Bà Eleanor Roosevelt được Liên Hiệp Quốc giao nhiệm vụ điều hợp Ủy ban Nhân Quyền để tiến hành soạn thảo bản tuyên ngôn vào năm 1946.

Năm 2018 đánh dấu nhiều biến cố lịch sử lớn. Đáng kể nhất là ngày 11 tháng 11, tưởng niệm 100 năm Thế Chiến Một chấm dứt. Tháng 12, ngày 10 sắp tới, là kỷ niệm 70 năm sự ra đời của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (TNQTNQ).

Bà Eleanor Roosevelt, vợ của cố tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, được Liên Hiệp Quốc giao nhiệm vụ điều hợp Ủy ban Nhân Quyền để tiến hành soạn thảo bản tuyên ngôn này vào năm 1946. Mất hai năm để soạn thảo, và nhiều tháng thảo luận và tranh luận, cuối cùng bản tuyên ngôn đã được đa số thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Trong 70 năm qua, giá trị và tinh thần của bản TNQTNQ đã tác động lên hàng triệu, nếu không phải là hàng tỷ, người trên khắp thế giới, những con người khát khao được sống có nhân phẩm và tự do. Nó đã ảnh hưởng và thay đổi nền chính trị quốc gia và quốc tế một cách đáng kể. Nó là động cơ thúc đẩy bao nhiêu người mạnh dạn đứng lên giành lấy quyền làm người, quyền làm chủ cuộc sống của mình và làm chủ đất nước mình. Đối với họ, quyền con người là bình đẳng cho mọi người chứ không chỉ là ngoại lệ cho một thiểu số nào đó.

TNQTNQ, do đó, cũng chính là ám ảnh lớn nhất của các chế độ độc tài.

Từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 rằng mọi người được sinh ra bình đẳng, được ban cho các quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc. Đến Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyềnrằng mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền hạn; họ được ban cho lý lẽ và lương tâm và nên hành xử với nhau trong tình huynh đệ.

Về khía cạnh lịch sử thì đây là sản phẩm của Hoa Kỳ. Nhưng về tư tưởng thì không phải. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ, kể cả Thomas Jefferson, đã nghiên cứu và học hỏi từ nền chính trị tại Anh quốc và châu Âu, và vay mượn các ý tưởng và tư tưởng của các triết gia thời đại Khai sáng thế kỷ 17 và 18. Nhưng các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã dứt khoát về mặt tư tưởng, bỏ hẳn chế độ quân chủ, do đó hành động của họ mang tính cách mạng. Họ có công rất lớn trong việc tiên phong thử nghiệm thành công và đặt nền tảng đầu tiên để xây dựng một chế độ dân chủ vững mạnh, bảo đảm quyền lực được phân tán sâu rộng, và được cân bằng và kiểm soát, mà chủ yếu là làm sao quyền lực của mọi chính quyền từ đó về sau không tập trung quá mạnh để bị lạm quyền và hư hỏng. Như thế mới bảo đảm được các quyền và tự do của mọi công dân trong xã hội.

Sự thành công của Hoa Kỳ đã khuyến khích và động viên bao quốc gia khác trên toàn thế giới tìm hiểu các mô hình nhà nước thích hợp để xây dựng nền chính trị của quốc gia mình.

Ông Hồ Chí Minh cũng đã vay mược tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ để đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, và còn khẳng định đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Nhưng sau khi lên cầm quyền ở miền Bắc, và rồi toàn nước sau 30 tháng 4 năm 1975, chính ông, những người thừa kế, và chế độ ông hình thành, đã một mực chối cãi và chối bỏ tất cả, để đến hơn 70 năm sau, tự do vẫn không hề hiện hữu. Tự do vẫn chỉ là trong cửa miệng của quan quyền, của cán bộ, của công an, thuộc chế độ này. Họ ngồi xỏm lên hiến pháp và pháp luật, đúng hay sai không dựa trên pháp luật gì cả mà là do cái lưỡi không xương của họ quyết định. Quyền sinh sát vẫn nằm trong tay một thiểu số đang cai trị đất nước tuyệt đối và toàn diện.

Trong khi đó, trên 70 năm qua, bao nhiêu quốc gia trước đây thuộc hạng lạc hậu, nghèo nàn, thì giờ đây đã trở thành những con rồng con hổ trong vùng và trên thế giới, và đã tiến bộ đáng kể về dân chủ và nhân quyền. Nên nhớ rằng vào năm 1941, giữa Thế Chiến Hai, lúc đó chỉ còn lại 11 quốc gia có nền dân chủ. Điều này làm cho tổng thống Roosevelt lúc đó quan ngại rằng có thể là điều bất khả để bảo vệ “ngọn lửa dân chủ vĩ đại từ bóng tối bao trùm bởi bạo tàn”. Nhưng thế cờ thay đổi sau khi Hoa Kỳ và đồng minh chiến thắng năm 1945. Đáng kể nhất là sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt. Đến năm 2000, tức trên năm thập niên sau TNQTNQ, tổ chức Freedom House nhận định có 120 quốc gia, tức khoảng 63 phần trăm dân số toàn cầu, là dân chủ. Khi mở ngoặc ở đây là trong 13 quốc gia mà Freedom House liệt kê thuộc dạng áp bức nhất trên thế giới lúc đó thì có ba nhà nước độc đảng là Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam, tám nước kia đều là nước mà người đạo Hồi chiếm đa số, và hai nước còn lại bị cai trị bởi độc tài quân phiệt.

Trong 12 năm qua, cũng theo tổ chức Freedom House, thì dân chủ đã bị khủng hoảng, trong đó quyền chính trị và tự do công dân đã xuống mức thấp nhất trong một thập niên qua. Hoa Kỳ, nước tiên phong và thành trì về nhân quyền trong suốt bảy thập niên qua, tuyên bố rút khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (hậu thân của Ủy ban Nhân quyền LHQ hoạt động từ năm 1937 đến 2006) vào ngày 19 tháng Sáu năm nay. HĐNQ đã làm mất đi giá trị và lý tưởng của mục tiêu ban đầu bởi vì những quốc gia vi phạm nhân quyền trầm trọng lại được bầu vào đây và họ đồng lõa nhau để tránh sự giám sát. Trong HĐNQ gồm 47 thành viên thì năm 2018 có 21 quốc gia tự do, 12 quốc gia bán tự do, và 14 quốc gia không tự do. Một năm mà có nhiều quốc gia không tự do nhất làm thành viên từ trước đến nay. Nói cách khác, các chính thể độc tài ngày càng biết sử dụng trò chơi dân chủ để giết chết dân chủ.

Dù sao, so với bảy thập niên trước thì bước tiến dân chủ trên toàn cầu là rất đáng kể. Tính đến năm nay 2018, có 45 phần trăm quốc gia trên thế giới, chiếm khoảng 39 phần trăm dân số toàn cầu, là được sống trong tự do. 30 phần trăm quốc gia chỉ được tự do một phần nào đó chứ không phải toàn phần, chiếm 24 phần trăm dân số toàn cầu. Còn lại 25 phần trăm quốc gia không có tự do, chiếm 37 phần trăm dân số toàn cầu (chỉ mỗi Trung Quốc đã chiếm gần 19 phần trăm dân số toàn cầu).

Việt Nam thì vẫn không thay đổi bao nhiêu. Việt Nam vẫn tiếp tục bị đánh giá là không tự do. Trong thang giá trị này, tự do tại Việt Nam được đánh giá là sáu trên bảy, quyền chính trị là bảy trên bảy, và tự do công dân là năm trên bảy (chú ý: số một là tự do nhất, và số bảy là ít tự do nhất). Tổng cộng thì Việt Nam có tỷ số 20 trên 100, mà số 0 là ít tự do nhất, và số 100 là tự do nhất. Nhưng tính ra thì Việt Nam vẫn đỡ tệ hơn Trung Quốc một chút: tỷ số 14 trên 100, mặc dầu GDP của Trung Quốc gần gấp bốn lần Việt Nam.

Đó là một điều đáng buồn và tủi nhục. Kinh tế thì có phát triển thật nhưng các nguyên tắc và giá trị về văn hóa, giáo dục, xã hội và đạo đức công dân thì bị khủng hoảng trầm trọng. Bạo lực xã hội gia tăng một cách đáng lo ngại.

Thứ tự do duy nhất tại Việt Nam hiện nay, nếu có, là thứ tự do của kẻ cầm quyền tự tung tự tác. Hiến pháp và pháp luật hiện hữu hay được làm ra là để trói buộc và điều khiển người dân, từ luật Đặc Khu đến luật An Ninh Mạng v.v… Nó hiếm khi nào có mục tiêu phục vụ cho nhu cầu phát triển đất nước khi tình thế thay đổi, và nó hoàn toàn không phải để ràng buộc mọi công dân, trong đó có kẻ cầm quyền. Như có người đã từng ví, Việt Nam có một rừng luật nhưng chỉ dùng luật rừng.

Trong khi gần hàng trăm quốc gia khác đã đạt được các bước tiến bộ đáng kể trong 70 năm qua về dân chủ/nhân quyền, thì 25 phần trăm quốc gia còn lại, trong đó có Việt Nam, vẫn bị liệt kê là hoàn toàn không tự do. Vậy khi nào mới đến phiên Việt Nam?

Chừng nào người Việt Nam hiểu thật rõ rằng muốn có tự do, tức nhân quyền (kể cả các quyền được làm và quyền được miễn), thì phải có dân chủ thật sự. Không có dân chủ thì không thể bảo đảm được quyền tự do cho mình và người khác.

Để làm được điều đó, chúng ta cần suy nghĩ và thảo luận rốt ráo về một số ý tưởng và triết lý nền tảng sau đây.

Trung tâm của học thuyết nhân quyền và nền dân chủ đại diện/cấp tiến là chủ nghĩa cá nhân. Tinh thần của tuyên ngôn độc lập và tuyên ngôn nhân quyền đều dựa trên nền tảng cá nhân. Mọi người, bất kể thuộc chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hay bất cứ ý kiến nào khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội nào, tài sản, tình trạng khai sinh hay bất cứ địa vị nào, đều không được phân biệt (điều 2).

Chủ nghĩa cá nhân đặt trên nền tảng rằng chúng ta (tất cả mọi người) là những công dân tự nhận thức (ý thức), tự tối đa hóa quyền lợi của mình (tính toán vì quyền lợi), và có tư duy độc lập với xã hội mà chúng ta lớn lên.

Vì quan niệm này, chủ nghĩa cá nhân có thể mâu thuẫn với nhà nước chủ quyền, đặc biệt nếu nhà nước chủ quyền đó đang cố gắng hạn chế các quyền công dân.

Nó có thể là mâu thuẫn với chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt là chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Nó có thể mâu thuẫn với chủ nghĩa tập thể/cộng đồng, đặc biệt là loại không có chỗ đứng cho cá nhân, coi phục vụ tập thể/cộng đồng là trên hết.

Nó có thể là mâu thuẫn với các tổ chức khác, bao gồm cả tôn giáo và thậm chí cả nền luật pháp (mang tính phân biệt và loại trừ). Lý do là vì học thuyết nhân quyền đặt ý tưởng về một cá nhân độc lập với bất kỳ giới tính, chủng tộc, sắc tộc, bản sắc tình dục hay bất kỳ đức tin nào, thậm chí ý kiến chính trị có đi ngược lại ý kiến của đa số. Giới LGBTI là một ví dụ.

Còn về lòng yêu nước?

Theo ý kiến của tôi, nó không nhất thiết phải mâu thuẫn với lòng yêu nước thực sự. Cả hai đều có thể tương thích nếu một cá nhân có trái tim và tâm trí để yêu thương, yêu một quốc gia cũng như yêu nhân loại mà không phân biệt. Nhưng chúng sẽ không tương thích nếu lòng yêu nước là loại hẹp hoài, loại dân tộc chủ nghĩa thúc đẩy tình yêu cho đất nước của một người nhưng phân biệt chủng tộc, hoặc gieo thù hận, chối bỏ toàn bộ các chủng tộc khác, chẳng hạn.

Có phải đa số người Việt Nam ủng hộ nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam? Nếu thế thì liệu họ có sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa cá nhân, cái mà trước nay không nằm trong tư duy của họ? Hó có sẵn sàng coi trọng những cá nhân có tâm thức và trí tuệ mạnh mẽ để thúc đẩy nguyện vọng tự hiện thực hoài bão và tự tối đa hóa quyền lợi, tức những người có tham vọnglớn?

Trên hết, chủ nghĩa cá nhân có thể là mâu thuẫn với một số nền văn hóa, đặc biệt là văn hóa Khổng giáo. Nền văn hóa Việt Nam vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo cho đến thời đại này. Không phải mọi triết lý Khổng giáo đều đi ngược lại các giá trị nhân quyền hay chủ nghĩa cá nhân, bởi vì Đài Loan, Đại Hàn và Nhật Bản là những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo. Nhưng họ vẫn xây dựng được nền dân chủ ngày càng vững ổn và cấp tiến, và nhân quyền tại các quốc gia này ngày càng tiến bộ. Nhưng các giá trị và tư tưởng Khổng giáo khác vẫn tiếp tục chi phối giới cầm quyền và xã hội tại Trung Quốc và Việt Nam cho đến nay.

Nếu Việt Nam muốn có nhân quyền và dân chủ, điều quan trọng đầu tiên người Việt cần làm là phải suy nghĩ kỹ về các giá trị cần duy trì và những giá trị cần phải hủy bỏ.

Một xã hội mà nhân quyền được tôn trọng sẽ không có chuyện cha mẹ đánh đập con cái bị thương tích mà cơ quan công quyền lại làm ngơ. Sẽ không có chuyện chồng đánh vợ tàn nhẫn mà diễn đi diễn lại ngày này qua tháng nọ. Sẽ không có chuyện thầy cô cho học trò ăn tát, và còn cho các học sinh khác bè hội đồng, đến 231 cái, mà thầy cô đó không bị pháp luật trừng phạt. Sẽ không có chuyện công an bảo miệng tao là pháp luật, các quan chức càng cao càng đứng trên và ngoài pháp luật, và những người làm luật, diễn giải luật, và hành luật, đều là những kẻ vi phạm pháp luật trầm trọng nhất.

Nói chung cả xã hội Việt Nam vẫn tiếp tục vận hành theo kiểu kẻ cai trị có quyền sinh sát người bị trị của các thế kỷ trước. Vẫn tiếp tục sử dụng bạo lực để khủng bố tinh thần người dân thay vì thông tin, giáo dục và pháp quyền. Có người sẽ bảo rằng đó là do chế độ và chủ nghĩa cộng sản gây nên. Theo tôi thì trước khi chủ nghĩa cộng sản du nhập vào Việt Nam, văn hóa chính trị của chúng ta vẫn thế. Chế độ cộng sản có “công” làm cho nó trầm trọng hơn nhiều lần. Toàn diện và tuyệt đối. Họ đã đưa nó lên đỉnh cao nhờ “đỉnh cao trí tuệ” của họ. Nhưng không thể đổ lỗi hoàn toàn cho họ. Làm như thế chỉ tự dối mình, rồi không giải quyết được gì cả, như bao nhiêu vấn đề khác từng xảy ra bấy lâu nay.

Tôi không nghĩ chúng ta có thể đạt được nền dân chủ đích thực cho Việt Nam, trong đó thật sự tôn trọng nhân quyền, mà không suy nghĩ về những câu hỏi này và không cố gắng trả lời nó một cách đầy đủ và trung thực. Nhất là với chính mình trước.

(Úc Châu, 04/12/2018)
Phạm Phú Khải VOA

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)

LỜI MỞ ĐẦU

Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,
Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người, 
Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền, 
Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia, 
Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn, 
Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản, 
Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy. 
Vì vậy,

ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC

Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.

Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.

Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.

Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.

Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.

Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ

Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.

Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.

Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.

Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.

Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.

Điều 11:

1) Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.

2) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.

Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.

Điều 13:

1) Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.

2) Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.

Điều 14:

1) Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.

2) Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 15:

1) Ai cũng có quyền có quốc tịch.

2) Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16:

1) Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.

2) Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.

3) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.

Điều 17:

1) Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.

2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.

Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

Điều 20:

1) Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.

2) Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.

Điều 21:

1) Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.

2) Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.

3) Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.

Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.

Điều 23:

1) Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.

2) Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.

3) Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.

4) Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.

Điều 25:

1) Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.

2) Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26:

1) Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.

2) Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình.

3) Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.

Điều 27:

1) Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.

2) Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.

Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

Điều 29:

1) Ai cũng có nghiã vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.

2) Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.

3) Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.

PHỤ ĐÍNH 1:

CÁC ĐIỀU KHOẢN NHÂN QUYỀN TRONG HIẾN CHƯƠNG LIÊN HIỆP QUỐC (1945)

Điều 1: Những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là:

1. Duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

2. Phát triển tương quan hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, cùng thi hành mọi biện pháp thích nghi để củng cố hòa bình thế giới.

 3. Đạt tới sự hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, hay nhân đạo, và phát huy, khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.

Điều 55: Nhằm mục đích đạt được những điều kiện về ổn định và phúc lợi cần thiết cho việc thiết lập những tương quan hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, Liên Hiệp Quốc đề xướng thực thi:

a. Một mức sống cao hơn, sự toàn dụng nhân công và tạo những điều kiện tiến bộ và phát triển về kinh tế xã hội

b. Tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề kinh tế xã hội và văn hóa, thực thi sự hợp tác quốc tế về văn hóa và giáo dục, và

c. Tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.

Điều 56: Các Quốc Gia Hội Viên cam kết, bằng những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực hiện những mục tiêu ghi trong điều 55 nói trên.

Universal Declaration of Human Rights (Deutsch) 

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen