Anh Tử, Điền Vân

“30 năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, người Mỹ giờ không còn hiểu được sự nguy hại của chủ nghĩa cộng sản”, ông Marion Smith, Giám đốc Điều hành của Quỹ Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản viết trên tờ USA Today ngày 8 tháng 11 năm 2019. “Có một lý do vì sao sau một thảm kịch lớn, chúng ta lại được nhắc nhở đừng bao giờ quên. Nhân loại có xu hướng lặp đi lặp lại những sai lầm tương tự.”

Tại thời điểm ông Smith viết bài, chẳng mấy ai chú ý lắm đến cảnh báo của ông. Mấy tuần sau, một chủng virus corona hung hãn đã xuất hiện tại thành phố nằm ở vị trí trung tâm Trung cộng, Vũ Hán. Mặc dù chủng virus này đã được các bác sỹ phát hiện và báo cáo, nhưng ban đầu, Đảng Cộng sản Trung Hoa (ĐCSTH) đã che giấu nó, rốt cuộc khiến virus phát tán ra khắp nơi trên thế giới.

Ngày 6 tháng 4 năm 2020, Hoa Kỳ đã báo cáo hơn 360.000 ca nhiễm, cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới (tuy nhiều quốc gia cho rằng con số thực sự của Trung cộng chưa được công bố ra còn cao hơn rất nhiều). Thành phố New York, ngọn hải đăng của thế giới tự do, xác nhận số ca nhiễm nhiều hơn bất kỳ thành phố hay bang nào ở Hoa Kỳ.

Trong báo cáo này, chúng tôi phân tích về quan hệ Mỹ-Trung trong những năm qua, mà đó có thể là bệ phóng cho Trung cộng phát triển và thâm nhập vào Hoa Kỳ. Ảnh hưởng ngày càng lớn hơn bao giờ hết của ĐCSTH trên thế giới đã tạo điều kiện cho Trung cộng truyền bá tư tưởng coi thường mạng sống con người ra nước ngoài. Sự bưng bít thông tin về sự bùng phát virus corona đã biến một dịch bệnh thành đại dịch toàn cầu.

Không chỉ có người Trung cộng, mà nhiều người trên khắp thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, đã trở thành nạn nhân của sự che giấu thông tin của ĐCSTH trong cuộc khủng khoảng chưa từng có tiền lệ này. Khi chúng ta tiếc thương những người bị thiệt mạng trong đại dịch, cầu nguyện sức khỏe và bình an cho mọi người, chúng tôi hy vọng báo cáo này sẽ làm sáng tỏ sự nguy hại của ĐCSTH và khuyên mọi người hãy cắt đứt quan hệ với nó.

Bài viết này được chia thành sáu phần:

  • Phần 1: Quyền lực của ĐCSTH ngày một lớn mạnh nhờ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ
  • Phần 2: Tầm ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của ĐCSTH ở Manhattan
  • Phần 3: Tuyên truyền 24/7 của ĐCSTH trên Quảng trường Thời Đại
  • Phần 4: Ảnh hưởng sâu đậm của ĐCSTH ở Liên Hiệp Quốc và các Tổ chức Phi Chính phủ
  • Phần 5: Chiến dịch tuyên truyền đầu độc của ĐCSTH ở các trường học của Hoa Kỳ
  • Phần 6: Sự thâm nhập của ĐCSTH vào các cộng đồng Hoa Kỳ

(Ảnh minh họa: Shutterstock)

*

Phần 1: Quyền lực của ĐCSTH ngày một lớn mạnh nhờ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ

“Chủ nghĩa cộng sản là một ý tưởng sai lầm, và giải pháp cho một ý tưởng sai lầm chính là sự thật, chứ không phải sự vô tri.” Tổng thống Richard Nixon đã phát biểu như vậy trong cuộc vận động tranh cử ngày 21 tháng 8 năm 1960. “Chủ nghĩa cộng sản bắt đầu bằng tuyên bố rằng không có chân lý phổ quát hay chân lý chung về bản chất con người.”

Trung cộng gia nhập WTO

12 năm sau, vào tháng 2 năm 1972, Nixon đã giẫm lên quan điểm của mình mà sang thăm Trung cộng. Ngày 1 tháng 1 năm 1979, Hoa Kỳ và Trung cộng đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Kể từ đó, Hoa Kỳ đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) là chính phủ duy nhất của Trung cộng, và Đài Loan là một địa khu của Trung cộng.

Một hiệp định thương mại song phương đã được ký kết bởi Tổng thống lúc đó là Jimmy Carter, và Trung cộng được trao địa vị “Tối huệ quốc” (quốc gia được đối xử ưu đãi nhất, most-favored-nation, MFN). Với Hiệp định Hợp tác Khoa học và Công nghệ, cũng được ký vào năm 1979, hàng trăm dự án nghiên cứu chung và chương trình hợp tác đã được triển khai giữa hai quốc gia sau đó.

Quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ cũng giúp cải thiện vị thế quốc tế của Trung cộng lên rất nhiều. Sau khi trở thành thành viên của Ngân hàng Thế giới vào năm 1980, năm 1981, Trung cộng đã nhận được khoản vay đầu tiên. Với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và Nhật Bản, Trung cộng đã trở thành thành viên của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), sau đó ADB đã cho Trung cộng vay 40 tỷ Đô-la cho các dự án giao thông, năng lượng, nước, nông nghiệp, tài chính và các dự án khác.

Sau khi ĐCSTH đàn áp phong trào dân chủ Thiên An Môn vào năm 1989, Hoa Kỳ đã đưa ra đạo luật nhằm hủy bỏ hoặc xét lại địa vị “Tối huệ quốc” của Trung cộng. Năm 1993, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố Trung cộng cần đáp ứng những tiêu chí nhất định về nhân quyền để được gia hạn địa vị “Tối huệ quốc”. Tuy nhiên, dưới áp lực của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, ông đã gia hạn vô điều kiện địa vị “Tối huệ quốc” cho Trung cộng mà không suy xét tới các vấn đề nhân quyền của quốc gia này.

Đạo luật Quan hệ Mỹ-Trung năm 2000 của Quốc hội Hoa Kỳ đã được Clinton phê chuẩn vào ngày 10 tháng 10 năm đó. Luật này đã trao cho Trung cộng vị thế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (NTR) (trước đây gọi là “Tối huệ quốc”, MFN) sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Ngày 11 tháng 12 năm 2001, Trung cộng chính thức gia nhập WTO, Tổng thống khi đó là George W. Bush đã phê chuẩn địa vị “Tối huệ quốc” có hiệu lực vĩnh viễn cho Trung cộng.

Những kỳ vọng của Hoa Kỳ chưa được đáp ứng

Chuỗi sự kiện này đã biến Trung Cộng thành một đối thủ lớn trong nền kinh tế thế giới. “Trước năm 1978, Trung cộng có nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa, và bị cô lập về nhiều mặt; từ đó đến nay, nước này đã dần dần mở cửa nền kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới”, một bài báo của Hội đồng Đối ngoại (Council on Foreign Relations) cho biết.

Năm 2000, Trung cộng đã là nền kinh tế lớn thứ sáu với dân số một tỷ người. Việc Trung cộng gia nhập WTO vào năm 2001 càng đẩy mạnh sự phát triển của nó trên thế giới. Thương mại hàng hóa giữa Trung cộng và Hoa Kỳ tăng gấp hơn 30 lần, từ chưa đầy 8 tỷ Đô-la vào năm 1986 lên đến hơn 578 tỷ Đô-la vào năm 2016. Tính đến năm 2009, Trung cộng đã vượt qua Đức, trở thành nhà xuất cảng hàng hóa lớn nhất thế giới. Nền kinh tế của Trung cộng vào năm 2009 đã lớn gấp 8 lần so với năm 2001.

Việc nối lại tình hữu nghị của ông Nixon với Trung cộng đã mang lại lợi ích to lớn cho Trung cộng, song hệ thống chính trị cộng sản của nước này chủ yếu vẫn y nguyên như mấy thập kỷ qua.

Hai tháng sau khi thiết lập mối quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1979, Trung cộng đã có cuộc chiến tranh biên giới chớp nhoáng với Việt Nam để đáp trả cuộc xâm lược và chiếm đóng Campuchia của Việt Nam năm 1978 (nhằm kết thúc sự tồn tại của quân Khmer Đỏ do Trung cộng hậu thuẫn).

Khi Tổng thống Ronald Reagan sang thăm Bắc Kinh năm 1984, bài phát biểu chỉ trích Liên Xô và ca ngợi chủ nghĩa tư bản, dân chủ và tự do tôn giáo của ông đã không được phát sóng trên truyền hình nhà nước Trung cộng.

Kể từ khi Trung cộng gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2001, số việc làm trong ngành sản xuất của Mỹ ngày càng sụt giảm. Viện Chính sách Kinh tế ước tính thâm hụt thương mại với Trung cộng gây mất khoảng 2,7 triệu việc làm từ năm 2001 đến 2011, bao gồm ngành sản xuất và các ngành công nghiệp khác.

Nhận thức sai lầm về chủ nghĩa cộng sản

Ông Michael Pillsbury, cựu quan chức chính phủ từng phục vụ trong Bộ Quốc phòng, và hiện là Giám đốc Trung tâm Chiến lược Trung cộng, Viện Hudson, đã phân tích mối quan hệ Mỹ-Trung trong cuốn sách năm 2015 của ông mang tên “Cuộc đua trăm năm: Chiến lược Bí mật của Trung cộng nhằm soán vị Mỹ làm siêu cường quốc toàn cầu” (The Hundred-Year Marathon, China’s Secret Strategy to Replace America as the Global Superpower).

Giống như nhiều quan chức Hoa Kỳ khác, ông Pillsbury từng tin rằng viện trợ của Hoa Kỳ sẽ giúp Trung cộng tiến tới một quốc gia dân chủ, hòa bình mà không có tham vọng thống trị khu vực hay toàn cầu. “Ông Pillsbury đã sốc khi phát hiện rằng tham vọng nắm quyền thống trị thế giới của Trung cộng vốn có bấy lâu nay, gần như đã ăn sâu vào gen văn hóa của đất nước này và, như ông nói, chẳng cần phải giấu diếm gì”, theo bài bình luận của Tạp chí Phố Wall về cuốn sách này.

Qua hồi ký của Henry Kissinger, bây giờ, chúng ta đã biết quyết định theo đuổi việc mở cửa với Hoa Kỳ không phải do các nhà lãnh đạo dân sự của Trung cộng đưa ra, mà là của một ủy ban gồm bốn viên tướng Trung cộng”, ông Pillsbury viết trong cuốn sách, đồng thời cho biết bốn viên tướng này đang chơi quân bài Hoa Kỳ để chống lại Liên Xô.

Vị thế của Bắc Kinh được nâng lên nhờ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ

Ngày 13 tháng 12 năm 2019, ông David Stilwell, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách khu vực Đông Á, Thái Bình Dương, có bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược & Quốc tế (CSIS). Ông cho biết, nhiều thập kỷ qua, chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ Trung cộng về mọi mặt, “Chúng tôi hỗ trợ về quân sự và tình báo, chúng tôi hào phóng trong việc chuyển giao công nghệ, chúng tôi đảm bảo quyền ưu đãi trong đầu tư và thương mại, chúng tôi tài trợ và tiến hành rất nhiều hoạt động trao đổi giáo dục – và hiện vẫn tiến hành như vậy – chúng tôi tài trợ phát triển và tổ chức hoạt động xây dựng năng lực cho chính quyền Trung cộng do chính phủ Hoa Kỳ trực tiếp thực hiện, và còn nhiều hơn thế.”

Thế nhưng, trong những năm gần đây, ĐCSTH lại thể hiện sự thù địch ngày càng lớn “đối với Hòa Kỳ, đối với lợi ích và nguyên tắc của chúng ta… Đó hoàn toàn không phải là điều mà giới chức Mỹ mong muốn hay kỳ vọng 40 năm trước, khi họ đặt ra chính sách đẩy mạnh hỗ trợ nhiều mặt của Hoa Kỳ vì công cuộc hiện đại hóa và tiến tới tự do của Bắc Kinh”, ông Stilwell phát biểu.

Ngay cả sau Vụ Thảm sát Thiên An Môn năm 1989, chính phủ Hoa Kỳ vẫn duy trì quan hệ gần như trước với Trung cộng. Ông nói tiếp: “Trong nhiều thập kỷ, chúng ta đã dung túng các vụ vi phạm nhân quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) mà không có sự phản đối mạnh mẽ nào. Chúng ta gần như đã nhún vai bất quản việc phát triển công nghệ hạt nhân và tên lửa của Trung cộng cho Pakistan, Iran và Bắc Triều Tiên, và những nước khác. Chúng ta hầu như đã làm ngơ trước việc CHNDTH tách công nghệ lưỡng dụng [phục vụ cả mục đích quốc phòng lẫn thương mại] do Hoa Kỳ phát minh để dùng cho mục đích quân sự. Chúng ta không có mấy sự phản đối đối với hành vi đánh cắp tài sản trí tuệ, làm nhái, làm giả hàng có đăng ký nhãn hiệu, và vô số hoạt động thương mại gian lận khác. Việc hoạch định chính sách đòi hỏi phải cân bằng lợi ích, và chúng ta thường có lý do để cho phép điều này, điều kia khiến hành vi phạm tội của Trung cộng không được giải quyết. Nhưng hậu quả đã ngày càng nhiều.”

Quá hơn nữa, sau Vụ Thảm sát Thiên An Môn năm 1989, các lãnh đạo của ĐCSTH đã đưa chiến dịch giáo dục lòng yêu nước vào trường học và văn hóa. Mục đích của chiến dịch này là thu hút sự ủng hộ ĐCSTH bằng cách lợi dụng chủ nghĩa dân tộc và bài xích người nước ngoài, đặc biệt là người Mỹ và người Nhật.

Trong bài phát biểu của mình, ông Stilwell cho biết : “Nhưng các quan chức Hoa Kỳ hầu như không để ý. Thay vào đó, họ tập trung vào việc viết ra chương tiếp theo của chính sách hỗ trợ của chúng ta đối với Trung cộng. Và đây có lẽ là điều có lợi nhất và là hệ quả của toàn bộ sự hỗ trợ đó – CHNDTH gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.”

Ông cũng nhận định về cách ứng xử của các tổng thống gần đây với Trung cộng: “Tổng thống Bill Clinton khi nhậm chức đã cực lực phê phán hồ sơ nhân quyền của Bắc Kinh… Thế nhưng, đến năm 1994, Clinton đã mất đi thái độ kiên quyết đó.“ “Tổng thống George W. Bush và Barack Obama đều có những quan ngại về các phương diện trong hành xử của Bắc Kinh, cũng như những người tiền nhiệm của họ vậy… Nhưng cả hai đều đảm bảo rằng Hoa Kỳ về cơ bản sẽ hợp tác với Trung cộng như một đối tác, một người ủng hộ.”

Ông Stilwell cho biết: “Ngay cả khi Bắc Kinh gian lận về vấn đề Hoa Kỳ và thương mại – thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Trung cộng lên đến 4.000 tỷ Đô-la lũy kế. Song, cả hai tổng thống này đều ủng hộ việc nâng cao vị thế của Bắc Kinh trong các tổ chức quốc tế quan trọng, ngay cả khi Bắc Kinh thường phá vỡ sứ mệnh và tinh thần của các tổ chức này.”

*

Phần 2: Tầm ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của ĐCSTH ở Manhattan​

Nếu như Trung cộng là cây, thì Hoa Kỳ có thể đã hy vọng Trung cộng cuối cùng sẽ trổ quả dân chủ và tự do với sự liên tục hỗ trợ và nuôi dưỡng của Hoa Kỳ. Thế nhưng, Trung cộng dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Hoa (ĐCSTH), không phải là “cái cây” bình thường. ĐCSTH vô thần lớn mạnh nhờ lòng thù hận và bạo lực, nó giống như mầm bệnh sẽ lây lan như các tế bào ung thư lây nhiễm cho toàn thế giới nếu không được kiểm soát.

Khi lãnh đạo ĐCSTH Đặng Tiểu Bình lần đầu tiên sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 1/1979, Bộ trưởng Bộ ngoại giao của ông đã hỏi trong chuyến bay tại sao ông chọn Hoa Kỳ cho chuyến thăm nước ngoài đầu tiên với tư cách lãnh đạo Trung cộng. “Bởi các đồng minh của Mỹ đều giàu mạnh, và nếu Trung cộng muốn giàu mạnh, thì phải cần tới Mỹ”, nhà sử học John Pomfret nhớ lại.

Đặng, một người tin tưởng mạnh mẽ vào học thuyết “quyền lực chính trị lớn lên từ nòng súng” của Mao, đã xâm lược Việt Nam chưa đầy ba tuần sau đó. 10 năm trước, khi xe tăng đè bẹp người biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989 theo lệnh của Đặng, ông ta nói nhỏ với Tổng thống Carter: “Lũ trẻ bắt đầu hư, đã đến lúc chúng bị ăn đòn rồi”.

Ngay cả khi đã có vị thế trong WTO, Trung Cộng vẫn chưa mạnh như ngày nay nếu nó không được phương Tây, đặc biệt là Phố Wall, liên tục rót vốn. Nhờ được các trùm tư bản của Hoa Kỳ và các thị trường khác nuôi dưỡng, sức tăng trưởng của ĐCSTH đã đạt đến tầm cao mới chưa từng thấy, và trở thành một thực thể ác tính về mọi mặt.

Ảnh hưởng của Phố Wall đối với chính sách Trung cộng của Hoa Kỳ

Năm 1994, khi sang thăm Bắc Kinh, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Alan Greenspan nói với các lãnh đạo Trung cộng rằng cả Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới đều mong Trung cộng sẽ thành công. “Do vậy, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật nhiều nhất có thể cho ngân hàng trung ương của các vị trong những lĩnh vực mà chúng tôi đã có nhiều năm kinh nghiệm.”

Trong hơn 20 năm qua, các tập đoàn tài chính Phố Wall đã khuyến khích người Mỹ đầu tư vào các doanh nghiệp Trung cộng. Đồng thời, các công ty tài chính lớn còn bảo lãnh giao dịch để các công ty Trung cộng mua lại hoặc kiểm soát các công ty Hoa Kỳ, cũng như bất động sản, và các lĩnh vực kinh doanh khác.

Phố Wall cũng vận động hành lang các nhà hoạch định chính sách để đưa ra những quyết định có lợi cho Trung cộng. Sau khi Thủ tướng Trung cộng bấy giờ sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 4/1999, các lãnh đạo doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Tổng thống Clinton hỗ trợ Trung cộng gia nhập WTO.

Theo Đạo luật Ngoại thương và Cạnh tranh Toàn diện (Omnibus Foreign Trade and Competitiveness Act) năm 1988, từ năm 1992 đến năm 1994, Hoa Kỳ đã liệt Trung cộng vào diện quốc gia thao túng tiền tệ. Tuy nhiên, từ đó trở đi, không có tổng thống nào, kể cả Clinton, Bush và Obama, đã liệt Trung cộng vào diện thao túng tiền tệ, do ảnh hưởng của các nhân vật ủng hộ Trung cộng của Phố Wall.

Nhảy với Sói: Phố Wall và ĐCSTH

New York là thành phố lớn nhất ở Hoa Kỳ, là trung tâm tài chính, kinh doanh, văn hóa, và truyền thông của xã hội Mỹ. Đây cũng là trụ sở của Liên Hiệp Quốc. Với tầm quan trọng ấy, New York đã trở thành mục tiêu thâm nhập chính của ĐSCTH.

Một ví dụ là Kế hoạch Tiết kiệm (Thrift Savings Plan, TSP), một chương trình hưu trí căn cứ theo khoản đóng góp xác định được hoãn thuế (tax-deferred defined contribution plan) với giá trị gần 600 tỷ Đô-la cho nhân viên liên bang. Tháng 11/2019, Ủy ban Đầu tư Tiết kiệm Hưu trí Liên bang (FRTIB) phụ trách quản lý kế hoạch này đã công bố chuyển hàng tỷ Đô-la tài sản hưu trí thành chỉ số MSCI ACWI ex-US, bất chấp Quốc hội kêu gọi đảo ngược chiều hướng.

MSCI ACWI ex-US, Morgan Stanley Capital International All Country World Index Ex-US, là một chỉ số thị trường chứng khoán bao gồm các loại chứng khoán không phải của Mỹ từ 23 thị trường phát triển và 26 thị trường mới nổi. Hai công ty Trung cộng Alibaba và Tencent, lần lượt là cổ đông lớn thứ nhất và thứ ba của chỉ số này, tính đến ngày 31/12/2019.

Ngày 12/3/2020, Josh Rogin, chủ bút một chuyên mục của Washington Post viết, việc chính phủ liên bang đem tiền của Kế hoạch Tiết kiệm đầu tư vào các tập đoàn Trung cộng có thể đặt giới hưu trí của Mỹ vào rủi ro.

MSCI ACWI ex-US là một trong nhiều chỉ số vốn chủ sở hữu do Công ty MSCI (Morgan Stanley Capital International) lập ra. Tháng 11/2019, công ty này công bố tăng trọng số cổ phiếu A của Trung cộng ở một số chỉ số MSCI lên tới 20%. Động thái này càng tạo cơ hội cho chứng khoán Trung cộng vươn ra toàn cầu.

Ngày 21/2/2020, FTSE Russell, công ty có chỉ số lớn thứ hai trên thế giới, lại cộng hưởng với động thái của MSCI khi công bố tăng trọng số của chứng khoán Trung cộng trên các chỉ số vốn chủ sở hữu.

Trước khi MSCI và FTSE Russell ra tuyên bố này, Bloomberg đã quyết định bổ sung 364 trái phiếu Trung cộng nội địa vào chỉ số Barclays Global Aggregate Index trong 20 tháng tiếp theo, bắt đầu từ ngày 1/4/2019. Các nhà phân tích ước tính sau khi đưa toàn bộ vào, sẽ thu hút khoảng 150 tỷ Đô-la dòng tiền nước ngoài vào thị trường trái phiếu khoảng 13.000 tỷ Đô-la của Trung cộng.

Rủi ro tài chính và an ninh quốc gia

Việc Phố Wall sử dụng các quỹ có chỉ số thụ động (passive index funds) để âm thầm đưa các công ty Trung cộng có vấn đề vào thị trường vốn của Hoa Kỳ, như kế hoạch hưu trí cho nhân viên liên bang chẳng hạn, là “mối đe dọa tài chính thậm chí còn lớn hơn” cả virus Vũ Hán, ông Rogin viết.

Việc ngày càng có nhiều công ty Phố Wall nắm giữ cổ phần của các công ty Trung cộng đã tạo cho Bắc Kinh đòn bẩy lớn mạnh ngay bên trong Hoa Kỳ và đặt ra rủi ro cực lớn cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ cũng như nền kinh tế Hoa Kỳ. “Những lỗ hổng kinh tế của Mỹ cũng là những lỗ hổng về an ninh quốc gia, ông Rogin viết.

Ông Robert O’Brien, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, tán thành: “Tôi không hiểu tại sao chúng ta lại bảo trợ cho ngành công nghiệp quốc phòng của Trung cộng.”

Theo một bài báo trong tờ Foreign Policy (Chính sách Đối ngoại) hôm 14/1/2020, 55% người Mỹ sở hữu cổ phiếu, chủ yếu dựa vào các quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ, và tài khoản hưu trí được quản lý chuyên nghiệp. Bài báo cho hay: “Những chỉ số trái phiếu toàn cầu bắt đầu đưa trái phiếu chính phủ Trung cộng vào các tiêu chí chuẩn của mình… những thay đổi lớn trong việc phân bổ nguồn vốn này có thể tự động tăng đầu tư hạng mục của Hoa Kỳ vào chứng khoán chính phủ và công ty Trung cộng lên hơn 1.000 tỷ Đô-la vào cuối năm 2021, mà không cần có sự chủ động đồng ý hay sự thừa nhận của hầu hết người Mỹ.”

Bài báo cho biết thêm: “Sự đối kháng này – việc người Mỹ đầu tư nhiều hơn vào các công ty Trung cộng cho dù Hoa Kỳ có những chính sách nhằm trừng phạt Trung cộng vì gian lận thương mại – đã đặt ra những rủi ro nghiêm trọng.” Đây là do hạng mục đầu tư của Mỹ phụ thuộc quá nặng vào một nền kinh tế duy nhất – nền kinh tế do ĐCSTH kiểm soát.

Tuy nhiên, do ĐCSTH tuyên truyền và tung tin thất thiệt như đã thấy trong đại dịch virus corona gần đây, các nhà đầu tư Mỹ khó mà hiểu được rõ những gì xảy ra bên trong các hạng mục đầu tư của họ.

Hai ví dụ

Tháng 4/2010, Goldman Sachs bị Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ (U.S. Securities and Exchange Commission, SEC) buộc tội gian lận khi tiếp thị sản phẩm thế chấp dưới chuẩn. Năm 2003, để tiến vào thị trường Trung cộng, Goldman Sachs đã đồng ý chi một khoản “quyên tặng” 67 triệu Đô-la để bù lỗ cho vụ đầu tư thất bại của một công ty môi giới Trung cộng. Đổi lại, Goldman Sachs được phép thành lập ngân hàng đầu tư liên doanh của mình tại Bắc Kinh, tờ New York Times đưa tin vào tháng 3 năm 2005.

Bài báo viết: “Điều hết sức khác thường trong thương vụ của Goldman là một công ty đẳng cấp của Mỹ lại sẵn sàng chi trả 67 triệu Đô-la để giúp chính phủ giải thể một doanh nghiệp nhà nước chẳng có liên quan gì, Công ty Chứng khoán Hải Nam, mà các lãnh đạo của công ty này từng bị kiện vì biển thủ hàng triệu Đô-la từ tài khoản của các nhà đầu tư.”

Một ví dụ khác là J.P. Morgan, từ năm 2006 đến năm 2013, đã thuê khoảng 200 người thân hoặc bạn bè của các cán bộ điều hành ở các công ty Châu Á. Trong đó, gần 100 người làm cho ngân hàng này là do các quan chức của các công ty nhà nước Trung cộng giới thiệu. Có những nhân viên không đủ tiêu chuẩn với các công việc được giao, Tạp chí Phố Wall đưa tin vào tháng 5/2019.

Kiểu tuyển dụng này gọi là “con ông cháu cha”, là chủ đề của một cuộc điều tra nhiều năm của các nhà chức trách Hoa Kỳ. Năm 2016, J.P. Morgan thừa nhận đã vi phạm Đạo luật Tham nhũng Nước ngoài (Foreign Corrupt Practices Act) và đồng ý trả 264 triệu Đô-la để giải quyết các cáo buộc dân sự và hình sự vì hoạt động tuyển dụng của ngân hàng này ở Châu Á. Hơn 20 nhân viên của ngân hàng này đã bị sa thải hoặc bị kỷ luật vì cuộc điều tra này.

Bài học kinh nghiệm

Sau nhiều thập kỷ đi những bước đi sai lầm với ĐCSTH, các quan chức Hoa Kỳ giờ đây đã nhận ra hậu quả.

Ngày 4/10/2018, Phó Tổng thống Hoa Kỳ Mike Pence phát biểu tại Viện Hudson: “Sau khi Liên Xô sụp đổ, chúng ta những tưởng Trung cộng không thể không tiến đến tự do. Say sưa trong sự lạc quan ấy, khi bước vào thế kỷ 21, Mỹ đã đồng ý cho Bắc Kinh cơ hội tiếp cận với nền kinh tế của chúng ta, và đưa Trung cộng vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Giấc mơ tự do vẫn còn xa vời đối với người dân Trung cộng. Và mặc dù Bắc Kinh vẫn chỉ chót lưỡi đầu môi về ‘cải cách và mở cửa’, chính sách nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình giờ đây chỉ còn là thùng rỗng kêu to.”

Ông Pence cho biết thêm, GDP của Trung cộng đã tăng trưởng gấp 9 lần và quốc gia này đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, mà sự thành công này chủ yếu là nhờ đầu tư của Mỹ vào Trung cộng. “Với kế hoạch ‘Made in China 2025’, ĐCSTH đã đặt ra mục tiêu kiểm soát 90% các ngành công nghiệp tiên tiến nhất của thế giới, bao gồm robot, công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo… Và khi sử dụng công nghệ đánh cắp đó, ĐCSTH đang biến lưỡi cày thành thanh kiếm trên quy mô lớn.”

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo tán thành: “Hãy nhìn xem, chúng ta lâu nay vốn giữ truyền thống hữu hảo với dân tộc Trung Hoa. Hôm nay, chúng ta cũng vẫn duy trì truyền thống ấy. Chúng ta có một cộng đồng Hoa kiều tại Mỹ mà chúng ta yêu mến và trân trọng. Tôi biết họ qua công việc và các mối quan hệ cá nhân; và tôi biết nhiều người trong số họ”, ông nói trong bài phát biểu ngày 30/10/2019.

Ông nói tiếp: “Nhưng tôi phải nói rằng chính quyền cộng sản ở Trung cộng ngày hôm nay và người dân Trung cộng không còn là một nữa. Họ đang tìm cách và dùng những cách thức để tạo ra nhiều khó khăn cho Hoa Kỳ và thế giới.”

Ông nói chính phủ Hoa Kỳ đã quá chậm trễ trong việc xử lý rủi ro do ĐCSTH tạo ra. Để giúp Trung cộng vươn lên trong nhiều thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã thỏa hiệp các giá trị Mỹ khi hạ thấp quan hệ với Đài Loan, né tránh các vấn đề về nhân quyền, nhắm mắt làm ngơ khi Trung cộng không tuân thủ các quy định của WTO, và để các doanh nghiệp Hoa Kỳ tuân thủ những vấn đề “đang tranh cãi”.

Ông Pompeo cho rằng: “Sự không khoan nhượng của Bắc Kinh đã tạo ra lớp người vận động hành lang cho Trung cộng thường trực ở Hoa Kỳ. Công việc chính của họ là bán quyền tiếp cận các lãnh đạo Trung cộng và kết nối các đối tác kinh doanh. Hễ có tranh chấp hay căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung, nhiều học giả của chúng ta liền đổ tội cho Hoa Kỳ là xuyên tạc bản chất của ĐCSTH.”

Đồng thời, Bắc Kinh còn kiểm soát và hạn chế khả năng tiếp cận các nhà ngoại giao, nhà báo, và học giả Hoa Kỳ. Theo lời ông Pompeo: “Truyền thông nhà nước và người phát ngôn của chính quyền Trung cộng đã thêm dầu vào lửa khi thường xuyên tạc ý định và mục tiêu chính sách của Mỹ.”

“Và đây không phải chỉ là vấn đề của chúng ta. Đây là vấn đề của tất cả các quốc gia có chung giá trị với chúng ta”, ông cho biết, và nói thêm rằng ông tin chính phủ đương nhiệm có thể khắc phục những sai lầm này.

*

Phần 3: Đảng Cộng sản Trung Hoa tuyên truyền 24/7 trên Quảng trường Thời đại

Ngày 19 tháng 5 năm 2011, Xinhua (Tân Hoa Xã) – cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản Trung Hoa (ĐCSTH) – đã chuyển trụ sở chính ở Bắc Mỹ tới địa chỉ 1540 Broadway với hợp đồng thuê 20 năm. Một cơ quan phát ngôn khác của ĐCSTH, People’s Daily Online (Nhân Dân Nhật báo), đã thuê văn phòng ở Tòa nhà Empire State vào ngày 13/7/2011.

Kể từ ngày 1/8/2011, Tân Hoa Xã đã hiện diện 24/7 trên bảng quảng cáo kích thước chừng 18 x 12 mét (60 x 40 feet) hướng ra Quảng trường Thời đại. NPR đưa tin: “Cái bảng đó nằm bên trên mấy bảng quảng cáo nhấp nháy của Prudential, Coca-Cola và Samsung, khiến nó trở thành một trong những bảng quảng cáo bắt mắt nhất trên thế giới.”

Những nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của ĐCSTH ra bên ngoài Trung cộng không phải là không ai biết. David Shambaugh, Giám đốc Chương trình Chính sách Trung cộng tại Đại học George Washington, ước tính Trung cộng chi từ 10-12 tỷ đô la mỗi năm cho rất nhiều nỗ lực để có được “quyền lực mềm”, từ các chiến dịch quan hệ công chúng và vận động hành lang theo kiểu truyền thống đến các kiểu gây dựng ảnh hưởng kín đáo hơn, theo bài báo đăng trên Financial Times tháng 12/2017 với tiêu đề “Phương Tây tăng cường cảnh giác với chiêu bài gây ảnh hưởng của Trung cộng: Chính phủ các nước lo ngại trước những nỗ lực định hướng dư luận của Bắc Kinh ​​về hệ thống độc tài của nước này” (West grows wary of China’s influence game: Governments are worried about Beijing’s efforts to shape opinion of its authoritarian system).

China Daily (Trung Hoa Nhật báo) đã trả tiền cho các tờ báo lớn của Hoa Kỳ để đăng bài dưới dạng phụ lục hoặc tờ rời, trong đó có The Wall Street Journal, The New York Times, The Washington Post,USA Today. Tất cả bài đăng dưới dạng tờ rời mang tên “China Watch” (Theo dõi Trung cộng), một cái tên nghe có vẻ như sẽ là cơ quan độc lập phân tích tình hình Trung cộng, nhưng toàn bộ nội dung trong đó đều là từ China Daily.

Với chiến lược này, ĐCSTH đã xác định độc giả mục tiêu, đặc biệt là các nhà lãnh đạo thế giới, các nhà hoạch định chính sách, người ra quyết định, người có tầm ảnh hưởng, và người quan tâm đến kinh doanh ở khoảng 30 hãng thông tấn trên toàn cầu. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (Reporters Without Borders, RSF) nhận định: “Với sự hỗ trợ của các bài viết mang tính quảng cáo và quảng cáo có mục tiêu, Bắc Kinh đang theo đuổi chính sách con ngựa thành Troy để đưa tuyên truyền của mình ra truyền thông nước ngoài.”

Trong một bài báo đăng ngày 22/10/2019 có tiêu đề “Trung cộng theo đuổi một trật tự thế giới mới trong ngành truyền thông(China’s Pursuit of a New World Media Order), RSF điều tra chiến lược kiểm soát thông tin ở nước ngoài của Trung cộng. Bài báo cho hay: “Tuy chưa đình đám bằng Sáng kiến ​​Vành đai Con đường, nhưng cũng không kém phần tham vọng, chiến lược này là mối đe dọa đối với tự do báo chí trên toàn thế giới.”

Bài báo của RSF lưu ý rằng các chiến lược của Bắc Kinh hết sức đa dạng, từ hiện đại hóa truyền hình quốc tế của Trung cộng, mua lượng lớn quảng cáo trên truyền thông quốc tế, đến thâm nhập vào truyền thông nước ngoài để thuê tống tiền, dọa dẫm, và gây rối trên quy mô lớn.

Christophe Deloire, Tổng Thư ký RSF, cho biết: “Trên tinh thần của chính quyền Bắc Kinh, các nhà báo không dám trở thành thế lực chống đối mà phải phục vụ cho việc tuyên truyền của nhà nước. Nếu các nước dân chủ không kháng cự thì Bắc Kinh sẽ áp đặt quan điểm và tuyên truyền của nó, đó là mối đe dọa cho báo chí và nền dân chủ.”

Trong thập kỷ qua, Trung cộng đã đầu tư một lượng tiền khổng lồ cho việc phát triển truyền thông để có thể tiếp cận khán giả quốc tế. Trong đó có đài phát thanh truyền hình nhà nước là CGTN phát sóng các chương trình truyền hình tại 140 quốc gia, và China Radio International phát sóng bằng 65 ngôn ngữ.

Báo cáo của RSF lưu ý: “Chính quyền này đã thuyết phục hàng vạn nhà báo tại các quốc gia mới nổi tới Bắc Kinh để được ‘đào tạo tư duy phản biện’, và đài thọ toàn bộ chi phí cho họ, đổi lại, họ sẽ phải viết những bài báo có lợi cho Trung cộng.”

Trong khi đó, “Bắc Kinh cũng đang xuất cảng các công cụ kiểm duyệt và giám sát của nó, kể cả công cụ tìm kiếm Baidu và nền tảng nhắn tin nhanh WeChat”, một bài báo của RSF cho hay, đồng thời cũng lưu ý rằng: “Bắc Kinh yêu cầu đe dọa và dùng vũ lực để bịt miệng những người bất đồng chính kiến, ngay cả tại các quốc gia dân chủ”, để không lệch với tin tức chính thức của nó.

Ngày 18/2/2020, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã xác định năm cơ quan truyền thông là cơ quan tuyên truyền cho cộng sản Trung cộng do nhà nước Trung cộng bảo trợ. Đó là: Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency), Mạng lưới Truyền hình Toàn cầu Trung cộng (China Global Television Network, CGTN), Đài Phát thanh Quốc tế Trung cộng (China Radio International), Tập đoàn Phân phối Nhật báo Trung cộng (China Daily Distribution Corporation), và nhà phát hành của Nhân Dân Nhật báo (Hai Tian Development USA).

*

Phần 4: Ảnh hưởng sâu đậm của ĐCSTH ở Liên Hiệp Quốc và các tổ chức phi chính phủ

Mặc dù Liên Hiệp Quốc có trụ sở chính tại New York, Mỹ, nhưng trong suốt thời gian qua, nó là tổ chức quốc tế bị Trung cộng thao túng nhiều nhất.

Một bài báo của Fox News ngày 14/12/2019 cho hay Emma Reilly, một nhân viên Liên Hiệp Quốc, đã gửi thư cho các nhà ngoại giao Hoa Kỳ và các nghị sỹ Quốc hội vào ngày 21/10/2019, trong đó nêu rõ “Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (Office of The High Commissioner for Human Rights, OHCHR) rõ ràng vẫn tiếp tục cung cấp tin tức trước cho ĐCSTH về việc nhà hoạt động nhân quyền nào dự kiến sẽ tham gia các cuộc họp” tại Geneva. Một số trong những nhà hoạt động nhân quyền này là những người bất đồng chính kiến ​​Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ, cũng là công dân hoặc cư dân thường trú của Hoa Kỳ.

Bài báo cho hay Reilly nói việc này diễn ra từ năm 2013 và được báo cáo lần đầu vào năm 2017. “Thay vì hành động để ngăn chặn việc tiết lộ những cái tên đó, Liên Hiệp Quốc lại tập trung trả đũa tôi vì dám báo cáo. Tôi đã bị khai trừ, bị phỉ báng công khai, bị tước đi chức vị, và sự nghiệp của tôi đã tan tành”, Reilly cho biết.

Ông John Fisher, Chủ nhiệm của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), nhận xét rằng ĐCSTH đang diễn trò kéo dài về nhân quyền, từ từ làm xói mòn hệ thống Ủy ban Nhân quyền và Hội đồng Nhân quyền LHQ, thậm chí cả LHQ và các cơ cấu liên quan khác, biến những cơ cấu này thành những công cụ có lợi cho ĐCSTH.

Ông Fisher chỉ ra, một mặt, ĐCSTH ngăn chặn những lời chỉ trích của quốc tế về đàn áp nhân quyền của họ; mặt khác, ĐCSTH phổ biến quan điểm gọi là “chủ quyền quốc gia” và “không can thiệp vào công việc nội bộ” nhằm làm suy yếu các chuẩn mực, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của tổ chức nhân quyền quốc tế.

Vào ngày 1/4/2020, ông Jiang Duan, Tham tán công sứ của Phái đoàn thường trực Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa, đã được bổ nhiệm vào nhóm tư vấn Hội đồng Nhân Quyền. Nhiệm kỳ của ông này sẽ kéo dài đến ngày 31/3/2021 với vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các nhà điều tra nhân quyền từ các tổ chức trực thuộc Liên Hiệp Quốc.

Với vai trò mới nêu trên, Trung cộng sẽ đóng vai trò chính trong việc chọn lựa ít nhất 17 nhà giám sát & điều tra nhân quyền về các vấn đề tự do ngôn luận, mất tích, giam giữ tùy tiện v.v. Trớ trêu khi đây là tất cả những điều mà chế độ Đảng Cộng sản Trung Hoa được cho là đã và đang vi phạm nghiêm trọng.

Mọi tổ chức trong Liên Hiệp Quốc đều ít nhiều bị thao túng. Trong đại dịch virus corona, Trung cộng đã ra sức gây ảnh hưởng rất lớn đến WHO.

“WHO đã lặp lại thông tin của chính quyền Trung cộng mà không cần suy xét, phớt lờ những cảnh báo của các bác sỹ Đài Loan – nước không phải là thành viên tại WHO – và miễn cưỡng tuyên bố ‘tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng’, rồi phủ nhận sau cuộc họp ngày 22/1 rằng ‘không cần thiết phải làm vậy’”, theo tờ Foreign Policy (Chính sách Đối ngoại) đưa tin ngày 2/4/2020 trong một bài viết có tiêu đề “WHO đã trở thành kẻ đồng lõa với Trung cộng trong dịch virus corona như thế nào” (How WHO Became China’s Coronavirus Accomplice).

Trước sức ép từ ĐCSTH, Liên Hiệp Quốc còn từ chối cho Đài Loan gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) và Interpol.

*

Phần 5: Chiến dịch tuyên truyền của ĐCSTH ở các trường đại học Hoa Kỳ​

Trên danh nghĩa hợp tác và trao đổi văn hóa, ĐCSTH đã thành lập Viện Khổng Tử, tài trợ và chỉ dẫn cho sinh viên Trung cộng ăn cắp thông tin và áp chế tự do ngôn luận ở các trường đại học của Hoa Kỳ.

Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, ít nhất 9 đại học hàng đầu ở Mỹ đã nhận được tài trợ từ gã khổng lồ công nghệ Huawei của Trung cộng trong 6 năm qua, trong đó có Viện Công nghệ Massachusetts, Đại học Princeton, Đại học California tại Berkeley và Đại học Cornell.

VOA đưa tin vào tháng 10/2019, tổng số tiền tài trợ lên đến 10,5 triệu đô la, chưa tính đến quà cáp trị giá dưới 250.000 đô la.

Ngày 2/2/2020, tờ New York Daily News đưa tin: “Từ năm 2004, Bộ Giáo dục Trung cộng, thông qua một cơ quan có tên là Hán Ban, đã tài trợ và điều hành Viện Khổng Tử về nhiều mặt. Viện Khổng Tử giảng dạy tiếng Trung, lịch sử và văn hóa Trung cộng tại các trường đại học trên khắp thế giới, kể cả Hoa Kỳ. Hán Ban chịu trách nhiệm cung cấp giáo viên, sách giáo khoa và – quan trọng nhất là – vốn vận hành, một đề xuất hấp dẫn đối với ban quản lý trường nào cần tiền mặt.”

“Thứ sai rành rành ở đây là chúng ta trao giáo dục Hoa Kỳ vào tay một cơ quan tuyên truyền nước ngoài. Lý Trường Xuân, nguyên trưởng ban Tuyên giáo của ĐCSTH, gọi Viện Khổng Tử là ‘một bộ phận quan trọng để Trung cộng thiết lập tuyên truyền ở nước ngoài.’ Họ dạy lịch sử Trung cộng theo định hướng của chính quyền Trung cộng”, bài báo của Todd Pittinsky, Đại học Bang New York (SUNY) tại Stony Brook trên tờ New York Daily News cho hay.

Bài báo chỉ ra rằng các trường đại học có Viện Khổng Tử được yêu cầu thể hiện sự tôn trọng luật pháp Trung cộng. Pittinsky viết: “Khi các quan chức của Hán Ban đi thăm Đại học Albany, các biểu ngữ về Đài Loan trên cửa của các giảng viên đều bị gỡ xuống.”

Pittinsky nói rằng thúc đẩy trao đổi văn hóa thì không có gì sai, nhưng nhiệm vụ của các Viện Khổng Tử là xuất cảng quan điểm chính trị của Bắc Kinh. Lo ngại về việc mất tự do học thuật và phải đối mặt với sự kiểm duyệt từ Trung cộng, một số trường đại học, trong đó có Đại học Chicago, Đại học Illinois tại Urbana-Champaign, Đại học Bang Pennsylvania, Đại học McMaster và Đại học Miami-Dade, đã đóng cửa Viện Khổng Tử của họ.

*

Phần 6: Sự thâm nhập của ĐCSTH vào các cộng đồng Hoa Kỳ

Yleisradio (Yle), đài phát thanh công toàn quốc của Phần Lan, đã phát sóng một báo cáo điều tra hôm 15/3/2020 vừa qua về sự thâm nhập của Đảng Cộng sản Trung Hoa (ĐCSTH). Báo cáo có viết “Yle phát hiện gốc rễ các tổ chức ở Phần Lan có thể thuộc bộ máy kiểm soát của ĐCSTH. Các hoạt động của họ có liên hệ với hoạt động chính trị đảng phái của Phần Lan. Điều đó có nghĩa là ảnh hưởng của Trung cộng ở quốc gia này cũng giống ở quốc gia khác.”

Một trong những tổ chức này là Hiệp hội Thúc đẩy Thống nhất Hòa bình Trung cộng của Phần Lan (FAPPRC), với khoảng 200 chi nhánh trên khắp thế giới. Tất cả đều ủng hộ chính quyền Trung cộng mạnh mẽ. Báo cáo có viết: “Các chuyên gia cho biết mục tiêu của tổ chức này là nhằm thúc đẩy lợi ích của Trung cộng và bịt miệng sự chỉ trích cường quốc mới nổi này. Thực tế, những tổ chức có liên đới với ĐCSTH này thường ngụy trang dưới hình thức là các tổ chức phi chính phủ (NGO) thông thường.”

Cách xa hàng nghìn dặm, ĐCSTH cũng đang xâm nhập vào Hoa Kỳ. Chẳng hạn, ĐCSTH đã kiểm soát cộng đồng người Hoa ở Manhattan và Flushing ở New York nhiều thập kỷ qua.

Hội Liên hiệp Cộng đồng người Hoa miền Đông nước Mỹ là một trong ba tổ chức CPPRC (Hội đồng Thúc đẩy Thống nhất Hòa bình Trung cộng) được thành lập tại New York. Tổ chức này có nhiệm vụ “xuất cảng” các chính sách tuyên truyền kích động của ĐCSTH. Chẳng hạn, ngày 11/2/2001, tổ chức tiền thân của nó đã tổ chức một cuộc họp bôi nhọ Pháp Luân Công. Lương Quan Quân, Hội trưởng Hội Liên hiệp Cộng đồng người Hoa ở miền Đông nước Mỹ tại thời điểm đó, cùng các cựu đại sứ Trung cộng tại Hoa Kỳ đã tham dự cuộc họp và có bài phát biểu. Vào tháng 6 năm đó, Lương đã báo cáo lại với chính quyền Bắc Kinh trong một cuộc họp của các lãnh đạo hiệp hội Hoa kiều tổ chức tại Bắc Kinh: “Chúng tôi là hiệp hội nước ngoài đầu tiên công khai chống lại Pháp Luân Công. Việc này thể hiện đầy đủ lòng yêu nước của người Hoa tại hải ngoại.”

Ngày 7 tháng 8 năm 2008, một đơn khiếu nại Tổng lãnh sự Trung cộng tại New York, Bành Khắc Ngọc, đã được đệ trình lên Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, trong đó cáo buộc ông ta tiếp tay các cuộc tấn công bạo lực xảy ra tại Flushing. Trong một băng thu âm, ông ta thừa nhận đã “bí mật khuyến khích” một số người tấn công vào hoạt động cộng đồng.

Năm ngoái, một số người thuộc phe thân Trung đã nói với các phóng viên của Epoch Times rằng họ đang được Lý Hoa Hồng, lãnh đạo của một nhóm mặt trận cộng sản tại Flushing, trả từ 30 đến 200 đô la để cầm cờ Trung cộng “phản đối” một số hoạt động diễu hành phơi bày tội ác của ĐCSTH. Tháng 3 năm 2019, một người trong cuộc phát biểu với Epoch Times tiếng Trung rằng, Lý được Ủy ban Chính trị và Pháp luật Thành phố Thiên Tân, một cơ quan chính quyền Trung cộng trả tiền. Các nguồn tin khác cũng cho rằng Lý nhận tài trợ của chính quyền Trung cộng.

*

Karl Marx, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản, đã viết trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản như sau: “Một bóng ma đang ám ảnh Châu Âu – bóng ma của Chủ nghĩa Cộng sản”. Hơn 100 năm đã trôi qua, và bóng ma của chủ nghĩa cộng sản hiện đang ám ảnh Trung cộng và phần còn lại của thế giới.

Đại dịch virus corona đã trở thành thảm họa gần đây nhất do chủ nghĩa cộng sản gây ra. Trong những tháng qua, thế giới đã chứng kiến ​​ĐCSTH kiểm duyệt thông tin ra sao, bưng bít các ca nhiễm và tử vong thế nào, chuyển hướng dư luận sang chỉ trích các quốc gia khác và tuyên truyền ra sao để tô vẽ bản thân thành vị cứu tinh ở cả trong và ngoài Trung cộng.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo từng nói: “Những người bị hại nhiều nhất do thông tin sai lệch của Trung cộng – mà thực tế là họ đã bưng bít điều này ngay từ đầu – chính là người dân Vũ Hán và Hồ Bắc ở Trung cộng.”

Khi dịch bệnh hoành hành khắp Trung cộng và trở thành đại dịch toàn cầu, khoảng 75.000 người đã mất mạng, khoảng 1/5 số người trên thế giới đang bị phong tỏa, và vô số doanh nghiệp bị đóng cửa. Cả thế giới đã trở thành nạn nhân của sự bưng bít và xử lý sai của ĐCSTH khi dịch virus corona bùng phát.

Hy vọng rằng Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới sẽ thoát khỏi sự thao túng của ĐCSTH để có một tương lai tươi sáng và tốt đẹp hơn.

(Hết)

Anh Tử, Điền Vân

Đăng lại từ Minghui.org

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen