartre hay Albert Camus… Đủ thứ “nghiêm và buồn.” Tôi không được học nhà văn Doãn Quốc Sỹ ở Văn Khoa, cho dù tôi còn nhớ là nơi nữ sinh viên nào cũng rất đẹp, và là nơi nam sinh viên nào cũng ưa nói về hiện tượng luận và lắm chuyện bí hiểm.
Trong khi đó, Đại Học Vạn Hạnh là một cõi rất thần thoại, rất thơ mộng, nơi của một cõi trời cao hơn các tầng mây của Thầy Minh Châu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, Ni sư Trí Hải… nơi của thơ và thơ. Vạn Hạnh cũng là nơi của công án, nơi tôi vẫn mơ hồ nghĩ rằng, mình bước vào thăm ngôi trường đó, nói lạc một chút là sẽ bị một thiền sư nào đó đánh cho 30 gậy liền (thực tế, tôi chưa đọc bản tin nào kể chuyện tương tự như thế, chỉ là lúc đó tôi tưởng như các trang sách Lâm Tế Ngữ Lục là một cõi rất thực trong sân trường này). Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc đó cũng là một nhân vật trong cõi thần thoại Vạn Hạnh, đầy sương khói. Họ là thế giới rất là xa với tôi.
Chỉ tới nhiều thập niên sau, vào nghề báo ở hải ngoại, tôi mới thấy gần với tất cả các thế giới thần thoại trong cõi này, nơi đó có nhiều cơ duyên để tôi gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, và nhiều vị khác. Thế rồi tôi đã gặp, đã nói chuyện, đã phỏng vấn, hay đã thân cận với rất nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có Phạm Duy, Mai Thảo, Kiều Chinh, Ngô Thế Vinh, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Thảo Trường, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Công Thiện, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Quang, Hoàng Quốc Bảo và nhiều vị khác nữa. Tôi cầm máy ảnh chạy theo họ và tôi viết tin về thế giới thần thoại của thiên đường văn học lưu vong này. Trong đó, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một vị thần nổi bật: cụ lãng đãng như sương khói, khuôn mặt cụ ngây thơ như con nai ven rừng, và nụ cười của cụ làm tịch lặng tất cả mọi trầm tư của người đối diện.
Sau này đọc nhiều hơn, tôi nhận ra, nhiều nhà văn khác cũng nhìn về Doãn Quốc Sỹ như một nhân vật của cõi chư thần. Như trong tác phẩm Trái Cây Đau Khổ, một truyện-kịch của Doãn Quốc Sỹ ấn hành năm 1963, Lời mở đầu của Thanh Tâm Tuyền ghi rằng, trích:
“…nhân vật của Doãn Quốc Sỹ là con người nắm chặt được hạnh phúc, bất chấp giao động tráo trở của Định Mệnh. Một nhà văn của cổ tích phương Đông! Bản chất không chấp nhận sự tàn nhẫn, anh viết kịch với những nhân vật hạnh phúc của anh. Và kịch trở thành thơ, một cuộc đối thoại triền miên, không dứt ngụp lặn trong thế giới của Thực và Mộng, quái gở và hồn hậu. Những cái thực được coi là Mộng và Mộng hóa thành Thực. Kịch rốt cuộc chỉ là cổ tích và thần thoại. Khi Doãn Quốc Sỹ dùng cặp mắt trong suốt và thơ ngây của mình để biến cõi Thực – anh đang phải sống, anh không chấp nhận và coi tính chất bi đát của nó chỉ là phù du trong sự vận chuyển vô cùng khoáng đạt của Vũ Trụ – thành những biểu tượng, vô tình anh đã vĩnh viễn hóa nó trong nỗi bi đát không cùng...” (ngưng trích)
Đó, nhân vật của Doãn Quốc Sỹ thơ mộng như thế đấy, chỉ là cổ tích và thần thoại. Thực tế, ngoài đời thường, cụ Doãn Quốc Sỹ cũng thần thoại và cổ tích y hệt. Hãy nghe lời kể của nhà thơ Đỗ Quý Toàn (bình luận gia Ngô Nhân Dụng) trong bài viết nhan đề “Doãn Quốc Sỹ – Thế Đấy!” trích như sau:
“Hồi đầu 1970 một nhóm sinh viên văn nghệ ở Sài Gòn mời nhà văn Doãn Quốc Sỹ tới nói chuyện. Tiễn ông ra về rồi, mấy phút sau thấy ông quay trở lại. Ông cười hề hề, hỏi có ai dùng xe gắn máy đưa ông về nhà được không. Tại sao? Ông cười khà khà: “Mất xe rồi! Ai nó lấy mất rồi!”
Cái xe “nội hóa” La Dalat ông vẫn lái đi giao những tác phẩm của ông và nhà xuất bản Sáng Tạo cho các tiệm bán sách. Cả một tài sản, và phương tiện mưu sinh cần thiết. Nó biến mất. Mà hồi đó ở Sài Gòn chắc không ai mua bảo hiểm để mất xe sẽ được đền! Mất xe, ông vẫn cười khà khà, như thể mới nghe ai kể một chuyện hài hước!
Cả đời Doãn Quốc Sỹ vẫn cười khà khà, mắt không trợn lên, lông mày không chau lại. Không để cái được, cái mất, cái may, cái rủi làm động tâm. Thường ai cũng muốn tu tập công phu để đạt tới trạng thái này. Hình như Doãn Quốc Sỹ sống tự nhiên như vậy, không hề cố gắng. Ông viết cuốn Vào Thiền, tái bản nhiều lần. Bị cộng sản bắt bỏ tù, vào trong tù ông ngồi thiền. Quản giáo bắt đi nghe gì thì đi. Có gì ăn thì ăn, lúc nào được ngủ thì ngủ. Bị bắt lần thứ hai, vẫn như vậy, lại ngồi thiền. Thở vào, thở ra, nhẹ như mây bay, vững như núi đá.” (ngưng trích)
Thế là cụ an nhiên y hệt trên mây rồi. Nhân vật trong truyện của cụ Doãn Quốc Sỹ là cổ tích thì dễ hiểu, nhưng trong khuôn viên đại học và trong lao tù mà vẫn sống được như chuyện cổ tích thì quả là hy hữu. Một bài viết nhan đề “Dọn Dẹp Tạp Niệm” của Doãn Tư Liên, con gái cụ Doãn Quốc Sỹ, có đoạn đối thoại với cụ, trích như sau:
“Có lần con gái hỏi Cụ: – Bố, giữa khuya bố còn ngồi thiền như thuở trong tù không?
– Không con. Lúc nào bố chẳng hành thiền. Đâu cần phải ngồi đâu!
– À, thì ra thế.
Thôi thì cụ già 100 tuổi mà vẫn đi đứng, nằm ngồi mà không cần người trợ giúp.” (ngưng trích)
Trong tác phẩm “Vào Thiền” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, tôi đặc biệt là nhớ tới hình ảnh dòng sông và que diêm, do cụ Doãn viết về đời người, xin trích:
“Dòng đời như dòng sông, không một sát na nào ngừng trôi chảy. Nô lệ cho lý trí đơn thuần ham cắt xén thì chỉ thấy được cái ngưng đọng, cái chết. Những khái niệm con đẻ của lý trí chật hẹp và khô cứng kia làm sao chụp được dòng thực tại không ngừng triền miên trong thế tương sinh tương lập – đối tượng của thiền! Mỗi chúng ta là một que diêm sống! Không ai sống hộ ta, ta phải tự sống lấy, tự chiêm nghiệm lấy Thiền. Que diêm khi tắt đi, chút khói xanh để lại. Rồi chính chút khói xanh đó cũng tan loãng nốt và biến hẳn-như vết chân cát xóa! […] Nói đến Thiền là nói đến không tâm. Nhưng đừng quên phần đi song hành với không tâm là diệu hữu. Bởi vì nếu chỉ đơn thuần có không tâm thôi, thì đó là ngoan không cái không trống rỗng, không có gì!” (ngưng trích)

Chân dung nhà văn Doãn Quốc Sỹ, do PTH vẽ.
Và nơi đây, xin chép lại hai câu đối của Phan Tấn Hải thành kính viết mừng cụ Doãn Quốc Sỹ tròn 95 tuổi vào năm 2018:
Mang gươm giới định huệ, đi tới cùng trời cuối đất
Phá trận tham sân si, viết để Giữ Ngọc Gìn Vàng…
Độc giả có thể tìm đọc thêm ở trang https://www.doanquocsy.com/ nơi đang lưu giữ nhiều bài viết, tác phẩm, hình ảnh của nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhiều nhận định từ nhiều nhà văn khác. Và đó cũng là nơi bạn sẽ bước vào thế giới thần thoại của một nhà văn rất độc đáo.
Doãn Quốc Sỹ: Thế Đấy! (*)
Ngô Nhân Dụng
VOA

Doãn Quốc Sỹ là người “đối cảnh vô tâm.” Đó là một tuyệt đỉnh của công phu tu tập mà chúng tôi không dám thẩm định. Nhưng được gần gũi Doãn Quốc Sỹ ít lâu nay, tôi biết mình có thể học cách sống của ông, qua hai chữ “Thế Đấy!”
Hồi đầu 1970 một nhóm sinh viên văn nghệ ở Sài Gòn mời nhà văn Doãn Quốc Sỹ tới nói chuyện. Tiễn ông ra về rồi, mấy phút sau thấy ông quay trở lại. Ông cười hề hề, hỏi có ai dùng xe gắn máy đưa ông về nhà được không. Tại sao? Ông cười khà khà: “Mất xe rồi! Ai nó lấy mất rồi!”
Cái xe “nội hóa” La Dalat ông vẫn lái đi giao những tác phẩm của ông và nhà xuất bản Sáng Tạo cho các tiệm bán sách. Cả một tài sản, và phương tiện mưu sinh cần thiết. Nó biến mất. Mà hồi đó ở Sài Gòn chắc không ai mua bảo hiểm để mất xe sẽ được đền! Mất xe, ông vẫn cười khà khà, như thể mới nghe ai kể một chuyện hài hước!
Cả đời Doãn Quốc Sỹ vẫn cười khà khà, mắt không trợn lên, lông mày không chau lại. Không để cái được, cái mất, cái may, cái rủi làm động tâm. Thường ai cũng muốn tu tập công phu để đạt tới trạng thái này. Hình như Doãn Quốc Sỹ sống tự nhiên như vậy, không hề cố gắng. Ông viết cuốn Vào Thiền, tái bản nhiều lần. Bị cộng sản bắt bỏ tù, vào trong tù ông ngồi thiền. Quản giáo bắt đi nghe gì thì đi. Có gì ăn thì ăn, lúc nào được ngủ thì ngủ. Bị bắt lần thứ hai, vẫn như vậy, lại ngồi thiền. Thở vào, thở ra, nhẹ như mây bay, vững như núi đá.
Khi Doãn Quốc Sỹ được trả tự do, qua Mỹ, tôi đến thăm ông ở Houston, Texas. Ông khỏe mạnh, hàm răng rất tốt vì mỗi ngày đều súc miệng bằng nước muối. Cả một nhóm khách cùng tò mò thăm hỏi nhưng ông chỉ nói mấy câu sơ sài về cuộc sống trong tù; hình như không thấy chuyện gì đáng kể lại. Ông ngồi nghe chuyện của đám bạn trẻ, và họ nói khá nhiều, hầu hết nói về thế giới người Việt ở địa phương. Tất nhiên, người ta kể chuyện các hội đoàn, các nhân vật nổi tiếng hoặc nhiều tai tiếng, kẻ khen, người chê, tranh nhau nói không dứt lời.
Hôm đó, lần đầu tiên được ngồi lâu với ông, tôi mới nhận ra là Doãn Quốc Sỹ chỉ im lặng nghe, miễn cưỡng lắm mới nói, nói rất ngắn. Ông lúc nào cũng mỉm cười. Khi một người hướng về phía ông, nói lớn tiếng, ông chỉ đáp một câu, “Thế Đấy!” Đám bạn trẻ kể chuyện sinh hoạt ở Houston, hùng hồn phê bình người này người kia. Ông ngồi nghe, không buông một lời khen, chê, không bình phẩm, phụ họa mà cũng không bài bác. Nghe chuyện xấu hay tốt ông cũng chỉ cười, lâu lâu mới góp một lời, “Thế Đấy!”
“Thế Đấy!”
Nếu diễn tả dài dòng thì hai tiếng “Thế Đấy” nghĩa là gì? Ah, cuộc đời nó như thế đấy! Ah! Con người ta như thế đấy! Thế Đấy, ở đời cứ cái này nó sẽ sanh cái kia như thế đấy! Đúng, cái nghiệp báo của mọi người nó diễn ra như thế đấy!
Doãn Quốc Sỹ nhìn cuộc đời với đôi mắt “Thế Đấy!” Nghe kể chuyện đời với đôi tai “Thế Đấy!” Cuộc đời chuyển động, lòng ông không lung lay.
Doãn Quốc Sỹ khiến chúng ta nhớ câu kệ của Trần Nhân Tông trong Cư Trần Lạc Đạo; một trong những bài văn suôi đầu tiên, theo lối “phú,” viết bằng chữ Nôm, tiếng Việt Nam. Cư Trần Lạc Đạo tức là sống ở trong cuộc đời, ở cõi trần tục, nhưng vẫn vui với Đạo. Đoạn cuối Cư Trần Lạc Đạo có bài kệ chữ Hán Việt, kết thúc với câu: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” Hiểu theo nguyên văn là: Nếu “đối cảnh vô tâm” thì khỏi cần hỏi đến thiền.
Kinh Hoa Nghiêm, bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh, ở đoạn thứ tư trong phẩm thứ nhất, bài kệ thứ 26 đã nhắc đến “Tâm không lay động.” Đối cảnh vô tâm, là đứng trước cảnh ngộ bên ngoài, dù nó biến chuyển thế nào thì lòng mình cũng không động: Không phê phán sạch hay nhơ, hơn hay kém, đẹp hay xấu, trái hay phải, không nổi lên niềm vui sôi nổi hay nỗi buồn rầu rĩ, không mừng hay giận tiếng khen ngợi hay lời chê bai.
Mở đầu đoạn thứ bảy bài Cư Trần Lạc Đạo, Trần Nhân Tông viết:
“Hãy xá vô tâm;
Tự nhiên hợp đạo.”
Vô tâm, là cái tâm trống trải. Tâm bỏ trống cho gió thổi qua. Trong hoàn cảnh nào cũng không để tâm mình xao xuyến. Những người theo học Bụt Thích Ca mong tu tập để có lúc đạt được trạng thái đó, dù chỉ trong một thời gian ngắn cũng đáng gắng sức công phu.
Doãn Quốc Sỹ hầu như bẩm sinh đã mang sẵn một cái tâm kiên cố khó bị lay động vì hoàn cảnh. Ông có phước mang sẵn tấm lòng trống trơn, không cần phải cố gắng.
Trong cuộc sống hàng ngày không biết ông tọa thiền lúc nào. Doãn Quốc Sỹ không báo trước khi ngồi xuống: “Tôi tập thiền đây;” hay là khi đứng dậy “Tôi ngồi thiền xong rồi.” Mỗi giờ phút trong đời sống của ông thể hiện một quá trình thiền tập. Đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, cởi dép, uống nước, nói năng, hầu như lúc nào ông cũng làm chủ thân và tâm. Đối cảnh, đứng trước cảnh ngộ biến đổi cách nào ông cũng có thể thốt lên một câu: “Thế Đấy!”
Người mang tánh bẩm sinh như vậy chắc phải đã tu nhiều kiếp trước! Cha mẹ sanh ra đã truyền cho hạt giống tốt, tự nhiên không nuôi lòng tham lam quá độ, không nổi cơn giận dữ dễ dàng. Khi biết suy nghĩ thì tự thấy mình chỉ là một tập hợp tạm thời và ngắn hạn của ngũ uẩn, như tất cả mọi chúng sinh, nhờ thế không đeo một Cái Ta quá nặng trong đầu. Dứt trừ nhân ngã. Dừng hết tham sân. Như Trần Nhân Tông viết trong bài kệ Cư Trần Lạc Đạo:
Dứt trừ nhân ngã thời ra tướng báu kim cương;
Dừng hết tham sân mới lảu lòng màu viên giác.
Có lẽ tôi đã viết quá nhiều, nói quá lời, vì yêu mến, kính trọng Doãn Quốc Sỹ, không phải vì văn chương của ông mà vì cách sống, cuộc sống hàng ngày, bình thường, của ông. Không thể nói Doãn Quốc Sỹ là người “đối cảnh vô tâm.” Đó là một tuyệt đỉnh của công phu tu tập mà chúng tôi không dám thẩm định. Nhưng được gần gũi Doãn Quốc Sỹ ít lâu nay, tôi biết mình có thể học cách sống của ông, qua hai chữ “Thế Đấy!”
“Thế Đấy!”
Đứng trước bất cứ cảnh ngộ nào, nếu mình biết thốt ra tự đáy lòng hai chữ “Thế Đấy!” thì chắc cũng quý lắm rồi!
Chú Thích: Bài kệ trong Cư Trần Lạc Đạo như sau:
Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia tung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
(Ở cõi trần vui với đạo, tùy theo cơ duyên. Đói thì ăn, mệt thì ngủ. Trong nhà đã có của báu, ngưng đi tìm kiếm. Đối cảnh vô tâm, khỏi hỏi đến Thiền).
(*) Viết nhân sinh nhật thứ 100 nhà văn Doãn Quốc Sỹ
NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HỌC

Vừa qua tại Nam California, lễ vinh danh và mừng thọ “bách niên chi lão”cho nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ được diễn ra thật trang trọng. Với sự có mặt của gia quyến ông, cùng giới nhà giáo, nhân văn thi sĩ, thân hữu, cựu học sinh và giới truyền thông v.v… Cũng nhằm mục đích vinh danh ông là một nhà giáo hiền đức, một nhà văn lỗi lạc, đã đóng góp trong kho tàng văn chương Việt Nam những tác phẩm ưu việt cho mai sau. Qua những tác phẩm của ông trải dài hơn một nửa thế kỷ cầm bút, cho ta nhận thấy trí tuệ của một hiền nhân đích thực bàng bạc trong văn chương của một kẻ sĩ yêu nước chân chính, một tấm lòng trung hậu đầy tình người, một tinh thần lạc quan sáng ngời. Lối văn phong thật trong sáng, và chân thật trong những tác phẩm của ông đã đi sâu vào lòng người qua bao thế hệ.
VÀI NÉT VỀ DOÃN QUỐC SỸ:
Ông sinh năm 1927 tại Hà Đông, nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội, trong một gia đình thấm nhuần Nho giáo. Ông lập gia đình với ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) là bà Hồ thị Thảo. Trong cuộc đời, ông đóng hai vai trò rất hoàn hảo – một nhà giáo tận tâm hiền đức và – một nhà văn tên tuổi lẫy lừng. Đến năm 1954 ban hành hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, Thụy Sĩ; nhằm chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông dương. Hiệp định này dẫn đến Việt Nam bị chia đôi đất nước- miền Bắc thuộc về Cộng sản; miền Nam thuộc về Dân chủ. Như hàng triệu người dân miền Bắc không chấp nhận chế độ Cộng sản, ông cùng gia đình phải rời bỏ quê cha đất tổ di cư vào miền Nam, vùng đất tự do để sinh sống.
- NHÀ GIÁO DOÃN QUỐC SỸ – Ông được mọi người và học sinh quý trọng vì tấm lòng đôn hậu và tận tâm của một bậc thầy, vì thế ông được mệnh danh là một kẻ sĩ chân chính. Ông bắt đầu dạy học (1951-1952) tại trường trung học Nguyễn Khuyến, Nam Định, kế đến là Chu Văn An, Hà Nội (1952-1953). Khi vào miền Nam, ông tiếp tục dạy học trường Trần Lục, Sài Gòn (1953-1960). Sau đó, ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường trung học công lập Hà Tiên (1960-1961). Trong những năm đầu thập niên 60, ông là giảng sư các trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn và trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ngoài ra, ông được du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và về nước tiếp tục giảng dạy cho đến năm 1975.
- NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ – Trong tiệc mừng thượng thọ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, GS. Nguyễn văn Sâm đã vinh danh Doãn Quốc Sỹ là: “nhà văn của thế kỷ 20” Thật vậy, ông rất xứng đáng được ban tặng tước hiệu này qua phẩm chất đức độ cao quý của một kẻ sĩ và là nhà văn tài ba đã sáng tác nhiều tác phẩm trong thế kỷ 20. Qua những tác phẩm mà Doãn Quốc Sỹ viết đã chứng tỏ được tính chất đích thực của một kẻ sĩ phương đông – luôn chân thành và tin vào những điều tốt đẹp của cuộc sống và hướng về chân trời tốt đẹp của CHÂN THIỆN MỸ. Sau khi di cư vào miền Nam, thể chế chính trị của Việt Nam chuyển từ Quân chủ Lập hiến sang Dân Chủ Cộng hòa; đồng thời nền văn học bấy giờ ở miền Nam cũng phát triển theo chiều hướng đa dạng và phong phú hơn. Doãn Quốc Sỹ là gương mặt hàng đầu trong những nhà văn nổi tiếng như: Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Bình Nguyên Lộc , Nguyên Sa, Võ Phiến v.v…của hai mươi năm văn học miền Nam, Việt Nam ( 1954-1975). Ông cũng là một cây bút chủ lực trong nhóm tạp chí Sáng Tạo. Tác nhân chính nào đã tạo nên sự chuyển hướng lớn lao về văn học này? Phải nói đến cuộc di cư từ Bắc vào Nam vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Hàng triệu người Bắc đã bầm gan tím ruột khi phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ lại làng mạc mồ mả tổ tiên để tìm đến vùng đất tự do. Yếu tố tâm lý này đã khuấy động mãnh liệt lòng người; nhờ thế mà các nhà văn, điển hình là Doãn Quốc Sỹ đã cho thành hình những tác phẩm văn chương của thời cuộc thật mạnh mẽ. Định mệnh đã đưa đẩy con người đi vào những nẻo đường khác nhau, như những chuyến xe của cuộc đời, kẻ đi hướng này người về hướng khác, mà chúng ta được tìm thấy trong trường thiên tiểu thuyết KHU RỪNG LAU hay DÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH, BA SINH HƯƠNG LỬA, GÌN VÀNG GIỮ NGỌC, CHIẾC CHIẾU HOA CẠP ĐIỀU. ĐI, v.v…
Nét đặc biệt về lối sáng tác của nhà văn Doãn Quốc Sỹ khiến chúng ta phải thán phục là dù trong hoàn cảnh nào, ngay cả khi ông bị giam cầm khốn khổ trong ngục tù; lối văn phong của ông vẫn mang tâm trạng ung dung, thần thái ôn hòa, vị tha, không oán hận đối với những kẻ luôn xem mình là kẻ thù. Ông trải lòng mình, ý tưởng mình lên trang giấy bằng thái độ tự tin, luôn hy vọng vào những điều tốt đẹp của cuộc sống, mà hình ảnh của “CHÂN THIỆN MỸ” luôn lấp lánh trong xã hội loài người… đã có tác dụng truyền tải mạnh mẽ đến người đọc. Đối với ông, viết văn là phương cách “văn dĩ tải đạo” của riêng ông, như một cách để làm đời sống tốt đẹp thêm qua đạo lý làm người…Trong những cơn lốc của thời cuộc, qua những biến cố của lịch sử Việt Nam, đã phô bày biết bao hình ảnh đặc trưng, hay những chân dung rất thực của con người… để tạo nên nguồn cảm hứng dưới ngòi bút sáng tác của ông. Điển hình trong những sáng tác, “thời thế “đóng vai trò chủ yếu trong văn phẩm của ông; đã ghi lại những dấu chấm phá trong những biến cố của xã hội, của đất nước, như những vết hằn khó phai trong tâm khảm của người dân Việt. Hãy điểm qua vài nét đại cương nổi bật trong những tác phẩm đặc sắc của Doãn Quốc Sỹ:
- TRƯỜNG THIÊN TIỂU THUYẾT KHU RỪNG LAU – Chúng ta được chứng kiến một thời kỳ oai hùng của lịch sử, mà trong đó con người bị cuốn hút vào những cơn lốc dữ dội qua một trường thiên tiểu thuyết, gồm: Ba Sinh Hương Lửa (1962) Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964) Tình Yêu Thánh Hóa (1965)…
Qua Khu Rừng Lau, tác giả diễn tả về đời sống và tâm tư của những người phải sống dưới chế độ Cộng sản. Có thể xem như một phác họa về những diễn biến thời cuộc qua từng giai đoạn của lịch sử, mà được ghi giữ lại trong văn học Việt Nam dưới ngòi bút của một nhà văn. Ông ghi chép lại tất cả nỗi niềm của một thế hệ thanh niên yêu nước tham gia chống Pháp vào thập niên 40-50. Nhưng những người trẻ đầy nhiệt huyết này đã bị lừa gạt bởi đám người cùng dòng giống tổ tiên với mình. Họ là những kẻ phản bội đất nước, vô nhân tàn bạo như đảng Bolsheviks do Lenin lãnh đạo vào đầu thế kỷ 20 của Liên Sô, dùng họ như một công cụ đấu tranh giai cấp của Cộng sản…Lớp thanh niên trẻ Việt đã có ý thức về giặc ngoại xâm và mầm móng của Cộng sản đang nhuộm đỏ đất nước và người dân Việt đã chịu quá nhiều đau thương vì chiến tranh. Chiến tranh là tội ác của nhân loại, đó là sự thật! Như nhà văn Muriel Lester đã viết trong It Occurred To Me (1937) rằng: “Nạn nhân đầu tiên trong mọi cuộc chiến là sự thật” The First casualty in every war is truth. Đọc Khu Rừng Lau, cho ta liên tưởng đến đến tác phẩm nổi tiếng War and Peace (Chiến Tranh và Hòa Bình của văn hào Nga Leo Tolstoy 1828-1910) vào cuối thế kỷ 19, nói về cuộc nội chiến của Nga và sự xâm lược của thực dân Pháp.
- BA SINH HƯƠNG LỬA – tác giả đã đưa người đọc trở về thời kỳ đất nước chìm trong cảnh bể dâu qua nhiều biến chuyển của lịch sử. Người dân Việt đã phải oằn mình dưới thời Pháp thuộc, tiếp đến là giai đoạn bi đát của thời Nhật chiếm đóng, sau đó là thời kỳ đầy tai ương của Việt Minh. Lịch sử sang trang khi hiệp định Geneve, Thụy Sĩ được ký kết 1954 – Việt Nam bị chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc bởi dòng sông Bến Hải…đã đưa đến những hệ lụy đau thương. Một đất nước đầy bất hạnh đã đưa con người rời Bắc vào Nam; và định mệnh đã đưa đẩy con người đi vào những lối ngõ khác nhau, đã tạo thành những cuộc chia ly tan tác đầy nước mắt. Tuy Ba Sinh Hương Lửa như một thước phim quay lại thời kỳ gian khổ của dân tộc, nhưng người đọc có cảm tưởng được an tâm khi đặt niềm tin vào những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang lại.
- DÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH – Dưới ngòi bút của Doãn Quốc Sỹ, “dòng sông” theo ông như một triết lý nhân sinh. Dòng sông là biểu tượng của tình yêu lứa đôi, là ân điển của Thượng đế ban cho nhân loại. Dòng sông đầy vẻ nghệ thuật của thiên nhiên, nó mang đến vẻ đẹp cũng như lợi ích cho cuộc sống con người. Dòng sông mang theo nỗi vui buồn của vận mệnh đất nước khi thịnh cũng như suy, như một chứng nhân lịch sử của quê hương không thể thiếu. Dòng sông có vẻ như một huyền thoại mang đầy những câu chuyện hư hư thực thực trong dân gian. Tuy nhiên đối với Doãn Quốc Sỹ, dòng sông không phải lúc nào cũng êm đềm thơ mộng, nhưng nó cũng lắm đoạn trường như ông đã viết:
Ôi con sông dài
Nó dài làm sao?
Con sông dài như chẳng bao giờ gặp biển!
Nhưng cuối cùng sau cơn mưa trời lại sáng, vì dòng sông định mệnh sắp chảy ra biển rồi, sông đã mở rộng đôi cánh tay nhỏ bé để ôm lấy mẹ là biển cả. Trong sáng tác, Doãn Quốc Sỹ đặt vai trò nghệ thuật lên vị trí cao và “dòng sông” được ông dành cho một chỗ đứng rất trang trọng trong các tác phẩm của ông. Trong Dòng Sông Định Mệnh ông viết về tình yêu là chính yếu, nhưng mùi vị của cuộc kháng chiến Việt Pháp được ông mô tả sâu đậm không kém, nó đi song song với những cuộc tình lãng mạn da diết.
- GÌN VÀNG GIỮ NGỌC– “Ở thế giới Thực Dân Tư Bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới Cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng Tình Thương Yêu rộng rãi và chân thành”. Qua tư tưởng siêu việt trên của Doãn Quốc Sỹ, cho ta nhận thấy ông có một tấm lòng thật cao cả tuyệt vời. Sự trưởng thành trong tư tưởng của ông đã vượt bực qua những triết lý hay nhân sinh quan bàng bạc trong những tác phẩm giá trị của ông. Ông cho rằng: “Không có sự trưởng thành nào đáng kính bằng sự trưởng thành trong đau khổ.”Thật vậy, khi con người đã từng kinh qua những khổ đau trong cuộc sống, đó là những bài học, những trải nghiệm trên trường đời, mà nỗi đau bất hạnh đã rèn luyện cho ta trở nên trưởng thành. Cái “tâm” của ông luôn vằng vặc chiếu sáng như ánh trăng rằm trong đêm với ý tưởng- “Con người dù ở trong cảnh ngộ nào, cái tình đối xử với nhau mới là quan trọng. Cái đói khổ không làm hạ phẩm giá con người bằng sự tha hóa tâm hồn.” Thật vậy, một tâm hồn cao thượng, một tâm hồn không bị tha hóa luôn vượt trên những tầm thường nhỏ nhen, ngay cả sự đói khổ cũng không thể quật ngã được phẩm giá của người chân chính. Vì: “Quân tử thực bất cầu bão” ( theo triết lý của nhà Nho xưa).

TÁC PHẨM “ĐI”. Được xuất bản ở hải ngoại mà chính Doãn Quốc Sỹ là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang. Trong tác phẩm “Đi”, tác giả đã viết lại một thời kỳ vô cùng đen tối của đất nước. Ông giáo là một trong những kẻ bị tù đày xuống tận cùng vực sâu, có lúc tưởng chừng như đã mất hết niềm tin, nhưng cũng đã tìm lại được tình người từ những đứa trẻ thơ trên những vùng miền núi hẻo lánh quanh trại tù. Ngoài xã hội, người dân bị đẩy vào cảnh ngộ bi đát không lối thoát và đã mang chính bản thân mình, gia đình mình đánh canh bạc với may rủi, mà rủi ro chắc chắn nhiều hơn may mắn. Nhiều người đã phải trốn chạy Cộng sản bằng mọi cách: liều mình ra khơi trên những chiếc thuyền mong manh phải hứng chịu những con sóng dữ hay chịu những cơn đói khát nhiều ngày, hoặc bạc phước hơn nữa là vùi thây dưới lòng biển cả. Nhiều người bị bắt vào tù mất nhà cửa phải sống lang thang trên vĩa hè…Vì họ muốn thoát khỏi “thiên đường Cộng sản” nên phải trả giá quá đắt bằng chính mạng sống mình qua mọi phương tiện để đi tìm sự sống trong cái chết, với muôn vàn hiểm nguy trên bước đường thoát. Trong “ĐI” Doãn Quốc Sỹ đã viết rất chân thực về thực trạng của một xã hội suy sụp về mọi mặt. Về luân lý đạo đức trong xã hội đã tuột dốc, nhân phẩm con người đã bị chà đạp dưới chân của những kẻ độc tài vô tâm. Đời sống kinh tế vô vàn khó khăn, tạo nên một xã hội băng hoại đầy dẫy nạn trộm cướp, mãi dâm… Trẻ em thiếu vắng sự giáo dục lành mạnh, vì nhà trường chỉ là nơi nhồi sọ học sinh bằng những tư tưởng ngoại lai.

Theo nhà văn Vương Trùng Dương nhìn về phong cách đạo đức của nhà văn Doãn Quốc Sỹ như sau: “Với tâm hồn nhà giáo, nhà văn mang nặng tính nhân bản ghi lại những hình ảnh trong “ĐI” nó bàng bạc trong muôn nghìn gia đình và con cháu trong gia đình ông vào thời điểm đó. Ông không phóng đại, cường điệu, dùng chữ “đao to búa lớn” để chưởi bới lên án…mà là tâm tình của ông giáo nặng tình yêu với người thân trong hoàn cảnh đen tối đành “đứt ruột” chia tay…..”
- NGƯỜI VIỆT ĐÁNG YÊU – Tôi rất tâm đắc với Doãn Quốc Sỹ về câu kết luận rất khiêm tốn và thực tế của ông trong tác phẩm này: “Hãy dùng đau khổ làm đầu mà thắp lên ngọn lửa tin yêu, bởi quả thật dân tộc mình vì đã kinh qua quá nhiều đau khổ mà có thừa chất “Người” để trở thành một trong những dân tộc đáng yêu nhất của nhân loại.” Trong sách này, ông viết về những kinh nghiệm hay những suy nghĩ của ông về người Việt; từ ngôi làng thân yêu tới lũy tre xanh êm đềm cho đến chốn thành thị náo nhiệt…Đây là quê hương của ông! Ông cho rằng: thi ca là nguồn nuôi dưởng tâm hồn người Việt, tạo nên mỹ cảm nơi con người Việt. Ông đã không thi vị hóa về điều này, mà quả thực là như thế! Biết bao văn nhân thi sĩ mang nặng tâm hồn Việt đã xót xa cho vận mệnh nổi trôi của đất nước, hay ca tụng muôn vẻ đẹp của hồn thiêng sông núi…trong thi ca hay trong sáng tác âm nhạc, văn chương và ngay cả trong nghệ thuật điêu khắc hay tranh vẽ….
Để đúc kết về luận đề Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ Dưới Góc Nhìn Văn Học, tôi có vài nhận xét thô thiển về mặt văn học mà ông đã đóng góp trong kho tàng văn chương Việt Nam. Ông là một ngòi bút chân phương đôn hậu. Ông luôn đề cao nét đẹp tuyệt vời của CHÂN THIỆN MỸ trong đời sống nhân loại và luôn đặt niềm tin vào những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang đến. Bằng với nguyện vọng tha thiết, nhà văn Doãn Quốc Sỹ muốn truyền đạt đến cho mọi người những kinh nghiệm sống hay những triết lý tốt đẹp về NHÂN SINH QUAN trong sự tương kính dưới ngòi bút khiêm hạ của ông. Như văn sĩ người Anh Lord Byron từng nói:
“Một giọt mực có thể làm vạn người suy nghĩ, một cuốn sách
hay có thể thay đổi số phận biết bao người.”.
Thật vậy, và như thế!
Muôn vàn tri ân nhà văn, nhà giáo mang tư tưởng thiền triết Doãn Quốc Sỹ, đã mang đến cho đời những tác phẩm đầy tính nhân bản; ông là ngôi là sao bắc đẩu cho con đường hoàn hảo dẫn đến CHÂN THIỆN MỸ trong xã hội loài người. Tư tưởng tuyệt vời của ông sẽ ảnh hưởng thật sâu rộng trong quần chúng và sẽ còn lưu truyền mãi mãi…
Kiều My, California 2023
Tài liệu tham khảo: Wikimedia, Vương Trùng Dương, website Doãn Quốc Sỹ.
Dòng Sông Định Mệnh hay cơn lũ bi kịch? Doãn Quốc Sỹ và tiếng nói của trí thức
Vũ Quí Hạo Nhiên
Ảnh: Bìa Sách Dòng Sông Định Mệnh, NXB Tự Do.
Nếu phải tóm tắt các tác phẩm lớn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), có thể nói rằng ông đã phản ánh nỗi lòng của người trí thức Việt Nam cùng thế hệ, là những người bước vào tuổi 20 trong thời kháng chiến, chứng kiến sự đảo lộn của xã hội. Họ đã có thể có những phản ứng, hành động trước thời cuộc đó, nhưng phần nào bất lực không ngăn chặn được những xáo trộn xảy ra chung quanh.
Truyện mở đầu bằng chương Khúc Quành của Dòng Sông, với tuổi thơ của hai nhân vật chính, cậu bé Thiệu và cô bé Yến, bên sông Đuống. Thiệu hơn Yến hai tuổi, được mẹ Yến giao nhiệm vụ trông nom khi đi và về trường làng. Khi Thiệu 10 tuổi và Yến 8 tuổi, Thiệu liều mình cứu Yến khỏi bị nước cuốn ở bến phà, chấp nhận bị cha đánh đòn.
Thiệu hay ra đê ngắm khúc quành của sông Đuống, hình dung cây đa làng là cây đa của Thạch Sanh. Đó là con sông của tuổi thơ.
Thiệu đậu Sơ học bổ túc và lên Bắc Ninh trọ học. Yến theo bác xuống Hà Nội học ở trường Hàng Cót. Năm 16 tuổi, Thiệu “khám phá được thêm một điều mà từ xưa Thiệu không để ý: Yến đẹp, đẹp lắm.” Thiệu viết thư tình đầu tiên cho Yến. Nhưng Yến lại nói, “Đừng anh Thiệu ạ.” Chương này Doãn Quốc Sỹ đặt tên là Con Sông Dài Đi Tìm Ánh Trăng Mười Sáu.
Giờ đây Thiệu với đời Yến như một dòng sông tách ra làm hai ngành cách biệt hẳn.
Rồi đây hai ngả sông đi về đâu?
Vào Huế dạy học, nhưng với lý tưởng cách mạng chống Pháp, Thiệu tham gia tổng khởi nghĩa năm 1945 tại Huế và các hoạt động tuyên truyền, tình báo.
Lý tưởng và phản bội
Vào chiến khu La Chữ, Thiệu chứng kiến những điều khác hẳn với giấc mơ giải phóng dân tộc. Trong môi trường cách mạng, tinh thần tự do, nhân bản bị bóp nghẹt bởi giáo điều ý thức hệ. Thiệu sững sờ phải nghe các đồng chí nói chuyện kiểu này, trong một đoạn thoại khá dài trong truyện:
– Pasteur là một tên phản động.
Thiệu giật mình nghĩ: Quái đêm khuya thế này mà tiểu ban nghiên cứu kinh tế địch ở gian bên vẫn chưa kiểm thảo xong. Lời nói vừa rồi, Thiệu nhận ngay ra là lời của “đồng chí” trưởng tiểu ban.
Giọng “đồng chí” dằn mạnh hơn:
– Đồng chí không bao giờ được phép quên rằng: Pasteur và Koch là người của tư bản đế quốc.
Lập luận “người của tư bản đế quốc” có thể nghe rất ngớ ngẩn, nhưng đó từng là lập luận có thật, từng được sử dụng thường xuyên. “Người của tư bản đế quốc” suy ra là phản động, chính là nền móng cho tiêu chuẩn “hồng hơn chuyên”.
Ngay cả viện dẫn “tài của họ là do tư bản đế quốc nâng đỡ huấn luyện” để hạ thấp người khác cũng từng là lý do có thật, được sử dụng trong đời thật, để hạ điểm một sinh viên chẳng hạn, với lý do sinh viên ấy chỉ giỏi do lớn lên với “bơ sữa tư bản”.
Các lập luận kiểu này rõ ràng là ngụy biện (có thể gộp chung vào genetic fallacy – ngụy biện nguồn gốc) nhưng chúng dẫn đến hai hệ quả. Thứ nhất, khó mà cãi lại. Vì cãi lại có thể bị quy vào tội bênh vực “tư bản đế quốc”. Và thứ nhì, dẫn đến chủ nghĩa lý lịch mà tới nay vẫn lan tràn khắp Việt Nam (“nhất hậu duệ, nhì quan hệ”).
Cả hai hệ quả này, một người trí thức có suy nghĩ không thể chấp nhận được.
Chính vì vậy, ngoài đời thật, Doãn Quốc Sỹ đã từng đi theo kháng chiến trong 5 năm, nhưng cuối cùng ông đã bỏ về thành.
Nhân vật Thiệu, và sau này là các nhân vật khác của Doãn Quốc Sỹ như Kha, Hiển, Miên trong Ba Sinh Hương Lửa, cũng vậy. Thiệu bỏ chiến khu, về lại Huế.
Những người theo kháng chiến nhưng thất vọng và bỏ, rất đông, và họ bị người cộng sản miêu tả bằng cụm từ miệt thị là theo cách mạng kiểu “lãng mạn tiểu tư sản”. Đại ý là không đủ cứng rắn như họ, để theo cách mạng tới cùng.
Người cộng sản dùng “lãng mạn tiểu tư sản” để quy kết giới trí thức đã từng theo họ, như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Văn Cao, Quang Dũng, Nguyễn Tuân. Nhưng trên thực tế, tôi chưa tìm thấy được một định nghĩa nào, một bảng điểm nào để theo đó có thể chấm tác phẩm A, tác giả X, lãng mạn tiểu tư sản hay không. Nó như một thứ bùa để vô hiệu hóa những đóng góp xương máu mồ hôi và tuổi trẻ của những trí thức này, và bùa thì nằm trong túi nên khó biết hình dạng ra sao.
Vì không được định nghĩa rõ ràng, nên rất dễ gán cho ai thì gán. Kiểu ngụy biện này tiếng Anh có tên rất hay, là “No true Scotsman” – không phải người Scotland chân chính. “Không người Scotland chân chính nào lại cho đường vào cháo.” “Nhưng bố tôi người Scotland và ông cho đường vào cháo.” “Vậy bố chị không phải người Scotland chân chính.”
Cũng như vậy: “Cách mạng chân chính sẽ không làm thơ như Tây Tiến của Quang Dũng.” “Nhưng Quang Dũng là người của cách mạng.” “Vậy Quang Dũng không phải người cách mạng chân chính.”
Có điều là chẳng ai bận tâm gán nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” cho những người chưa hề theo cách mạng. Và cũng chỉ có trí thức, người có viết, có vẽ, có dạy học, làm nhạc, mới bị gán nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” chứ người khác thì không.
Ở một mặt nào đó, cái nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” cũng chỉ là một cách để loại trừ một tầng lớp người dựa trên xuất thân của họ. Một thể hiện khác của chủ nghĩa lý lịch.
Nếu đi kháng chiến kiểu Doãn Quốc Sỹ là lãng mạn tiểu tư sản thì trong tay Doãn Quốc Sỹ, điều đó trở thành dấu hiệu của nhân tính, của sự cảm thương, của khả năng biết thông cảm cho người khác. Như nhân vật Thiệu nhận ra trong truyện:
Ai mà chẳng yêu Tổ quốc, yêu nhân loại vô điều kiện? Nghệ thuật chân chính mặc nhiên phải vô tư, chính trị chân chính mặc nhiên phải vươn tới chỗ vô tư… Nếu đừng quá căn cứ vào góc cạnh của tiếng nói nhân loại, thì Thiệu có thể cả quyết rằng: Chân, Thiện, Mỹ là một!
Người ta có thể chỉ vào đấy và nói, “lãng mạn tiểu tư sản đây chứ đâu!” Nhưng đó chính là mấu chốt: nó là kết luận của một con người tử tế.

Giáo Sư Trần Huy Bích phát biểu trong tang lễ Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ
Tôi xin được nói ít lời thay mặt các bạn của tôi, những học sinh của trường Trung học công lập Nguyễn Khuyến, thành phố Nam Định, niên khóa 1952-53, đúng 73 năm trước đây. Khi ấy chúng tôi ở lớp Đệ Ngũ, năm thứ ba bậc Trung học, sau gọi là Lớp 8. Thầy Doãn Quốc Sỹ được Nha Học chính Bắc Việt của chính phủ Quốc gia cử về làm giáo sư Quốc văn tại trường Nguyễn Khuyến đầu niên khóa 1952-53. và chúng tôi may mắn được học với Thầy.
Sau 5 năm ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như các nhân vật Kha, Hiển, Miên trong Ba Sinh Hương Lửa, người thanh niên Doãn Quốc Sỹ nhận ra bộ mặt thật của Cộng sản nên đã hồi cư về thành. Một mặt Thầy ghi tên tại Đại học Văn khoa Hà Nội để hoàn tất chương trình Cử nhân, mặt khác Thầy xin đi dạy học vì đã có gia đình. Chắc lúc ấy các trường Trung học công lập ở Hà Nội (như Chu Văn An, Nguyễn Trãi) đã có đủ giáo sư, nên Nha Học chính cử Thầy về Nam Định.
Trường Nguyễn Khuyến là hậu thân của trường Thành chung Nam Định. Trong thời Pháp thuộc, tại miền Bắc, bên cạnh những trường dạy chương trình Pháp như Lycée Albert Sarraut ở Hà Nội, hai trường Trung học đầu tiên dạy chương trình Việt (đúng ra là Pháp-Việt) là trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat, dân gian quen gọi là “trường Bưởi”) ở Hà Nội, và trường Thành chung Nam Định (Collège de Nam Dinh). Trong giai đoạn Pháp thuộc, nhiều nhân vật danh tiếng đã xuất thân từ trường này: các nhà văn Nguyễn Tuân, Nam Cao, nhạc sĩ Đặng Thế Phong, nhà giáo Hà Mai Anh, người dịch cuốn Tâm Hồn Cao Thượng…
Sang thập niên 1930, các giáo sư Vũ Quốc Thông, Vũ Quốc Thúc cũng học ở trường này. Năm 1945, dưới thời Chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ đầu tiên của Việt Nam sau khi Pháp bị Nhật đảo chính, Bộ trưởng Giáo dục Hoàng Xuân Hãn đã đổi tên trường Trung học Bảo hộ thành trường Chu Văn An và trường Thành chung Nam Định thành trường Nguyễn Khuyến. Tên “trường Nguyễn Khuyến” bắt đầu có từ đó.
Trong những năm đầu của cuộc chiến tranh Việt Minh – Pháp, trường Nguyễn Khuyến phải di tản về Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Một trong những người Việt xuất sắc học ở Nguyễn Khuyến giai đoạn ấy là Gs Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Nói tóm lại, học sinh Nguyễn Khuyến chúng tôi có quyền coi những nhân vật như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Đặng Thế Phong, Hà Mai Anh, Vũ Quốc Thông, Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Xuân Vinh … là các vị “niên trưởng” của mình. Cũng có một số cựu học sinh trường Thành chung Nam Định sau thành cộng sản. Nhân vật được nhắc tới nhiều hơn cả là Trường Chinh Đặng Xuân Khu.
Trong ba lớp Đệ Ngũ Nguyễn Khuyến học Quốc văn với Thầy Doãn Quốc Sỹ niên khóa 1952-53 cũng nhiều người xuất sắc. Học giỏi, đạt tới địa vị cao trong học giới cũng như trong xã hội ở Việt Nam cũng như ở Mỹ là anh Nguyễn Mạnh Hùng. Theo ngành truyền thông, được nhiều người mến mộ là anh Lê Văn (tên thật là Lê Lai), từng là Trưởng ban Việt ngữ đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Ủng hộ Cộng sản, ở lại miền Bắc khi đất nước chia đôi là anh Trần Khuê (tên thật Trần Văn Khuê). Anh từng viết sách, làm thơ ca tụng lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh, nhưng từ năm 2000 trở đi, bắt đầu lên tiếng đòi tự do, dân chủ cho đất nước. Theo Thầy Sỹ trong nghiệp viết văn là anh Trần Duy Hinh, lấy bút hiệu là Thao Trường, sau đổi thành Thảo Trường. Anh viết nhiều truyện và truyện ngắn nói lên tâm trạng day dứt trước tình trạng đất nước chia đôi, rồi đến nỗi khổ của người dân trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn, kết thúc bằng một chế độ độc tài toàn chế: Thử Lửa, “Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp,” “Viên đạn bắn vào nhà Thục,” Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng. … Phía nữ sinh cũng nhiều chị lỗi lạc. Việt Nam từng có nữ Tiến sĩ Khoa học, nhưng vị nữ Kỹ sư đầu tiên là một cựu học sinh Nguyễn Khuyến, học trò Thầy Doãn Quốc Sỹ, chị Đỗ Thị Như Mai.
Nói chung, các bạn tôi ở ba lớp Đệ Ngũ trường Nguyễn Khuyến năm ấy rất kính trọng và quý mến Thầy Sỹ. Trước khi Thầy tới, đa số các giáo sư của Nguyễn Khuyến ở lớp tuổi trung niên hay cao hơn. Chúng tôi, lứa tuổi 15, 16, quen nhìn vị thầy qua hình ảnh một người cha. Năm ấy, ở tuổi 29, đang ghi danh theo Đại học và với dáng thân mật trẻ trung, Thầy Sỹ đã cho chúng tôi một vị thầy trong hình ảnh một người anh. Chúng tôi cảm mến Thầy vì Thầy ân cần và hiền hòa. Khi Thầy giảng bài, những anh bạn quấy phá nhất cũng chăm chú lắng nghe khiến lớp học yên tĩnh và trật tự.
Nhưng Thầy Sỹ không dạy chúng tôi trọn niên khóa. Chúng tôi được học với Thầy có nửa niên khóa thôi, từ khi khai giảng đến trước Tết Nguyên đán, danh từ thời ấy là trong “Đệ nhất lục cá nguyệt.” Khi Tết đến, Thầy về Hà Nội với gia đình nhưng lúc trở lại trường đầu năm mới Quý Tỵ 1953, chúng tôi được cho biết Thầy Sỹ không dạy ở Nguyễn Khuyến nữa. Nhà trường phải tìm cho chúng tôi một vị Thầy khác. Tuy ngẩn ngơ luyến tiếc, chúng tôi hiểu nguyên nhân và cũng mừng cho Thầy.
Tuy Nam Định chỉ cách Hà Nội 80 cây số nhưng trong thời chiến tranh, mỗi khi đêm tới, nhất là trong đoạn đường từ Nam Định đi Phủ Lý (khoảng 30 cây số), đường hay bị xẻ cắt. Cán bộ Việt Minh ở những làng hai bên đường ép dân ra phá đường. (“Đường đi ngoắt ngoéo chữ chi, Hố ngang hố dọc chữ I chữ TỜ”—Thơ Tố Hữu). Nhiều khi họ còn gài mìn đường và nhiều cây cầu, nên xe hơi từ Nam Định đi Hà Nội và ngược lại tới 8, 9 giờ sáng mới có thể khởi hành. Các xe cũng phải đi thành một đoàn, có xe nhà binh và xe dò mìn đi dẫn đầu, với tốc độ rất chậm, nên có khi mãi 3, 4 giờ chiều mới tới nơi. Vì thế mỗi ngày chỉ có thể hoàn tất một chuyến đi. Thấy Thầy Sỹ xuống Nam Định để dạy học trong khi gia đình vẫn sống ở Hà Nội, chúng tôi phỏng đoán chỉ đến cuối tuần Thầy mới có thể về thăm. Việc Thầy không trở lại sau Tết Nguyên đán khiến chúng tôi hiểu rằng Thầy đã tìm được việc làm ở Hà Nội, và – tuy ngẩn ngơ luyến tiếc — chúng tôi mừng cho Thầy.
Vào Nam sau 1954, chúng tôi được đọc nhiều tác phẩm của Thầy. Ai cũng ngưỡng mộ và say mê cuốn Gìn Vàng Giữ Ngọc với những truyện như “Chiếc chiếu hoa cạp điều.” Anh bạn thân Lê Lai (Lê Văn) của tôi đặc biệt thích Dòng Sông Định Mệnh. Dạy Quốc văn ở Trung học, tôi chọn nhiều đoạn trong Hồ Thùy Dương để đọc cho học sinh nghe. Sau những năm 1964, 1965, khi tình trạng Miền Nam căng thẳng với nhiều chuyện đáng lo, chúng tôi buồn khi đọc Ba Sinh Hương Lửa với những câu như “Lịch sử có định mệnh của nó,” “Chúng ta chưa đến thời. Phải để cho cộng sản thành công đã, nhiên hậu sự thành công của chúng ta mới bền…” “Bậc thức thời … đứng tít trên đỉnh cao, nhìn suốt dòng lịch sử, thấy trước những khúc quành phải kinh qua, họ cô độc thật!” Chúng tôi cũng xót xa khi thấy Thầy mượn lời của nhân vật trong truyện để thốt lên những câu:
Ai mang tôi đến chốn này
Bên kia không óc, bên này không tim.
Sau biến cố 1975, cùng những thân nhân của chúng tôi bị cộng sản giam giữ, chúng tôi theo dõi những năm tháng tù đầy của Thầy. Trong thời gian làm việc cho thư viện của Đại học UCLA, tôi tìm những tác phẩm của Thầy xuất hiện rải rác trong môt số thư viện Đại học Mỹ, dùng phương tiện Interlibrary loan mượn về, chụp lại, đưa đến người em ruột Thầy là chị Doãn Thị Quý, xin chị giữ để chuẩn bị sẽ có ngày in lại. Khi Thầy được anh Doãn Quốc Thái bảo lãnh sang Houston, những bạn Nguyễn Khuyến định cư ở đó như anh chị Nguyễn Khắc Minh & Đỗ Thị Như Mai thường lui tới thăm Thầy.
Khi Thầy đổi về sống ở California, chúng tôi, nhóm Nguyễn Khuyến ở đây tới thăm Thầy dễ hơn. Trong nhiều lần cựu học sinh Nguyễn Khuyến quây quần với nhau, nhất là khi có bạn Nguyễn Khuyến từ xa tới, chúng tôi thường mời Thầy đến với chúng tôi và Thầy vui vẻ, sốt sắng đến. Những năm gần đây hơn, sức khỏe Thầy kém trước, mỗi khi chúng tôi mời như thế, chị Doãn Cẩm Liên thường là người chở Thầy đến tham dự những buổi họp mặt của chúng tôi.
Kính thưa Quý vị,
Được học nhà giáo Doãn Quốc Sỹ từ năm 1952, được đọc nhà văn Doãn Quốc Sỹ từ năm 1956, tôi xin có một nhận xét thô thiển về vị Thầy của chúng tôi như sau.
Doãn Quốc Sỹ thường được coi là một bậc hiền giả, có tâm khoáng đạt, có cách nhìn bao dung. Trước nhiều chuyện, có khi khá trái tai gai mắt, ông thường chỉ nhẹ nhàng thốt lên hai chữ “Thế đấy!” Ông giữ được điềm tĩnh và dùng ngôn từ hiền hòa như thế có lẽ vì đã qua nhiều từng trải, và điều ấy cho ta thấy ông có từ tâm. Trên căn bản, ông rất thiết tha với quê hương, đất nước như việc viết cuốn Người Việt Đáng Yêu. Khi đặt tên các con, ông chọn những từ đẹp cho tên con gái: Ngọc Thanh, Kim Khánh, Cẩm Liên …. nhưng với tên con trai, ông chọn những chữ như Quốc Thái (“quốc thái dân an”), Quốc Hưng (quốc gia hưng khởi), Quốc Vinh, Quốc Hiển (mong đất nước vinh hiển, vẻ vang). “Đặt tên cho người, đặt tình yêu nước vào nôi” (Phạm Duy) có vẻ cũng là tâm trạng của ông. Điều ấy không thể không ảnh hưởng đến tư duy các con. Được biết trong địa chỉ email của anh Doãn Quốc Hưng có những chữ “người Việt Nam.” Có lẽ anh đã đồng cảm với thân phụ?
Kính thưa Thầy,
Thầy dạy chúng em rất nhiều về văn chương Việt Nam, nhưng nay khi “trả bài,” được các bạn trao cho nhiệm vụ viết ra ít hàng về Thầy, thì em thấy bâng khuâng không viết nổi. Em vốn vẫn ít chữ, chỉ xin Thầy cho phép được đọc 14 chữ kính dâng Thầy như sau:
Vế trên: Dân tộc lưu danh trang quốc sĩ
Vế dưới để đối lại: Văn chương in dấu bậc hiền nhân.
Để kính tiễn Thầy, em cũng xin được mượn lời của Nguyễn Du:
Kiếp phù sinh như hình bào ảnh
Có chữ rằng “vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Chúng em xin thành kính bái biệt Thầy.
Trần Huy Bích
THẦM LẶNG



Viết Cho Ti Oui – Doãn Quốc Sỹ Tâm
Doãn Hưng (01/02/2022)
Việt Báo

Từ trái: Doãn Quốc Sỹ Tâm, Doãn Quốc Sỹ, Doãn Quốc Hưng
Bố đặt tên con là Doãn Quốc Sỹ Tâm, tức là tâm của ông nội. Tại sao vậy? Vì bố muốn nhắc con về một truyền thống trọng chữ Tâm của gia tộc nhà mình. Nó khởi đầu từ bao lâu rồi không rõ, nhưng ông nội trở thành một biểu tượng mạnh mẽ. Khi con lớn lên, con sẽ được đọc tác phẩm của ông nội. Con sẽ có dịp đọc những bài viết về ông nội của những nhà phê bình văn học. Con sẽ thấy một ông nội trong xã hội, trong cộng đồng người Việt Nam. Trong bài viết này, bố kể cho con nghe chuyện về một ông nội khác, ông Doãn Quốc Sỹ của gia đình.
Hồi tôi còn nhỏ (thời gian trước 1975), ký ức về một ông bố văn nghệ sỹ không nhiều lắm. Tôi nhớ rằng bạn bè của bố tôi đến chơi nhà đa phần là giới văn nghệ sỹ. Thỉnh thoảng, tôi thấy bố mẹ tôi chuẩn bị cơm chiều ngoài phòng khách (vì cơm gia đình thì ăn trong bếp). Tôi đứng thập thò từ phòng trong nhìn ra, nghe loáng thoáng nhớ đến mấy cái tên như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền… Có hôm, tôi nghe mẹ nói có bác nhạc sỹ Phạm Đình Chương là bài Ly Rượu Mừng tới ăn cơm. Rồi có một lần, cô nhà thơ nhà báo Minh Đức Hoài Trinh đến không ăn cơm trên phòng khách mà xuống nhà bếp cùng ăn với cả nhà.
Đối với tôi hồi ấy, cô thật đẹp, sang trọng, quí phái. Ngồi nghe cô nói chuyện với người lớn về những chuyến đi viết bài ở nước ngoài, quả thật là giấc mơ đối với
một cậu bé ham viễn du như tôi.
Hoạ sĩ có bác Duy Thanh, Ngọc Dũng. Vào khoảng đầu thập niên 70, bác hoạ sĩ Võ Đình từ Mỹ về, ở lại chơi với gia đình tôi khá lâu. Có buổi trưa, bác mua sơn đỏ đen về để sơn lại cái tủ thờ nhà tôi, sau đó dùng tuộc-nô-vít vẽ ngay trên mặt sơn ướt thành 16 hoạ phẩm, có chữ ký của bác đàng hoàng. Bác bảo với chúng tôi rằng sau này, nếu túng tiền thì cứ cậy từng tấm ra mà bán như là một bức tranh,
tính ra thì nhiều Đô La lắm!
Những kỷ niệm liên quan đến sự nghiệp văn chương sau 1975 của bố tôi dĩ nhiên không được êm đềm như thế. Vì nghiệp cầm bút lúc này đi liền với chuyện vào tù ra khám. Hãy nghe mẹ tôi kể về việc bố tôi sáng tác thời gian sau khi bố đi cải tạo lần đầu trở về: bố tôi thai nghén một tác phẩm y như một phụ nữ mang nặng đẻ đau, nên rất dễ biết. Ông vốn ăn đã ít, lúc ấy lại càng biếng ăn thêm. Suốt ngày ông chỉ tư lự, suy nghĩ đến một điều gì đó trong đầu. Thỉnh thoảng lại lấy giấy ra ghi ghi chép chép. Kế tiếp là giai đoạn viết liền tù tì ngày và đêm. Sau đó, bố tôi bắt đầu đọc lại cho chị tôi đánh máy. Mẹ tôi lo lắm. Nghe tiếng máy đánh chữ gõ lạch cạch ban đêm, bà cứ cằn nhằn bố, rồi lại kể lể với con cái. Lúc đó là đầu năm 1984, giấy tờ bão lãnh bố mẹ tôi đi Úc đã xong xuôi, chỉ còn chờ ngày lên chuyến bay là thoát nạn, thế mà bố vẫn làm những chuyện dại dột ấy! Đợi sang kia rồi thì tha hồ viết lách! Mẹ tôi lo không xa tí nào. Chị hàng xóm tốt bụng, là tổ phó an ninh ở đối diện nhau đã lén sang nhà tôi mách rằng hơn một tuần qua, công an chìm đã được cử xuống nằm ở nhà chị để theo dõi nhà tôi. Vào rạng sáng ngày 2 Tháng 5 năm ấy, công an vào lục tung nhà tôi lần thứ hai, rồi bắt bố tôi đi vào khoảng 6 giờ sáng. Tôi nhớ cái cảnh buổi sáng, cả xóm trong hẻm ra đứng chứng kiến cảnh độ một chục ông công an đưa bố tôi ra xe. Trong một cái hẻm lao động vào những năm ấy, mấy chiếc xe con vào đậu trong hẻm cùng một lúc là một điều bất thường. Nhà tôi ở gần cuối hẻm, Bố tôi bước đi lần thứ hai dưới sự chứng kiến của cả xóm. Những cặp mắt tò mò, thông cảm. Mẹ tôi đã phải vất vả thêm 8 năm nữa cho việc đi thăm nuôi ông chồng, vì đã không thể thuyết phục nổi bố tôi chọn cuộc sống an toàn. Người mẹ nào cũng thế, thường phải lo cho gia đình trước đã. Nhưng không phải ai cũng nghĩ như thế. Một số bạn bè văn nghệ của bố đang ở nước ngoài thời ấy, khi biết tin bố tôi sắp đi Úc, có viết thư bóng gió khuyên rằng bố tôi không nên đi. Biết ở lại là nguy hiểm, nhưng ai cũng đi hết thì còn ai là cầu nối nhịp giữa trong và ngoài nước nữa. Thời đó Việt Nam còn đóng kín cửa, tâm tư của người trong nước đâu có mấy ai dám bày tỏ. Nếu câu “miếng khi đói bằng gói khi no” đúng với nghĩa đen, nó còn có nghĩa hơn với các món ăn tinh thần. Bố tôi cũng đồng quan điểm này. Đã hơn một lần, bố tôi nói văn là nghiệp chứ không phải là nghề, mà bỏ nghiệp thì khó lắm ! Sang bên kia rồi, xem chừng khó mà viết lại được những trăn trở của người ở lại, những chứng nhân của một cuộc bể dâu của dân tộc Việt. Có lẽ cả lương tri lẫn đam mê của người cầm bút đều không thể làm ngơ được. Thôi thì, trót mang lấy nghiệp vào thân…
Trở lại với ông Doãn Quốc Sỹ của gia đình, hẳn nhiều người sẽ thắc mắc là thì giờ đâu để một nhà giáo, một nhà văn như bố tôi chăm sóc cho một gia đình 8 con. Đó cũng là một câu hỏi thường xuyên của thế hệ chúng tôi về thế hệ trước. Tôi cũng đã là bố của gia đình hai con. Chỉ mới có hai đứa thôi, vợ chồng tôi đã cảm thấy quá vất vả rồi. Thì giờ đâu mà bố tôi vừa sáng tác, vừa soạn giáo án, vừa chăm sóc, dạy dỗ cho con cái nên người? Có một phương pháp, nguyên tắc giáo dục nào chăng, thí dụ như phương pháp “tự giác” chẳng hạn? Hay chỉ là đơn giản vì “trời sinh voi, trời sinh cỏ ?” Vẫn biết là mẹ tôi mới là người quán xuyến gia đình. Nhưng trong việc định hình, phát triển nhân cách của các con, bố tôi mới có
dấu ấn rõ rệt.
Nhìn lại những chuyện ngày xưa trong gia đình để tìm ra và học tập “phương pháp” đó, tôi nhận ra những điều ngộ nghĩnh. Tôi có một ông chú thương gia giàu nhất trong họ. Chú Kiệm là “cố vấn” của bố, tham gia rất nhiều vào các quyết định của gia đình tôi. Hầu hết tên của bọn tôi, con nhà văn Doãn Quốc Sỹ, là do chú đặt! Đã hơn một lần bọn tôi bị phê bình là tên con của nhà văn mà không được hay lắm! Chú là người tư vấn nhà tôi nên xây sửa theo kiểu nào. Bọn tôi đứa nào học giỏi, thi đỗ đều do chú thưởng. Tôi còn nhớ, cuối tháng nào có bảng danh dự, tôi cũng mong chú mau lên nhà để trình, để có tiền thưởng mua xá xị Phương Toàn uống. Lễ khui champagne cho chị tôi đỗ tú tài làm tại nhà chú. Ấy thế, nhà tôi mới là “trung tâm giáo dục” của họ hàng. Con chú lại được gởi xuống nhà tôi “du học”, tức là ở lại nhà học hành chung với bọn tôi để có không khí, đến cuối tuần mới được về. Sau 1975, cây đàn piano đầu tiên của gia đình tôi và cô Quý ký cóp gom lại mua được đặt tại nhà tôi. Ngọc, con gái của cô ở nhà tôi gần như cả ngày để vừa học chữ vừa học đàn. Có lẽ vì không có gia đình nào đủ can đảm để mua đàn piano, chưng nó tại nhà vào cái thời ấy, khi mà người ta còn phải bán và
dấu bớt đi tài sản của mình vì lý do an ninh.
Nhắc tới đây, tôi muốn nói thêm về một gia đình lớn hơn, gia đình thứ hai của bố tôi. Gia đình ông nội có hai thành viên- bố tôi và cô Quý- di cư vào Nam năm 1954. Ông Tư, em của ông ngoại cũng vào trong đợt này, nhà ở Gò Vấp. Chú Kiệm thì đã lập nghiệp tại Sài Gòn từ năm 1942 ở bên Khánh Hội. Đại gia đình của chúng tôi gồm những thành viên như thế. Hầu như quyết định quan trọng nào của gia đình tôi đều có cô Quý, chú Kiệm, hoặc ông Tư tham gia và ngược lại. Cuối tuần, chúng tôi cũng mong có tiểu gia đình nào sang chơi, hoặc được bố đưa đi thăm nhà ông, cô, chú… Bọn tôi hư hay ngoan như thế nào, đều được “báo cáo” lại cho đại gia đình. Có lẽ trách nhiệm chăm sóc giáo dục con cái của bố mẹ tôi cũng được san sẻ bớt nhờ vậy. Cứ vào ngày mồng Một Tết, gia đình cô Quý – chú Phong sang nhà tôi trước. Sau đó cả hai gia đình cùng lên nhà chú Kiệm. Từ nhà chú Kiệm, cả ba gia đình lên chúc Tết ông bà Tư. Xe chú Kiệm là sang nhất, chiếc xe Hoa Kỳ Chrevolet dài sượt. Cô Quý lái chiếc bốn chỗ gọn gàng hơn, đủ chỗ cho một gia đình 4 con. Bọn tôi 8 đứa thì được chất đằng sau chiếc xe thùng Daihatsu của bố tôi. Nó vừa là xe chở sách đi giao, vừa là xe chở thực phẩm cho cả nhà. Người lớn thì áo vét, áo dài. Con nít diện quần áo mới. Gia đình đông con như nhà tôi, có đôi khi bốn anh em trai mặc cùng một kiểu đồng phục “Tứ Quái Dalton”. Đi đến gia đình nào, gia đình đó náo nhiệt, ồn ào, ấm cúng thêm. Hình ảnh cả đại gia đình rồng rắn nối đuôi nhau đi chúc Tết trong những buổi chiều xuân như vậy mãi mãi không bao giờ phai trong ký ức của tôi. Nó là một biểu tượng rất đẹp của tinh thần tương thân tương ái trong đại gia đình của người Việt. Có lẽ một phần vì hoàn cảnh. Việc bỏ quê hương, dắt díu nhau đi lập nghiệp trong Nam thời ấy đã khiến chúng tôi phải nương tựa vào nhau. Thế nhưng, so với đợt di cư lần hai của dân Việt – đợt ly quốc trong những thập niên 70, 80 mặc dù hoàn cảnh có vẻ khó khăn hơn, hình ảnh đại gia đình Việt Nam ấm áp như vậy ở hải
ngoại hình như nhạt nhoà hơn rất nhiều.
Cách thức chia thời gian cho gia đình, cho nghiệp văn nghề giáo của bố tôi cũng có gì là bí mật, đôi khi lại còn không khoa học nữa. Thí dụ có những buổi chiều mùa nghỉ hè, bố tôi bảo mấy anh em tôi có thích đi chơi không ? Dĩ nhiên là có rồi! Bố tôi bèn chở cả đám ra công viên, thả cho chạy chơi đến tối mịt. Bố tôi ngồi hí hoáy ghi chép trong xe, phải đợi bọn tôi nhắc mới chịu về. Sau này, tôi đoán rằng lúc đó bố tôi đang viết văn. Cũng theo cái cách kết hợp như vậy, năm chừng 10 tuổi tôi đã từng theo bố đến ngồi cuối lớp của Đại Học Vạn Hạnh, để nghe bố tôi giảng bài cho sinh viên. Trong những đợt giao sách, bố tôi chở bọn tôi cùng hàng trăm cây sách đi lanh quanh khoảng năm sáu cửa hàng sách ở Sài Gòn. Mỗi nơi có khi phải đợi tới nửa giờ để bố mẹ tôi giao nhận, tính toán sổ. Mới đầu, bọn tôi cứ thấy được leo lên xe đi ra khỏi nhà là khoái rồi. Sau này phải ngồi chờ trên xe lâu quá, nên bắt đầu chán. Có mấy lần ra xe thấy bọn tôi mặt ỉu xìu, bố tôi phải dỗ dành, “bù lỗ” bằng nhiều cách. Biết làm sao được, nhà đông con mà. Được như vậy đã là một nỗ lực rồi. Tôi vẫn còn nhớ hồi học lớp 2, mỗi học sinh trong lớp phải làm một bộ bảng số có hai ngăn bằng bìa cứng, có các chữ số rời kèm theo. Khi cô giáo ra phép toán trên bảng, học sinh sẽ trả lời đáp số trên bảng này thay vì viết phấn lên bảng con. Tôi vốn rất vụng về nên đâu có thể tự làm được. Đến buổi chiều trước hôm phải có một ngày, tôi lo quá nên khóc lóc cầu cứu bố, mặc dù thực ra bố tôi cũng không hề khéo tay tí nào. Tôi không hiểu bố tôi đã xoay sở như thế nào, mà trong suốt một buổi tối ông loay hoay cắt, dán hoàn thành xong bộ bảng số này. Hôm sau đem nó vào lớp, tôi có thể nhận thấy rằng tấm bảng của tôi thuộc loại “xấu” nhất. Không hề gì, tôi vẫn trân trọng nó lắm. Có cái để học là quá tốt rồi. Bây giờ, khi mình cũng làm bố, tôi mới biết không phải bậc cha mẹ nào cũng sẵn lòng dành thời gian cho con trong những công việc “lặt vặt” như vậy. Những ông bố thì hay có chuyện đại sự để lo. Nếu không thật sự thấy trong những việc chăm sóc cỏn con ấy là niềm vui, hẳn các ông bố sẽ có rất nhiều cớ để
từ chối làm!
Bọn tôi được bố dạy dỗ, giáo dục ra sao? Tôi không nhớ bố tôi có ràng buộc một quy tắc, kỷ luật rõ rệt nào cho các con. Tôi có một thằng bạn bố là sỹ quan quân đội. Ở nhà đó, không có chuyện con cái trong nhà kén ăn chọn uống. Đến giờ cơm, khẩu phần dọn lên là phải ăn cho bằng hết. Tôi còn biết một ông bố là giáo học, các con đứa nào hàng tháng dưới hạng năm thì tự biết sẽ có đòn. Nhà tôi không có những ràng buộc như thế, nên 8 đứa bọn tôi lớn lên hầu như phát triển mỗi người một kiểu, không ai giống ai. Bà chị của tôi học hành rất giỏi ở đại học, nhưng hồi tiểu học từng ở lại lớp. Ông anh tôi từng bị chú Kiệm cảnh cáo vì hồi trung học để tóc dài, hay đua đòi với bè bạn: “Nó mà là con tôi thì đã nát đòn rồi…” Ấy vậy chứ ngày nay, cả 8 đứa bọn tôi dù không thành công nhưng ít ra cũng thành nhân cả. Bố mẹ tôi hay bảo đó là do phúc đức ông bà để lại. Tôi tin vào điều này. Nhưng nó không thể giải thích bọn tôi tuy tâm tính, nhân sinh quan rất khác nhau, nhưng đều có rất nhiều điểm chung về việc coi trọng chữ Tâm. Ai cũng biết đó là ảnh hưởng của bố, nhưng bằng cách nào và tự lúc nào vậy?
Những bài học đạo đức, nhân bản, thiền học… mà chúng tôi nhận được từ bố một cách “có hệ thống” chỉ bắt đầu từ sau khi bố tôi đi cải tạo lần một về vào năm 1980. Đó là các buổi nói chuyện của bố tôi với bọn tôi và một nhóm bạn bè, bọn tôi gọi đó là “đại học bỏ túi”. Đó cũng là cột mốc của một “gia đình” thứ ba của bố tôi. Trong gia đình đó, chúng tôi mới thực sự được nghe bố tôi nói nhiều hơn về điều ông đã viết trong tác phẩm, đã làm trong cuộc sống. Đại gia đình lúc đó của chúng tôi có tên là Hội Ca Cầm. Các thành viên lúc ấy không chỉ gồm gia đình tôi và họ hàng nữa. Anh Hai Lộc, chị Ba Huệ, anh chị Châu…đều biết và thân nhau sau 1975. Chúng tôi đều có một cái tâm trọng nhận nghĩa không muốn bị thời cuộc cướp mất. Thực ra gia đình này được thai nghén hình thành từ năm 1978, người khởi xướng là anh Trần Đại Lộc. Nhưng mãi đến khi bố tôi về, chữ “gia đình” mới trở nên đúng nghĩa hơn vì “có một chỗ dựa tinh thần vững chãi” như chính anh Lộc đã nói. Chúng tôi đã có những ngày tháng không bao giờ quên, với đủ mọi hình thức sinh hoạt “không thức thời”, “không giống ai” vào thời điểm đó: học Phật, học nhạc, học cắm hoa, hội họp ca hát văn nghệ, tập và diễn kịch… Gia đình HCC “thế hệ thứ nhất” của chúng tôi chỉ xum họp trong khoảng năm năm, để rồi lại ly tán dần sau năm 1984, khi bố tôi vào tù lần hai. Vào năm 1988, trong bảng cáo trạng đọc tại toà để kết án bố tôi 9 năm tù giam có tội danh ghi rằng: tổ chức “cái gọi là HCC”, hội họp bất hợp pháp để phổ biến nhạc đồi truỵ,
phản động…
Sau này, tôi biết được điều mà gia đình HCC đã gieo và gặt được chỉ trong khoảng năm năm ấy lớn hơn tôi nghĩ. Nhiều hơn là một nơi chúng tôi và bạn bè chỉ để xả hơi, giết thời giờ nhàn rỗi. Nhiều người trong đại gia đình này đã xem nó như là một điểm tựa tinh thần để nuôi dưỡng hạnh phúc của gia đình riêng mình. Bản thân tôi đã hình thành nhân sinh quan của mình qua những điều học được từ những người lớn của HCC như bố, anh Lộc. Từ việc xử thế cho đến cả ý nghĩa của cuộc đời này. Những điều ấy đã là hành trang của tôi từ ngày lập thân, theo tôi trưởng thành và sẽ là kim chỉ nam của tôi đến cuối đời. Bọn tôi có một người bạn, đã từng đến sinh hoạt văn nghệ với HCC trong khoảng một hai năm. Anh T. là chủ tịch HĐQT của một công ty trang trí nội thất thành công của Sài Gòn hiện nay. Anh là một trong ít doanh nhân làm nên sự nghiệp cỡ triệu USD chỉ bằng công sức, tài năng của chính mình chứ không phải do sự ưu đãi của chế độ. Anh T. cũng thuộc dạng gia đình “không cách mạng” như bọn tôi. Thật ngạc nhiên, khi anh nhắc đến HCC ngày nào như một trong những cột mốc của cuộc đời của anh, đã góp phần tác động để anh là anh T. của ngày hôm nay chứ không phải ai khác. Ngạc nhiên bởi vì chúng tôi vẫn nghĩ rằng HCC chỉ là một trong những nơi giải trí của anh T., và những thành công của anh chẳng có liên hệ chi đến chúng tôi cả. Một người bạn khác là Kh., hiện là một trong những đạo diễn sân khấu nổi tiếng của Sài Gòn, có tài mà không giàu vì thích nghệ thuật vị nghệ thuật, không thương mại hoá tài năng của mình. Kh. đến dự một buổi dạy cắm hoa và hát hò của bọn tôi vào khoảng Trung Thu 1981. Sau này, khi đã thành danh, Kh. kể lại mình đã bị “khớp” trong không khí “văn nghệ nghiệp dư” như vậy, dù Kh. lúc ấy đang học ở trường sân khấu chuyên nghiệp. Kh. không ngờ rằng trong cái thời buổi khốn khó, miếng ăn che lấp hết các như cầu về tinh thần, mà chúng tôi lại có những hoạt động nghệ thuật cao cấp đến vậy. Nếu chỉ gặp nhau chỉ để giải trí, giết thời giờ, gia đình HCC của chúng tôi đã không được đánh giá một cách trân trọng như thế. Càng không phải là do “chơi ngông”, vì ai cũng biết rằng thời đó những sinh hoạt như vậy rất dễ bị chụp mũ cho đủ tội danh, tù tội như chơi ! Hiểu theo nghĩa thụ động, đó là một hình thức phản vệ để chống lại khuynh hướng văn hoá độc đoán, khô cằn, duy chủ nghĩa của cả xã hội thời đó. Nhưng cũng có thể xem đó như một cách đối kháng mang tính bất bạo động và có ý thức trước sự áp đặt về tinh thần, theo cách của những “kẻ sĩ” như anh Lộc, như bố tôi.

Nhắc tới chống đối, có một thứ mà rất nhiều người khuyên rằng chúng tôi “phải noi gương bố”, đó là “tinh thần bất khuất trước quyền lực”, hoặc “một trong những biểu tượng của tinh thần chống cộng của Miền Nam Tự Do”. Các nhà “phê bình văn học” của Việt Cộng đã tấn phong cho bố tôi là đầu xỏ của “những tên biệt kích cầm bút”, mô tả ông như một “kẻ căm thù cộng sản đến tận xương tuỷ”. Tôi cũng đã được nghe kể lại nhiều lần từ bạn bè trong tù của bố về giai thoại về một ông DQS “hiên ngang đối kháng với cán bộ CS trong trại giam”, những câu tuyên bố mang tính “hào hùng, nghĩa khí” của ông trước “kẻ thù”. Thực hư ra sao cũng chẳng rõ, chỉ có điều chắc chắn là chưa bao giờ tôi được nghe chính bố tôi kể lại những giai thoại ấy. Tôi đã được nghe chú Duy Trác kể hồi trong tù, chú xách động cả trại chống đối, yêu sách trong một đêm Giáng Sinh. Sau đó bị biệt giam, chú đã đối đáp với cán bộ ra sao để vẫn giữ được khí phách mà không bị “bắn bỏ”. Những câu chuyện của chú Phan Nhật Nam kể về những ngày tháng biệt giam miệt mài của mình còn kinh khủng hơn nhiều. Tôi không thể nào nhớ hết những “cuộc chiến cân não” của chú và cán bộ quản giáo. Có lẽ nó sẽ được ghi lại đầy đủ trong hồi ký của ông. Chú Nam bảo rằng những chuyện kể trong mấy cuốn sách giật giải Nobel văn chương của Nga như Quần Đảo Ngục Tù vẫn còn
kém xa so với ở Việt Nam về mức độ khốc liệt!
Kể chuyện trong tù của bố, một trong những kỷ niệm đáng nhớ của tôi là vào năm 1978, tôi vượt gần 1000 km để lên trại Gia Lai thăm nuôi bố tôi lần đầu tiên. Ai cũng nhớ đó là giai đoạn khốn khó nhất của Việt Nam kể từ sau 1975. Người ở “nhà tù ngoài” còn không đủ ăn, phải ăn độn đủ thứ thay gạo mà vẫn đói, thì ở “tù trong” làm sao mà no cho được. Đến giờ này, tôi không thể nhớ mẹ tôi đã chuẩn bị những thứ gì cho bố tôi trong cái giỏ cói thăm nuôi ngày ấy (mà nhớ để làm gì những chuyện như vậy…). Chỉ biết là không nhiều. Một lon guigoz đựng thịt chưng mắm ruốc, vài gói bột ngữ cốc, đại loại là như thế. Một hành trình 7 ngày gian khổ, để hai bố con chỉ gặp nhau khoảng 15 phút. Tôi đến trại vào buổi trưa ngày thứ hai của chuyến đi. Tôi phải ở lại trại tối hôm đó, vì giờ thăm nuôi là đầu giờ sáng mỗi ngày. Sáng hôm sau, tôi cùng những người đi thăm đứng sẵn trong nhà thăm nuôi để nhìn người thân của mình từ trong trại sắp hàng bước ra. Khó mà tả lại được cái cảm giác lúc ấy. Buổi gặp quá ngắn ngủi, chỉ đủ để hai bố con trao đổi những thông tin quan trọng: tình hình những người ở nhà, sức khoẻ của bố trong trại… Sau đó là thủ tục nhận quà thăm nuôi. Anh cán bộ đứng ra kiểm tra từng món trong giỏ cói của bố tôi. Anh ta quyết định bỏ bớt lại một món. Tôi cũng không thể nhớ được lý do tại sao anh ta ra quyết định này, vì đồ thăm nuôi cho bố tôi vốn đã rất ít. Có lẽ quy luật là bất cứ ai cũng phải bị bỏ lại một cái gì đó, dù đem lên ít hay nhiều ! Tôi còn nhớ, phản ứng của tôi lúc bấy giờ là không xin xỏ tay cán bộ ấy cho dù cảm thấy vô lý. Tôi nghĩ rằng đó cũng là thái độ mà bố tôi cũng sẽ làm, thái độ “ắt có” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ “chống cộng hàng đầu”. Thật ngạc nhiên, bằng một thái độ nhã nhặn, bố tôi đã giải thích là tôi đã đi rất xa, rất vất vả để lên thăm, số lượng quà đem lên kỳ này cũng ít, cho nên xin được giữ lại món ấy. Cuộc thương lượng đó thất bại. Tôi vẫn phải đem món đó về lại Sài Gòn, nặng trĩu trong lòng nhiều hơn là trên tay. Trên suốt quãng đường về, tôi cứ băn khoăn mãi, cứ tự hỏi bố làm như vậy có phải không ! Ở tuổi mười sáu của lý tưởng, chưa bao giờ phải đối diện với cái đói thực sự, chưa có bao nhiêu kinh nghiệm trên trường đời, tôi đã chờ đợi bố tôi trong tù với một hình ảnh “bất khuất
kinh điển” thường thấy qua sách vở!
Trở lại với cái ngày xét xử bố tôi vào năm 1988 cùng với các cô chú văn nghệ sỹ khác: Hoàng Hải Thuỷ, Duy Trác, Lý Thuỵ Ý,… phiên toà “DQS và đồng bọn, với tội danh tuyên truyền phản cách mạng, chống phá nhà nước XHCN”. Đó là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một phiên toà chuyên chính vô sản của nhà nước Việt Nam. Phiên toà xét xử theo quan điểm của giai cấp chứ không bằng lý lẽ. Ấy vậy mà bà thẩm phán kiêm công tố viên, với “vũ khí giai cấp” trong tay đã phải hết sức vất vả mới chứng tỏ được quyền lực của mình, và đưa phiên toà đến gần tới cái đích mà nó đã được định trước. Theo tôi, bà đã không lường trước được hết tình huống có thể xảy ra, vì bà đã không ngờ là phiên toà “một chiều” này có thể có phản ứng theo chiều ngược lại. Trong lượt phát biểu ý kiến của mình, bác Hoàng Hải Thuỷ đầu tiên khẳng định ngay rằng bố tôi không phải là “lãnh đạo”, và những người khác không là “đồng bọn”. Văn nghệ sỹ trong Nam tự do về nhận thức, không ai lãnh đạo được tư tưởng của ai, xúi bẩy ai viết theo ý mình cả. Rồi bác giải thích rằng những gì mà bác đã viết và gửi ra nước ngoài đều là sự thực. Vào thời điểm mà phiên toà đang diễn ra, những điểu đó đang được các văn nghệ sĩ của nhà nước viết và phát hành rộng rãi trong nước. Khi bác dứt lời phát biểu bằng câu nói: “chúng tôi chỉ có một tội duy nhất là viết sớm”, cử toạ của buổi xét xử (đa phần là thân nhân của các bị cáo) đã không thể kềm chế được nữa, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hoan hô ! Bà thẩm phán khốn khổ đã phải đập búa, yêu cầu công an bảo vệ với súng ống trong tay lập lại trật tự. Chú Duy Trác, vốn là một luật sư, đã trình bày hết sức có hệ thống, hợp lý, thuyết phục dựa trên công pháp quốc tế, dựa trên chính những điều mà luật của chính quyền XHCN Việt Nam công nhận để bào chữa cho mình và cả nhóm. Bà thẩm phán đã không thể bác bỏ được những lý luận ấy. Bà chỉ cố bám lấy những dữ kiện mà trong bản cáo trạng, và lái mọi câu trả lời vào những tội danh đã được chỉ ra. Điều mà tôi muốn nói ở đây là phần phát biểu của bố tôi kém “hùng hồn” nhất, và cũng không chặt chẽ về mặt luật pháp. Bác Thuỷ rất có lý khi đã khẳng định rằng bố tôi không thể là lãnh đạo của nhóm được. Những ai chờ đợi hình ảnh một ông DQS hào hùng, bất khuất
có lẽ sẽ thất vọng trong phiên toà này.
Những điều mà chính tôi được chứng kiến như đã kể trên đã giúp tôi điều chỉnh lại chính xác hơn những “truyền thuyết, anh hùng ca” về bố mình. Bố tôi không kể cho chúng tôi nghe những chuyện đối kháng với kẻ thù, có lẽ vì ông không phải là con người của tranh đấu, đối đầu. Cũng có thể là vì ông không có một “kẻ thù cá nhân” nào rõ rệt. Trong một truyện viết về những ngày tháng trong tù, bố tôi nhắc đến anh cán bộ quản giáo với một hình ảnh con người đáng tội nghiệp. Anh ta cũng đang xa gia đình. Anh ta cũng mong ngày về như những tù nhân của mình mỗi độ xuân về… Bố tôi căm thù cái phi nhân của một chủ nghĩa, sự ngu dốt và độc đoán của một tầng lớp lãnh đạo. Bố tôi không nhắm vào những cá nhân thừa hành bên dưới, vì họ cũng chỉ là nạn nhân của sự bưng bít, thiếu kiến thức, thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn. Điều đó thể hiện trong nếp sống thường ngày. Tôi không nhớ được bố tôi ghét ai đó theo kiểu “xúc đất bỏ đi” cả. Cho dù ở hoàn cảnh nào, ông đều tìm ra được một nguyên nhân để cảm thông với người mình không thích. Có lẽ vì thế mà bố tôi trông “giống” với một nhà giáo hơn là một văn nghệ sĩ. Trong cuộc sống gia đình, trong giao tiếp xã hội, hình ảnh đậm nét nhất của bố vẫn là một ông giáo sư, một cư sĩ Phật Giáo. Điều này càng thấy rõ hơn trong những năm tháng sau này, khi bố tôi bắt đầu buông xả chuyện thế sự, quên bớt những biến cố trong đời để sống thảnh thơi với gia đình con cháu. Bố tôi quên nhiều thứ, khá im lặng trong giao tiếp hàng ngày. Nhưng ông lại thật sự linh hoạt, dí dỏm khi gặp các đồng nghiệp, học trò của mình trong nghiệp nhà giáo. Những lúc ấy, tôi thấy bố tôi như trẻ lại. Bên cạnh gia đình tôi, có lẽ đó là gia đình gần gũi nhất của bố tôi về mặt tinh thần: gia đình Sư Phạm. Ở “gia đình” thứ tư này của bố, tôi học được rất nhiều về hai chữ lễ nghĩa, cho dù tôi không phải là học trò của bác Linh, bác Bửu – những đồng nghiệp của bố; hoặc của anh Tín, anh Khuê – thế hệ học trò của bố tôi. Những dịp lễ tết, các bác và các anh lại đến thăm hỏi tình hình sức khoẻ của bố tôi trong tù, sau đó lại gởi ít quà, hoặc tiền để phụ giúp gia đình trong công việc chăm số bố tôi. Nhà tôi nhận được rất nhiều sự trợ giúp tương tự như vậy. Nhưng chính cái “cách cho” của gia đình sư phạm là điều mà tôi nhớ mãi. Dù người nhận quà là mẹ hay chị tôi, các bác và các anh chị đều đứng lên, trịnh trọng trao qua kèm với lời chúc bố tôi khoẻ mạnh, mau về… Cả thầy lẫn trò lúc ấy tóc đều đã bạc. Nhiều người cũng chẳng còn cầm phấn từ lâu… Ở cái thời buổi mà lễ nghĩa liêm sỉ mai một, không còn tôn sư trọng đạo, sở giáo dục dự định cho phép học sinh phê bình góp ý với thầy cô của mình, tôi không cầm được nước mắt khi nhớ về những hình ảnh đó. Nó là mẫu mực của tôi về một thế hệ giáo dục của Việt Nam trước 1975, giống như hình ảnh ông đồ già đại diện cho một thế hệ Nho học trước đó. Tôi nhớ những lúc bác Linh rủ bố tôi ngồi uống cà phê cóc ở lề đường trường Cao Đẳng Sư Phạm. Tôi nhìn hai ông già ấy, và tin là mình vẫn nhận ra họ như những nhà giáo thực sự giữa muôn vạn con người trong xã hội. Phong thái mới là cái làm cho họ “giống như nhà giáo”, chẳng cần phải cầm phấn đứng trên bục giảng. Những anh chị trong thế hệ học trò cũng vậy. Tôi cũng từng tham dự những buổi nhậu nhẹt với các anh. Những câu chuyện tầm phào trên bàn nhậu của các anh cũng khác. Có một chút hoài niệm, một chút sĩ khí. Một chút chua chát của những kẻ sĩ không gặp thời. Một chút khôi hài dí dỏm nhiều ẩn dụ… những thứ như vậy tôi rất ít tìm thấy ở thế hệ sau này. Tôi thông cảm được những nỗi niềm ấy, nên tự cho rằng mình cũng thuộc thế hệ của quá khứ…
Chuyển cách nhìn bố tôi hiền hoà, an nhiên hơn như một nhà giáo, một cư sĩ Phật giáo thay vì là một nhà văn, một biểu tượng chống cộng… giúp tôi giải thích được cách mà bố tôi giáo dục chúng tôi, hay cảm hoá người khác trong cuộc đời, cách mà bố tôi đã trở thành ông Doãn Quốc Sỹ của “một cộng đồng người Việt hải ngoại” ngày hôm nay. Bố tôi là một ông giáo hiền lành, một con người nhân hậu vì bản chất của ông là như vậy. Nhưng sức mạnh của ông bắt nguồn từ chữ TÂM. Khi cái Tâm đã toả sáng vì nó đã biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu, nó bắt đầu thoát ra khỏi sự sợ hãi. Đó là điều kiện kiên quyết để có một cái Tâm tự do. Sức mạnh tâm linh của một cá nhân sẽ nhờ sự tự do mà tự toả sáng, không cần ngôn từ, không cần chứng tỏ. Bố tôi đã dạy cho tất cả chúng tôi ngồi thiền để tốt cho sức khoẻ, để luyện tâm thanh tịnh. Bố tôi ngồi thiền rất đều. Có một điều tôi biết là bố tôi ban đầu không đặt quá nhiều mục tiêu trong thiền tập, ví dụ như: “bản lai diện mục”, hay “giải thoát” chẳng hạn. Bố tôi rất thích phương pháp bắt đầu thiền tập của Thầy Nhất Hạnh trong cuốn sách “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức”. Hãy khởi đầu với mục đích đơn giản là tìm lại hạnh phúc của chính mình qua sự ý thức rõ rệt về sự hiện diện của bản thân. Tuy nhiên, khi mà Tâm đã an tịnh rồi, cái thấy của tuệ giác sẽ tới mà không cần vọng động. Buông xả là cái mà bố tôi nhắc nhở rất nhiều trong đời. Có lẽ chính nó lại là nguồn gốc của những cái “có được” của bố tôi, vì nó cho cái Tâm sức mạnh của sự tự do. Chữ “NHÂN” của bố tôi từ đó mà toả sáng, giản dị, không ồn ào. Không thấy cái “tôi” của bố trong chữ Nhân đó, nhưng ai cũng nhìn thấy nó qua cuộc đời của ông. Mọi người thân hay cho thí dụ về bố tôi đã từng sống “nhân ái” ra sao, chứ không trích dẫn trong tác phẩm của ông đã luận về chữ NHÂN như thế nào. Chú Nguyễn Đình Toàn đã từng nói với bọn tôi rằng: “trong giới văn nghệ sĩ, không ai phục ai về tài viết văn cả. Nhưng nhiều văn nghệ sĩ trong Nam quí mến bố cháu ở cái đời sống đạo đức của ông.” Đối với con cái cũng vậy. Chúng tôi được dạy dỗ bằng chính cách sống của bố, chứ không bằng những “phương pháp giáo dục”. Theo cái cách mà Thầy Nhất Hạnh ví von: khi có một vị Phật ra đời, thì cỏ cây xanh hơn, nước sông trong hơn. Bố tôi tuy chưa là Phật, nhưng cái Nhân của ông cũng đã “cảm hoá” chúng tôi phần nào.
Khi cái Tâm ấy phải đối chọi với nghịch cảnh, những quyền lực phi nhân muốn chế ngự nó, nó sẽ không tìm cách đối chọi để chiến thắng. Cái Tâm của bố tôi vẫn chỉ là chữ Nhân hiền hoà đó. Người ta không thắng được nó bởi vì nó tự do. Nó vượt qua, không đầu hàng cái xấu vì nó không sợ hãi phải mất đi một cái gì nếu mình không thay đổi. Không có đối kháng. Nhưng mạnh mẽ và tự tin. Hồi bố tôi chuẩn bị xét xử lần thứ hai vào năm 1988, bạn bè khắp nơi trên thế giới đã vận động mạnh mẽ đến nỗi chính quyền Việt Nam phải hoãn xét xử vào giờ cuối để tìm cách giảm nhẹ tình hình. Để tránh mất mặt khi phải đổi giọng, đảng và nhà nước đã phải cử ông chú tôi làm trung gian vào tù thương lượng, đề nghị bố tôi nhượng bộ bằng cách tỏ vẻ “ăn năn” để được “khoan hồng”. Tất nhiên là cuộc thương lượng đó bất thành, họ đánh giá bố tôi quá thấp ! Điều đáng kể ở đây là thái độ của bố tôi trước biến cố này. Lọt vào tay “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, đây ắt hẳn sẽ trở thành một câu chuyện li kì về “tấm gương đấu tranh bất khuất, một cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai anh em hai chiến tuyến…” Lần duy nhất bố tôi nói về nó là do sau này tôi hỏi và bắt bố tôi kể lại. “Có gì đâu, chú đề nghị bố xin lỗi. Giống như sau khi mình tát ai một cái thì mình cũng phải tỏ vẻ ân hận một chút. Nhưng đời nào bố lại làm vậy…” Bố tôi chỉ vắn tắt có bấy nhiêu! Điều đó làm tôi nhớ đến một hình ảnh trong thiền mà bố tôi hay sử dụng: hồ nước trong như một tấm gương. Một cánh chim bay ngang qua, hồ nước in hình nó.
Chim bay đi rồi, thì hồ nước lại trong vắt như tự bao giờ…
Cái tâm buông xả ấy đã giúp bố tôi vượt qua bao nhiêu chướng ngại của cả một đời sóng gió. Bây giờ nó lại đưa ông ra khỏi những ưu tư, phiền muộn của một kiếp người trong những năm tháng cuối đời. Bây giờ đã tám mươi, bố tôi quên hết bao nhiêu chuyện thăng trầm, chuyện tù tội, chuyện quốc gia đại sự, chuyện thù ghét… Bố tôi bây giờ là ông nội mỗi khi bé Vịt, bé Đan ở bên cạnh ông tại ngôi nhà Houston. Bố tôi là độc giả của chính những tác phẩm ngày xưa do mình viết ra, ông đọc lại mà vẫn thích thú theo dõi diễn tiến câu chuyện như chưa từng viết nó. Ông cũng sẽ là thành ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngày nào, mỗi khi có nhóm cộng đồng người Việt mời đi tham gia một hoạt động văn hoá. Nhưng sau đó, thì “mặt hồ nước lại trong vắt như tự bao giờ, khi cánh chim đã bay qua…”.
Tôi rất thích câu hát trong đoạn cuối của bài Rong Khúc của nhạc sĩ Phạm Duy:
“…Ta vứt sau ta những nẻo đường trần,
Ta vút bay theo những nẻo đường tiên,
Nhưng nếu mai sau ai gọi người tình,
Anh sẽ quay lưng bước vào nẻo xanh”…
Bác Phạm Duy cũng như bố tôi, là một trong số những người đã trở thành chứng nhân lịch sử của toàn bộ cuộc biển dâu của dân tộc Việt trong 60 năm qua: cuộc kháng chiến chống Pháp. Những năm đất nước chia đôi, người Việt ly hương lần đầu. Chiến tranh Nam Bắc. Những ngày đất nước tang thương trong sự cai trị của chính quyền CSVN sau 1975. Người Việt rời bỏ quê hương ra đi, tạo nên một cộng đồng người Việt tha hương khắp nơi, như một bộ phận không thể tách rời của mảnh đất hình cong chữ S này và những người ở lại… Ôi, thế hệ đã khóc cười theo vận nước nổi trôi ấy, sau cùng cũng đã sẵn sàng vứt bỏ chuyện đời phù du, để thảnh thơi đi vào cõi chung. Có điều Phạm Duy là nghệ sĩ thực sự. Tình yêu con người và cuộc sống của ông nồng nàn đến độ ta nhận thấy rằng nhạc sĩ vẫn còn lưu luyến lại cuộc đời.
Còn bố tôi…?
Dòng sông định mệnh của bố đã ra đến biển khơi rồi, có còn khúc quành nào nữa đâu mà lưu luyến, phải không bố ơi…
Sỹ Tâm con ơi, bố chỉ định viết về ông nội của gia đình. Thế mà con thấy đó, ông nội có ít nhất những bốn “gia đình” để thương yêu, chia xẻ. Khi mình đã xoá bớt những rào cản giữa cái tôi của mình và thế giới còn lại, thì cái tâm của mình sẽ rộng mở. Tình yêu trong ta cũng sẽ bao dung hơn. Dù muốn hay không, ông nội không còn là của riêng của gia đình mình nữa rồi. Ông nội là người của cả một cộng đồng người Việt. Cũng vì chữ Tâm mà thôi. Chữ Tâm là cái quan trọng nhất khi mà con muốn tóm tắt về cuộc đời của ông nội mình.
Con có biết không, viết về cái Tâm là cái khó nhất, vì bố cũng chỉ là người đang đi tìm. Viết về cái Tâm của một người khác, nhất là của một người nổi tiếng như ông nội, lại còn khó hơn nữa. Có điều bố vẫn viết được, vì cái Tâm của ông nội không năng cái “tôi” riêng. Đó là chữ Tâm của chung cho cả nhân loại, của những ai biết buông xả để đi tìm gặp. Chữ Tâm ấy nằm sẵn trong bố, nằm sẵn trong con tự lúc mới ra đời rồi. Bố viết về Tâm của ông nội cũng như đang đi tìm tự Tâm của mình vậy.
Bố viết cho con những dòng này, để sau này khi con lớn lên, con nhận thức được rằng mình đã được thừa kế một gia sản rất lớn về chữ Tâm đó. Nó sẽ là hành trang, nhưng cũng chính là đích đến của cuộc đời con…
Tháng 4 – 2002
Bố Hưng



