Phạm Nguyên Trường

Văn Việt

Mục lục

Chữ cái E

140. Ecocentrism – Chủ nghĩa dĩ tự nhiên vi trung. 

Ecocentrism, từ hai từ Hi lạp: oikos, “nhà” và kentron, “trung tâm” là thuật ngữ được sử dụng trong triết học chính trị sinh thái ám chỉ hệ thống các giá trị lấy thiên nhiên làm trung tâm (chủ nghĩa dĩ tự nhiên vi trung), tương phản với hệ thống các giá trị với lấy con người làm trung tâm (xem mục Anthropocentrism – Chủ nghĩa duy con người). Người ta thường dùng niềm tin mang tính bản thể luận và tuyên bố đạo đức để biện minh cho hệ thống các giá trị lấy thiên nhiên làm trung tâm. Niềm tin mang tính bản thể luận cho rằng không có bất kỳ sự phân chia thực sự nào giữa con người và tự nhiên-không-có-con-người để khẳng định rằng con người hoặc (a) là hữu thể duy nhất có giá trị nội tại hoặc (b) có giá trị nội tại lớn hơn tự nhiên-không-có-con-người. Do đó, tuyên bố đạo đức là sự bình đẳng về giá trị nội tại giữa con người và tự nhiên-không-có-con-người, hay “chủ nghĩa quân bình sinh quyển”.

Những người ủng hộ coi chủ nghĩa dĩ tự nhiên vi trung là thách thức quyết liệt thái độ duy con người tồn tại từ lâu và đã ăn sâu bén rễ trong văn hóa, khoa học và chính trị phương Tây. Chủ nghĩa duy con người cho rằng tự nhiên phải phục vụ cho tiện ích của con người, và do đó, chỉ để đáp ứng nhu cầu của con người mà thôi. Ngược lại, những người ủng hộ chủ nghĩa dĩ tự nhiên vi trung tin rằng phải có nền đạo đức lấy tự nhiên làm trung tâm để bảo vệ thế giới tự nhiên. Những người phê phán chủ nghĩa dĩ tự nhiên vi trung khẳng định rằng quan điểm này mở cửa cho nền đạo đức chống lại con người, tạo ra nguy cơ hi sinh phúc lợi của con người nhân danh “điều tốt đẹp hơn” nhưng không được định nghĩa một cách rõ ràng.

141. Ecology – Sinh thái học.

Thuật ngữ oekologie được nhà sinh học người Đức, Ernst Haeckel, nghĩ ra vào năm 1866 dựa trên từ gốc Hy Lạp là oikos “trong nhà” và logos “môn khoa học” hay “môn khoa học nghiên cứu ngôi nhà tự nhiên”. Ernst Haeckel cũng định nghĩa sinh thái học là “khoa học nghiên cứu quan hệ giữa sinh vật và môi trường của chúng”, hiện vẫn được nhiều người chấp nhận.

Các chủ đề mà các nhà sinh thái học quan tâm thường là đa dạng sinh học, phân bố của các sinh vật, cũng như sự cạnh tranh giữa chúng bên trong và giữa các hệ sinh thái.

Các hệ sinh thái thường được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau từ cá thể và các quần thể cho đến các hệ sinh thái và sinh quyển. Sinh thái học là môn khoa học đa ngành, nghĩa là dựa trên nhiều ngành khoa học khác nhau.

142. Economic and Monetary Union – Liên minh kinh tế và tiền tệ. 

Liên minh kinh tế và tiền tệ là thuật ngữ chỉ một nhóm chính sách với mục đích hội tụ nền kinh tế của các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu trong ba giai đoạn.

Mỗi giai đoạn lại làm cho quá trình hội nhập kinh tế ngày càng chặt chẽ hơn. Một nước nào đó phải tham gia vào giai đoạn thứ ba thì mới được phép sử dụng đồng euro làm đồng tiền chính thức của nước mình. Như vậy, giai đoạn thứ ba đồng nghĩa với khu vực đồng euro. Tiêu chí hội tụ đồng euro là tập hợp các yêu cầu mà quốc gia phải đáp ứng thì mới được tham gia khu vực đồng euro. Yếu tố quan trọng là tham gia ít nhất là hai năm Cơ chế Tỷ giá hối đoái Châu Âu („ERM II“), trong đó các đồng tiền của nước ứng cử viên chứng minh được khả hội tụ kinh tế bằng cách giữ độ lệch được giới hạn so với tỷ giá được đặt ra so với đồng euro.

143a. Economic man – Con người kinh tế. 

Theo nghĩa hẹp, con người kinh tế là người duy lí và ích kỉ, nhưng theo nghĩa rộng thì đấy là người duy lí, nhưng không nhất thiết phải là người ích kỉ. Theo nghĩa rộng, con người kinh tế luôn luôn tuân theo các tiên đề hành động trong lí thuyết kinh tế học dòng chính. Ở mức sâu nhất, đấy là các quy tắc về tính truyền ứng (transitivity), kiên định, trọn vẹn (completeness) của lựa chọn. Truyền ứng nghĩa là nếu tôi tích A hơn B và thích B hơn C thì tôi phải thích A hơn C. Kiên định nghĩa là nếu tôi chọn A chứ không phải B thì tôi sẽ tiếp tục chọn A chứ không chọn B mỗi khi tôi đứng trước sự lựa chọn giống hệt như thế, trong những hoàn cảnh giống hệt như thế. Trọn vẹn (completeness) nghĩa là với bất kì món hàng hóa A và B (dịch vụ, cơ hội) nào, tôi đều có thể có ba lựa chọn: thích A hơn, thích B hơn và bàng quan với cả hai. Ở mức độ ít trừu tượng hơn, con người kinh tế được cho là người bao giờ cũng thích có nhiều hơn, bất kể đấy là món hàng gì, với lợi ích biên ngày càng giảm.

Những tiên đề này vẫn còn đang tranh cãi. Các nhà tâm lí học đã chứng minh rằng người ta thường không tuân theo tính truyền ứng (transitivity) và kiên định trong khi lựa chọn nếu “khuôn khổ” lựa chọn đã thay đổi. (Ví dụ, người ta có thể chấp nhận trò chơi khi họ được bảo rằng có hai lựa chọn: không mất gì và được; nhưng không chấp nhận trò chơi khi họ được bảo rằng có hai lựa chọn: không mất gì và mất). Trọn vẹn (completeness) là đòi hỏi phi thực tế. Không phải lợi ích biên lúc nào cũng giảm. Tuy nhiên, nhiều người chỉ trích thuật ngữ con người kinh tế vì người ta giả định rằng đấy là con người ích kỉ, nhưng thực ra tiên đề lí thuyết kinh tế không ám chỉ như thế. Con người kinh tế rộng rãi tối đa hóa lợi ích của mình, nhưng nếu ủng hộ tiền cứu đói làm cho anh ta cảm thấy hạnh phúc hơn bất kì cái gì khác thì anh sẽ ủng hộ cứu đói. Con người kinh tế hẹp hòi tối đa hóa của cải của anh ta. Nói chung, kinh tế học bị tấn công vì cho rằng phần lớn dân chúng là (thậm chí tệ hơn, nên là) những con người kinh tế hẹp hòi, các nhà kinh tế học tự bảo vệ mình bằng cách tuyên bố rằng con người kinh tế thực ra là con người kinh tế rộng rãi. Tuy nhiên, cả hai bên đều không nhất quán khi sử dụng thuật ngữ này.

143b. Effectiveness of Government – Tính hiệu quả của chính phủ. 

Vấn đề tính hiệu quả của chính phủ đã và đang làm cho nhiều chính phủ phương Tây lo lắng. Nhiều nhà quan sát, thường là các chính trị gia bảo thủ, tuyên bố rằng nhà nước hiện đại đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn, đấy là kết quả của cái mà một số người cầm bút gọi là “quá tải”. Người ta nói rằng đấy là kết quả của việc chính phủ can thiệp vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội, những lĩnh vực mà chính phủ không thể tạo được bất kỳ tác động thực sự nào lên những vấn đề quan trọng nhất; đồng thời lại gây ra những tác động tiêu cực, trong đó có tăng các khoản chi tiêu công và làm cho nhiều người hoài nghi khi những kỳ vọng của họ không được đáp ứng. Ở Hoa Kỳ, trong những năm thực hiện chương trình “Xã hội Vĩ đại”, 1964–1968, dưới thời Tổng thống Lyndon B. Johnson, vai trò của chính phủ liên bang trong chính sách xã hội đã phình ra rất lớn, nhưng sau đó là giai đoạn co lại vì người ta nhận thấy rằng nghèo đói dường như vẫn lan tràn như mọi khi và một số vấn đề (ví dụ, tội phạm) thậm chí còn trở nên gay gắt hơn. Thái độ hoài nghi về vai trò của chính phủ liên bang (xem chủ nghĩa tân bảo thủ) mà chương trình này tạo ra đã dẫn đến việc là người ta không còn muốn chi những khoản đầu tư công khi chưa có bằng chứng rõ ràng rằng nó sẽ tạo ra khác biệt có thể đo lường được đối với vấn đề mà người ta quan tâm. Do muốn thấy hiệu quả rõ ràng của chính phủ nên người ta không còn muốn giải quyết những vấn đề trong các lĩnh vực khó khăn, ví dụ, các vấn đề xã hội và y tế, và thích chuyển trách nhiệm về những vấn đề này cho các cơ quan và tổ chức không nằm dưới quyền kiểm soát trực tiếp của chính phủ. Trong khi đó, người ta vui vẻ chấp nhận các vấn đề của chính sách đối ngoại vì dường như hoạt động của chính phủ trong lĩnh vực này đã cho thấy những kết quả tích cực, trong một khoảng thời gian có thể dự đoán được. Sự khác biệt rõ ràng như thế giữa cách tiếp cận với hai lĩnh vực chính sách khác nhau chứng tỏ phần lớn đều không thích thay đổi từng bước một – thay đổi chính sách từng bước một và liên tục đo lường kết quả – và ủng hộ giải pháp đầy tham vọng, được tiến hành trên diện rộng. Tuy nhiên, trên khắp thế giới người ta đều đã đồng ý rằng nhà nước nên hạn chế can thiệp và hoạt động của xã hội, nhất là sau khi phần lớn các đảng Xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu đã từ bỏ chế độ dân chủ xã hội để ủng hộ chính sách gọi là New Labour của Vương quốc Anh hay chính sách Con đường Thứ ba, làm cho tất cả các chính phủ trở nên khiêm tốn khi đặt ra mục tiêu và kỳ vọng. Ngoài ra, lòng nhiệt tình ủng hộ với chính sách đối ngoại cũng đã giảm, vì từ cuối thế kỉ XX, các chính phủ phương Tây đã nhận thức được rằng cam kết của ở bên ngoài đã gặp nhiều trở ngại to lớn.

144. Egalitarianism – Chủ nghĩa bình quân. 

Chủ nghĩa quân bình hay chủ nghĩa bình quân là học thuyết nói rằng tất cả công dân trong cùng một nước phải được hưởng các quyền và đặc quyền giống hệt nhau. Tuy nhiên, có nhiều giải thích trái ngược nhau về việc thực hiện cam kết này trên thực tế. Có thể phân biệt ba luồng tư tưởng chính. Thứ nhất, chủ nghĩa quân bình chắc chắn có nghĩa là tất cả những người trưởng thành đều được hưởng các quyền chính trị giống hệt nhau. Những khác biệt về hoàn cảnh xã hội, tôn giáo, sắc tộc và những khác biệt khác không được tạo ra bất bình đẳng trong việc tiếp cận với cận chính trị, quyền bầu cử và bình đẳng trước pháp luật. Đây là định nghĩa tối thiểu về chủ nghĩa bình quân và được chấp nhận trên lý thuyết và thường là cả trên thực tế, ở hầu hết các chế độ dân chủ phương Tây và nhiều hình thức nhà nước khác. Thứ hai, chủ nghĩa quân bình cũng có thể liên quan tới bình đẳng về cơ hội, có nghĩa là, dù một người được sinh ra trong hoàn cảnh kinh tế-xã hội như thế nào, người đó cũng sẽ có cơ hội, như tất cả những người khác, trong việc phát triển tài năng của họ và giành được bằng cấp, và khi xin việc làm, họ sẽ được xem xét hoàn toàn trên cơ sở tài năng và bằng cấp, chứ không dựa trên, ví dụ, trường mà họ đã học hoặc địa vị xã hội của cha mẹ họ. Quan niệm này, ít nhất, cũng đòi hỏi phải có hệ thống giáo dục và phúc lợi xã hội đủ sức đào tạo và cung cấp cho những người kém may mắn nhất để họ có thể cạnh tranh bình đẳng với những người có hoàn cảnh xuất thân thuận lợi hơn. Trong khi, có thể nói rằng không có nhà nước hiện đại nào thực sự đạt được mục tiêu này, nhưng nhiều nỗ lực đã được thực hiện theo hướng đó và tất cả mọi người đều ủng hộ quan điểm này trên lời nói. Các chính phủ cam kết thực hiện bình đẳng về cơ hội ngày càng nhận ra rằng chiến lược của họ bị chính sự thiếu nhiệt tình học tập của những người mà họ tìm cách giúp đỡ cản trở. Thứ ba, quan điểm nghiêm ngặt nhất về chủ nghĩa quân bình đòi hỏi không chỉ bình đẳng về cơ hội, mà bình đẳng thực sự về của cải vật chất và, có lẽ, ảnh hưởng chính trị. Hầu hết các quốc gia đều không cho rằng bình đẳng toàn diện như thế là khả thi về mặt lí thuyết, chứ chưa nói là đáng ao ước. Trong các xã hội cộng sản, nơi mà lí tưởng này được coi là mục đích, thì lại rõ ràng là không có bình đẳng (xem mục Giai cấp mới). Hầu hết các nhà tư tưởng phi-Marxist đều khẳng định rằng tình trạng bình đẳng như thế phải đánh đổi bằng mất tự do trên diện rộng, và sẽ không hiệu quả về mặt kinh tế, vì người ta không có động cơ phấn đấu.

145. Election – Bầu cử. 

Bầu cử là phương pháp lựa chọn một hay một số người trong số các ứng viên cho một chức vụ hay cơ quan nào đó, bầu cử đã trở thành phương pháp lựa chọn các nhà lãnh đạo chính trị và quản lí trên toàn thế giới. Ngay cả những mước được mọi người cho là độc tài hoặc quân phiệt cũng sử dụng các cuộc bầu cử gian lận nhằm che giấu cơ chế lựa chọn chính trị thực sự của họ.

Các cuộc bầu cử có thể được thực hiện theo những kỹ thuật khác nhau. Phiếu bầu có thể được phát cho từng người, như trong hầu hết các cuộc bầu cử quốc gia; phát cho tập thể (ví dụ, phái đoàn các nước ở Liên Hợp Quốc) hoặc các đơn vị (ví dụ, các chi nhánh của công đoàn). Thủ tục bỏ phiếu có thể là bí mật, công khai hoặc thậm chí được ghi lại và công bố, như trong các cơ quan lập pháp. Phiếu bầu có thể được tính theo một trong cả chục phương pháp khác nhau, từ đại diện theo tỷ lệ đến đơn giản nhất là hệ thống đa số nhiều-phiếu-nhất-thắng (xem hệ thống bỏ phiếu). Trong lịch sử, bầu cử chỉ là một trong rất nhiều phương pháp lựa chọn và mãi tới thế kỉ XX, bầu cử mới thành phương pháp giữ thế thượng phong. Không có liên hệ tất yếu giữa bầu cử và dân chủ, việc lựa chọn các nhà lãnh đạo ở các nước độc đảng cũng thông qua các cuộc bầu cử, mặc dù cử tri có thể chỉ là một số nhân vật đứng đầu trong đảng.

146. Electoral College – Đại cử tri đoàn.

Đại cử tri đoàn là cơ chế bầu chọn gián tiếp tổng thống và phó tổng thống Hoa Kì. Đại cử tri đoàn bao gồm 538 đại cử tri (electors) cứ bốn năm lại họp một lần để bầu tổng thống và phó tổng thống Hoa Kỳ. Các đại cử tri tổng thống được bầu lên theo thể thức phổ thông đầu phiếu vào ngày được gọi theo truyền thống là “ngày bầu cử” (ngày thứ 3, sau ngày thứ 2, của tuần đầu tiên của tháng 11 hằng năm), nhưng trên thực tế, đây mới chính là những người sẽ bầu trực tiếp tổng thống và phó tổng thống chứ không phải người dân bình thường. Các đại cử tri họp tại các tòa nhà quốc hội bang nhà của mình vào ngày thứ hai đầu tiên sau ngày thư tư lần thứ hai trong tháng 12 và vì thế không phải là một cuộc họp toàn quốc. Tại 51 cuộc họp (50 tiểu bang và đặc khu Columbia (District of Columbia:Washington, D.C. ), được tổ chức cùng ngày, các đại cử tri cùng bỏ phiếu. Chính vì có sự tập hợp kết quả bầu cử của 51 nhóm nên mới có định nghĩa kỹ thuật là đại cử tri đoàn, mặc dù 51 nhóm này thực sự không tập hợp về chung một nơi để bầu cử. Hệ thống đại cử tri đoàn, giống như một đại hội toàn quốc, là nhân tố gián tiếp trong tiến trình bầu tổng thống.

Số phiếu đại cử tri của mỗi bang bằng tổng số thượng nghị sĩ (luôn luôn là hai) và số hạ nghị của bang đó; riêng đặc khu Columbia có ba phiếu đại cử tri mặc dù không đại diện nào ở Quốc hội Hoa Kỳ. Tại mỗi bang, các cử tri phổ thông bầu chọn một danh sách gồm các ứng cử viên đã được chọn sẵn cho vị trí đại cử tri. Tuy nhiên, trên lá phiếu bang được thiết kế giống như là các cử tri phổ thông đang thật sự bầu trực tiếp cho ứng cử viên tổng thống. Đa số bang dùng cách gọi là lá phiếu vắn tắt mà trong đó khi một lá phiếu bỏ cho một đảng nào (thí dụ như Dân chủ hoặc Cộng hòa) thì được xem là một lá phiếu cho toàn thể nhóm đại cử tri thuộc đảng đó. Tại những bang này, hiếm khi ngoại lệ, một đảng sẽ chiếm hết toàn bộ số phiếu đại cử tri của bang đó. Maine và Nebraska chọn đại cử tri bằng phương pháp được gọi là Phương pháp Maine, trong đó có thể xảy ra khả năng các cử tri phổ thông chọn ra nhiều đại cử tri thuộc nhiều đảng chính trị khác nhau và như thế số phiếu đại cử tri của bang bị chia ra tại hai bang này. Hiếm có trường hợp một đại cử tri không bỏ phiếu cho liên danh tranh cử tổng thống thuộc đảng của mình; những người như thế được gọi là “đại cử tri không trung thành” (faithless elector).

Một tháng sau khi bỏ phiếu đại cử tri, Quốc hội Hoa Kỳ nhóm họp hai viện để tuyên bố người đắc cử. Nếu một ứng cử viên tổng thống nhận được 270 (cho đến năm 2009) hoặc nhiều hơn số phiếu đại cử tri tổng thống, người chủ tọa (thường là phó tổng thống đương nhiệm) tuyên bố ứng cử viên đó là tổng thống đắc cử, và một ứng cử viên phó tổng thống nhận 270 hay nhiều hơn số phiếu đại cử tri được tuyên bố tương tự là phó tổng thống đắc cử.

Quy trình chọn Đại cử tri

Để trở thành Đại cử tri, một người cần trải qua hai vòng bầu cử. Đầu tiên, các đảng ở mỗi bang sẽ chọn một loạt ứng viên đại cử tri tiềm năng trước ngày bầu cử. Tiếp đó, vào ngày bầu cử, cử tri phổ thông tại mỗi bang sẽ chọn ra đại cử tri ở bang đó bằng cách bỏ phiếu cho ứng viên tổng thống.

Vòng 1

Không có quy định thống nhất về phương thức lựa chọn đại cử tri trên toàn quốc mà mỗi bang có một quy định riêng. Về cơ bản, các đảng sẽ đề cử một danh sách đại cử tri tiềm năng tại kỳ họp đại hội đảng của bang mình hoặc họ có thể chọn thông qua một cuộc bỏ phiếu tại ủy ban trung ương đảng. Đây là những người có đóng góp nhiều cho Đảng hoặc các quan chức dân cử của bang hoặc lãnh đạo của Đảng đó hoặc là người có quan hệ chính trị hoặc cá nhân với ứng viên tổng thống của đảng mình.

Vòng 2

Cử tri phổ thông sẽ cùng lúc chọn ra tổng thống và đại cử tri. Việc này thực hiện trên cùng 1 lá phiếu tên của đại cử tri tiềm năng có thể có hoặc không xuất hiện trên lá phiếu, (nếu có thì tên sẽ nằm dưới tên ứng viên tổng thống), tùy thuộc vào quy trình bầu cử và phương thức bỏ phiếu ở từng bang. Tuy nhiên cũng xuất hiện tình trạng tiếng nói của đại cử tri không phản ánh đúng quan điểm của cử tri phổ thông khi đại cử tri không giữ cam kết ủng hộ ứng cử viên Tổng thống như sự lựa chọn của cử tri phổ thông.

Chỉ trích

Việc kết quả cuộc bầu cử của đại cử tri không phản ánh đúng kết quả của của cuộc phổ thông đầu phiếu làm cho mô hình bầu cử này gặp một số chỉ trích. Có nhiều người đã nêu lên những phương cách khác thay thế để bầu chọn tổng thống. Vấn đề này lại được đem ra bàn cãi theo sau kỳ Bầu cử Tổng thống năm 2000 khi ứng cử viên Đảng Dân chủ là Al Gore giành đa số phiếu phổ thông nhưng lại thất bại giành đa số phiếu của đại cử tri đoàn.

Ở các bang, ứng viên nào giành được nhiều nhất phiếu đại cử tri thì giành được toàn bộ phiếu của cử tri đoàn. Đây được gọi là nguyên tắc “Được ăn cả, ngã về không” (the winner takes all). Điều này khiến cho về mặt lý thuyết một ứng ứng cử viên chỉ cần giành được 142 phiếu đại cử tri ở 11 bang có nhiều đại cử tri nhất là đã có thể trúng cử (28/55 ở California, 18/34 ở Texas, 16/31 ở New York, 14/27 ở Florida, 11/21 ở Illinois, 11/21 ở Pennsylvania, 11/20 ở Ohio, 9/17 ở Michigan, 8/15 ở Georgia, 8/15 ở Bắc Carolina và 8/15 ở New Jersey – Tổng số phiếu đại cử tri ở 11 bang này là 271/538 phiếu, đủ để trở thành Tổng thống). Từ khi hình thành hệ thống đại cử tri đã xuất hiện 157 đại cử tri có lá phiếu ngược với lá phiếu họ đã cam kết với cử tri phổ thông trước đó. Có 21 bang không có quy định bắt buộc Đại cử tri phải trung thành với lời cam kết.

147. Electoral Systems – Hệ thống bầu cử (Wahlsysteme).

Có hai nhóm hệ thống bầu cử được sử dụng trong các các chế độ dân chủ hiện đại.

Hệ thống đa số đơn giản (Mehrheitswahl) hay còn gọi là nhiều phiếu nhất là thắng (FPTP – first-past-the-post voting). Ứng cử viên có nhiều phiếu bầu hơn bất kỳ người khác là người thắng cuộc Phương pháp này được sử dụng ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Canada và trong những tổ chức phi chính phủ trên toàn thế giới. Đây là hệ thống được sử dụng không chỉ để bầu chọn ứng cử viên mà còn bầu cả chính phủ. Trên thực tế, không có chính phủ Anh nào được thành lập đã nhận được một đa số phiếu bầu trong cuộc tổng tuyển cử kể từ năm 1935; tuy nhiên, hầu hết các chính phủ này chiếm đa số, đôi khi lớn, số ghế trong Viện thứ dân.

Một biến thể của đa số đơn giản hệ là hệ thống bỏ phiếu lần thứ hai (Two-round system, Stichwahl), được sử dụng ở Pháp. Ở đây ứng cử viên chỉ được tuyên bố đã được bầu trong lần bỏ phiếu đầu tiên nếu họ nhận được đa số phiếu bầu (nghĩa là 50% + 1 phiếu). Ở những khu vực bầu cử không có ứng viên nào nhận được 50%+ phiếu (trên thực tế, khoảng hai phần ba tổng số các khu vực bầu cử xảy ra hiện tượng này), thì sau đó một tuần người ta sẽ tổ chức cuộc bỏ phiếu thứ hai, trong đó chỉ những ứng viên đạt hơn 12,5% trong lần bỏ phiếu đầu tiên, nếu không tự nguyện rút lui, là được tham gia. Một biến thể khác của hệ thống đa số đơn giản là bầu cử thay thế. Trong hệ thống này, cử tri đánh dấu ứng cử viên mình lựa chọn theo thứ tự ưu tiên và kết quả sẽ được phân định bằng việc đếm số phiếu của các ứng cử viên theo thứ tự ưu tiên này. Người đắc cử theo chế độ bầu cử thay thế phải nhận được ít nhất 50% tổng số phiếu tại khu vực bầu cử của mình. Chế độ bầu cử thay thế được sử dụng để bầu các thành viên của hạ viện Australia, tổng thống Ấn Độ, nghị sĩ của hội đồng lập pháp ở Ấn Độ, tổng thống Ireland và một số nước khác.

Hệ thống đại diện theo tỉ lệ (PR: Proportional representation, Verhältniswahl): Đây là hệ thống bầu cử phổ biến nhất trong những nền dân chủ lâu đời, là hệ thống được cố ý thiết lập để tạo ra sự tương ứng chặt chẽ giữa tỉ lệ của tổng số phiếu bỏ cho một đảng trong kì bầu cử với tỉ lệ với số ghế mà đảng đó giành được trong cơ quan lập pháp. Thí dụ, đảng được 53% phiếu bầu sẽ giành được 53% số ghế. Cách thức bầu cử như thế thường được gọi là hệ thống bầu cử đại diện theo tỉ lệ (PR-proportional representation).

Hệ thống này có ba biến thể chính. Phổ biến hơn cả là hệ thống Danh sách (List system), theo đó, cử tri lựa chọn các ứng viên từ danh sách do các chính đảng cung cấp; số ứng cử viên đắc cử của một đảng sẽ phải tỷ lệ thuận đúng với tỷ lệ tổng số phiếu dành cho các ứng viên của đảng đó trên toàn bộ phiếu bầu.

Thứ hai là hệ thống tỉ lệ danh sách hỗn hợp (Mixed Member Proportional, personalisierte Verhältniswahl) – được sử dụng ở Đức, Italy và gần đây là ở New Zealand – một số ứng cử viên, ví dụ: một nửa, được bầu theo danh sách PR trong toàn quốc, số còn lại được bầu từ các đơn vị bầu cử mà mỗi đơn vị chỉ được bầu một ứng cử viên. Những người ủng hộ hệ thống bầu cử này cho rằng nó đảm bảo được một phần tính chất tỷ lệ của hệ thống PR, nhưng, tương tự như hệ thống FPTP, nó lại có khả năng tốt hơn hệ thống PR thuần túy trong việc hình thành được một phe đa số trong nghị viện (nên dễ tránh được những bế tắc thường có trong việc thông qua các dự luật của hệ thống PR thuần túy – ND).

Một hệ thống PR rất hay được các nhà chính trị học ủng hộ nhưng lại ít được áp dụng là hệ thống bầu cử có thể chuyển giao một lần (single tranferable Vote – STV, Übertragbare Einzelstimmgebung), ngoại trừ Ireland, nơi người ta áp dụng hệ thống này từ năm 1921. Cũng như hệ thống bầu cử lựa chọn (AV, Approval voting, Wahl durch Zustimmung) được mô tả bên trên, ở đây cử tri cũng xếp loại các ứng cử viên. Nhưng khác với hệ thống AV, STV được áp dụng trong các đơn vị bầu cử được lựa chọn nhiều đại biểu. STV có phương pháp kiểm phiếu quá phức tạp, không thể mô tả ở đây được. Nhưng phương pháp này bảo đảm rằng những ứng cử viên xếp loại cao nhất sẽ thắng cử và dẫn đến một sự phân phối ghế trong nghị viện với tỷ lệ khá tương đồng với số phiếu các đảng thu được. Mặc dù dường như cử tri ở Ireland hài lòng với hệ thống STV, nhưng chắc là sự phức tạp đã khiến cho loại hình này không được sử dụng ở những nơi khác.không nhất thiết phải là đa số tuyệt đối – trên 50%).

PR đối chọi với FPTP. Như nói bên, người ta vẫn còn tranh luận về vấn đề hệ thống bầu cử nào đáp ứng tốt nhất yêu cầu: bầu cử vừa tự do vừa công bằng. Những người phê phán FPTP khẳng định rằng, nói chung, hệ thống này không vượt qua được trắc nghiệm về đại diện công bằng, đôi khi kết quả còn quá kém nữa. Thí dụ, trong cuộc bầu cử Nghị viện Anh vào năm 1997, đảng Lao động chiếm được 64% số ghế trong Nghị viện – một đa số lớn nhất trong lịch sử nghị viện thời hiện đại, nhưng đảng này lại chỉ giành được có 44% số phiếu bầu mà thôi. Trong khi đó, đảng Bảo thủ với 31% số phiều bầu lại chỉ được có 25% số ghế, còn đảng Tự do hẩm hiu với 17% số phiếu lại chỉ chiếm được có 7% số ghế! (Ứng viên của các đảng khác giành được 7% phiếu bầu và 4% số ghế trong quốc hội).

Nếu thế, tại sao các nước dân chủ với hệ thống FPTP không chuyển sang hệ thống PR? Vì một lí do là chúng ta không thể phớt lờ được sức nặng của lịch sử và truyền thống ở những nước như Anh và Mỹ, nơi những hệ thống này đã thắng thế ngay từ khi bắt đầu có chính thể đại diện. Mỹ cho ta một thí dụ rất rõ về vấn đề này. Hệ thống bầu cử FPTP của Mỹ có thể đưa tới việc tước bỏ quyền đại diện công bằng của những người Mỹ gốc Phi thuộc nhóm thiểu số khá lớn trong các cơ quan lập pháp bang hay ngay tại hạ viện toàn liên bang. Và để bảo đảm rằng cử tri người Mỹ gốc Phi có thể có ít nhất một vài đại diện trong cơ quan lập pháp bang hay tại Quốc hội, các nhà lập pháp và các thẩm phán đôi khi đã phải cố tình vẽ lại ranh giới khu vực bầu cử nhằm tạo ra một khu vực có đa số cử tri là người Mỹ gốc Phi. Hình thù những khu vực bầu cử như thế đôi khi chẳng có liên quan gì tới địa lí, kinh tế hay lịch sử. Trong khi đó, nếu với hệ thống bầu cử kiểu PR và nếu người Mỹ gốc Phi quyết định bỏ phiếu cho ứng viên Mỹ gốc Phi của họ thì họ sẽ có đại diện tỉ lệ thuận với số dân của họ: trong bang có thí dụ 20% cử tri da đen chắc chắn sẽ có khoảng 20% ghế do người da đen nắm, nếu đấy là lựa chọn của họ.

Nhưng nếu thế, tại sao PR lại không được chấp nhận? Chủ yếu là vì thái độ thù địch với hệ thống bầu cử PR ở Mỹ lan rộng đến nỗi cả các nhà làm luật lẫn các thẩm phán đều không dám coi nó là một giải pháp để giải quyết tình trạng bất công trong bầu cử do việc sắp xếp khu vực bầu cử và vấn đề phân biệt chủng tộc gây ra. Nhưng sau này người ta đã sử dụng những luận cứ có lí hơn nhằm củng cố cho những định kiến mang tính lịch sử đầy ưu ái đối với hệ thống bầu cử FPTP. FPTP thường được người ta bảo vệ chỉ vì nó gây bất lợi cho các đảng thứ ba và bằng cách đó, nó giúp cho việc hình thành hệ thống lưỡng đảng. Ngược lại, kết quả thường thấy của hệ thống bầu cửa kiểu PR lại là hệ thống đa đảng. Đặc biệt, trong các nước dân chủ nói tiếng Anh, hệ thống lưỡng đảng được người ta ưa chuộng hơn nhiều, còn hệ thống đa đảng thì bị ghét bỏ và coi thường. Nhưng hệ thống nào tốt hơn?

Đã có một cuộc tranh luận lớn diễn ra xung quanh những ưu điểm tương đối của hệ thống lưỡng đảng và đa đảng. Nói chung, lợi thế của mỗi hệ thống lại phản ánh những điều bất lợi của chính nó. Ví dụ, một trong những lợi thế của hệ thống lưỡng đảng là nó làm giảm khó khăn cho cử tri bằng cách rút sự lựa chọn của họ xuống còn hai. Nhưng theo quan điểm của những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện theo tỉ lệ (PR) thì việc giảm một cách quyết liệt cơ hội lựa chọn như thế sẽ gây tổn hại một cách nghiêm trọng quyền tự do lựa chọn của cử tri. Các cuộc bầu cử vẫn có thể diễn ra một cách hoàn toàn tự do, họ bảo, nhưng vì những cuộc bầu cử đó đã phủ nhận quyền đại diện của những nhóm thiểu số rồi cho nên nhất định là không còn tính chất công bằng nữa.

Chính quyền hiệu quả. Những người ủng hộ hệ thống lưỡng đảng ủng hộ hệ thống bầu cử FPTP vì nó còn mang lại hệ quả sau đây nữa. Bằng cách gia tăng được quy mô đa số của đảng thắng cử trong cơ quan lập pháp, FPTP gây khó khăn cho đảng thiểu số trong việc hình thành liên minh có đủ sức ngăn chặn đảng đa số thực hiện cương lĩnh của mình – hay như những nhà lãnh đạo đa số thường nói: “thực hiện sự ủy quyền của nhân dân” cho họ. Và, với tính chất đa số đã được tăng cường như thế trong cơ quan lập pháp, lãnh đạo của đảng (chiếm đa số) luôn có đủ số phiếu để thông qua những kế hoạch của đảng ngay cả khi một số đảng viên chạy sang phe đối lập. Do đó họ lập luận rằng, hệ thống bầu cử FPTP làm cho chính quyền đáp ứng được tiêu chí hiệu quả. Ngược lại, trong một số nước, hệ thống bầu cử kiểu PR lại tạo ra quá nhiều đảng và liên minh luôn cạnh tranh và xung đột với nhau trong nghị viện tới mức rất khó hình thành liên minh đa số và những liên minh này cũng rất không ổn định. Kết quả là hiệu quả của chính phủ giảm đi trông thấy. Italy thường được đưa ra làm ví dụ minh họa cho tình trạng này.

Nhưng những người ủng hộ hệ thống bầu cử FPTP lại thường lờ đi sự thật là trong một số nước với hệ thống PR, nhiều chương trình cải cách rộng lớn đã được thực hiện bởi đa số có tính ổn định trong nghị viện và đa số đó thường là liên minh của hai hay ba đảng. Thực ra, một số nền dân chủ với hệ thống bầu cử PR, như Hà Lan và các nước vùng Scandinavia, hiện đang là những mẫu hình thành công rõ ràng của sự kết hợp giữa những cuộc cải cách mang tính thực dụng và sự ổn định.

148. Élite (Élitism) – Từ đa nghĩa: 1. Giới tinh hoa. 2. Bọn ăn trên ngồi trốc/ăn hại

Đây là một trong những chữ thú vị nhất trong tiếng Anh, vì ý nghĩa của nó không chỉ đa dạng mà còn mang tính thời sự không chỉ ở nước ngoài mà còn ở Việt Nam.

1. Giới tinh hoa. Chữ Élite được dịch sang tiếng Việt là “tinh hoa”, “tinh túy”, “cao cấp” và, cách dùng trong báo chí phổ thông có thể hiểu là chỉ những người thuộc tầng lớp có học thức cao hoặc có địa vị cao trong xã hội, trong các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, khoa học- nghệ thuật.

Điểm chung của tất cả các lý thuyết về giới tinh hoa (Élitism) là niềm tin cho rằng tất cả các hệ thống chính trị, không phụ thuộc vào ý thức hệ chính thức, đều do giới tinh hoa chính trị nắm quyền. Hai nhà khoa học xã hội Italy, cuối thế kỷ XIX, Pareto và Mosca là những người khởi xướng lý thuyết tinh hoa hiện đại. Trong khi chứng minh rằng xã hội phải được cai trị bởi giới tinh hoa, Pareto (1848-1923) và Mosca (1858-1941) muốn phá bỏ niềm tin (của chủ nghĩa Marx) rằng một ngày nào đó sẽ xuất hiện xã hội phi giai cấp, mọi người hoàn toàn bình đẳng về chính trị. Nhưng, trớ trêu là, sau đó, những người cầm bút với quan điểm Marxist đã sử dụng chính mô hình này nhằm bác bỏ thái độ tự phụ của các xã hội dân chủ tự do phương Tây. Trong khi Pareto coi chế độ dân chủ đương đại là giả tạo, thì Mosca, cùng với thời gian, đã thay đổi quan điểm của mình và cuối cùng chấp nhận quan điểm cho rằng dân chủ có thể khả thi dưới dạng một hệ thống, trong đó những nhóm tinh hoa cạnh tranh với nhau tham gia tranh cử để các cử tri bầu hay không bầu mình. Tuy nhiên, Mosca không bao giờ rời xa quan điểm chính được tóm tắt trong tuyên bố nói rằng đại biểu quốc hội không phải là người do nhân dân bầu ra, mà là người được bạn bè sắp xếp để anh ta được bầu.

Các lý thuyết về giới tinh hoa đã được một số nhà tư tưởng đầu thế kỉ XX, đặc biệt là Schumpeter (1883-1950) và một trong những học trò của Mosca, Roberto Michels (1876-1936) phát triển thêm. Trong khi trình bày nguyên tắc bất di bất dịch về tập đoàn chính trị đầu sỏ, Michels tìm cách chứng minh rằng ngay cả Đảng Dân chủ Xã hội Đức (Social Democratic Party of Germany – SPD), một đảng xã hội chủ nghĩa lâu đời nhất ở Châu Âu thực ra là phi dân chủ và luôn luôn phản bội quyền lợi của các thành viên thuộc giới lao động trong đảng của mình. Trong những năm 1930, Schumpeter đã vạch khuôn khổ mà sau này Robert Dahl (1915-2014) và những người khác gọi là mô hình đa nguyên. Ông coi chế độ dân chủ là hệ thống, trong đó, các nhóm tinh hoa cạnh tranh với nhau trong ban lãnh đạo đảng nhằm tranh giành quyền lực thông qua các cuộc bầu cử; nhưng không những không lên án tình trạng này, mà ông còn nhấn mạnh rằng những người bình thường không thể, và thực sự không nên, có quyền gì thêm ngoài quyền được tham gia bầu cử. (Mãi sau này, Anthony Downs (1930-), trong mô hình lựa chọn duy lý của nền chính trị đảng, mới tìm cách chứng minh rằng tình trạng này không ảnh hưởng đến bản chất dân chủ của nền chính trị phương Tây). Nhiều nhà bình luận tả khuynh đã tìm cách chứng minh rằng các chế độ dân chủ phương Tây được cai trị các nhóm tinh hoa đầy sức mạnh hoặc các nhóm dựa trên giai cấp thống trị, và hoàn toàn phi dân chủ; nhưng, tất nhiên, các nhà bình luận này tin tưởng rằng bãi bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ dẫn đến bình đẳng chính trị.

Các lý thuyết gia về giới tinh hoa không có quan điểm chung trong khi tìm cách giải thích tính tất yếu của giới tinh hoa. Pareto sử dụng lý thuyết tâm lý phức tạp, gắn kết với quan điểm bi quan về khả năng của con người trong việc sử dụng lý trí trong đời sống xã hội; Mosca và Michels dựa chủ yếu dựa vào lý thuyết về bản chất của tổ chức và bộ máy quan liêu tương tự như Max Weber (1864-1920); Schumpeter tin tưởng rằng quần chúng dễ bị kích theo theo tâm lý đám đông…v.v.. Các nhà khoa học chính trị không thỏa thuận được với nhau về tính chính xác của các lý thuyết về giới tinh hoa hoặc tình huống mà họ mô tả là có đáng mong muốn hay không. Tuy nhiên, rất ít người phủ nhận sự kiện là có một số bằng chứng tỏ rằng xã hội nào cũng có giới tinh hoa.

2. Bọn ăn trên ngồi trốc/Ăn hại. Trong các xã hội độc tài hoặc độc đảng toàn trị, nhóm người có quyền lực và ảnh hưởng lớn đến xã hội cũng được gọi là Élite. Đấy là những người có vai vế trong bộ máy cầm quyền, những người có liên hệ họ hàng hay bạn bè với những người trong bộ máy cầm quyền (thường gọi là tư bản thân hữu), những nhà khoa học, văn nghệ sĩ tìm cách biện hộ cho nhà cầm quyền. Họ là những người có quyền lực và ảnh hưởng nhưng không phải là “tinh hoa” hiểu theo nghĩa là “tốt đẹp”. Élite cũng có thể được dịch là “chóp bu”, ví dụ, “bọn cầm quyền chóp bu muốn cải cách nền kinh tế của chúng ta”.

Khi dùng trong văn cảnh tiêu cực, chữ Élite còn có nghĩa là những kẻ xấu xa nhất, những giai tầng chỉ làm hại xã hội. Cổ tổng thống Richard Nixon gọi những kẻ trong truyền thông, khoa bảng, và điện ảnh Hollywood chuyên chỉ trích ông là “Élite.

Chữ Élite còn được dùng với hàm ý khinh bỉ, và cách dùng này xuất phát từ thập niên 1950. Thời đó, trong các đại học những người thuộc nhóm thiểu số theo đuổi những chủ đề nghiên cứu hiếm hoi (như nghiên cứu về vai trò của phụ nữ hay người thiểu số) được xem là nhóm “dung hợp” (inclusionary), còn những người thuộc nhóm đa số với bằng cấp cao chót vót và giữ địa vị quan trọng trong khoa học xem những chủ đề đó là vớ vẩn, và họ được gán cho cái nhãn hiệu “Élitist.

149. Eminent domain – Quyền trưng thu (Recht der Enteignung). 

Quyền của nhà nước, nhân danh xã hội, thu hồi tài sản tư nhân mà không cần phải được chủ nhân đồng ý. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong luật pháp về quyền sở hữu và kế hoạch hóa ở Hoa Kì. Hiến pháp Hoa Kì được hình thành trên quan điểm của những người như Locke, Grotus, Pufendorf và những người khác, những người cho rằng nhà nước có thể và phải thu hồi tài sản công nếu có nhu cầu, nhưng phải có trách nhiệm bồi hoàn cho chủ sở hữu một cách công bằng. Người ta cho rằng quyền của cả nhà nước và chủ sở hữu đều xuất phát từ pháp quyền tự nhiên. Đòi hỏi về chuẩn mực tố tụng và bồi hoàn công bằng được ghi trong Tu chính án Thứ năm.

Chữ cái I

252-254

252. Iron Law of Oligarchy – Qui luật muôn đời của chế độ đầu sỏ. 

253. Iron Law of Wages – Quy luật sắt về tiền công. 

254. Irredentism – Chủ nghĩa phục hồi lãnh thổ. 

255-256

255. Islam – Hồi giáo. 

256. Islamic Fundamentalism – Chính thống Hồi giáo. 

257-258

257. Islamic Politics – Chính trị Hồi giáo. 

258. Isolationism – Chủ nghĩa biệt lập. 

259-262

259. Jacobinism – Chủ nghĩa Jacobin. 

260. Jacobitism – Phong trào ủng hộ vua James II. 

261. J-Curve – Đường cong J. 

262. Jim Crow Law – Luật Jim Crow. 

263-265

263. Joint Committee – Ủy ban hổn hợp. 

Gemeinsamer Ausschuss

264. Jubilee 2000 

265. Judaism – Do Thái giáo.

Chữ cái J

266-268

266. Judicial Activism/Judicial Restraint – Tính tích cực của thẩm phán/ Kiềm chế của thẩm phán. 

267. Judicial Review – Tái thẩm tư pháp. 

268. Judiciary – Cơ quan tư pháp. 

269-272

269. Junta – Chế độ độc tài quân sự 

270. Jurisprudence – Luật học. 

271. Jury – Bồi thẩm đoàn (Lý thuyết). 

272. Justice – Công lý/Công bằng. 

272. Just War- Chiến tranh chính nghĩa.

Chữ cái K

273-276

273. Kemalism – Chủ nghĩa Kemal. 

274. Khmer Rouge – Khmer Đỏ. 

275. Kibbutz – Hợp tác xã. 

276. Kinship – Quan hệ họ hàng. 

277-279

277. Kitchen Cabinet – Nhóm cố vấn thân cận của thủ tướng hay tổng thống

278. Korean War – Chiến tranh Triều Tiên. 

279. Kulak

Chữ cái L

280-282

280. Labour Movement – Phong trào lao động. 

281. Labour Party – Công đảng. 

282. Labour Theory of Value – Lí thuyết giá trị lao động. 

284-287

284. Laissez-Faire – Tự do kinh tế. 

285. Lamarckism – Thuyết Lamarck. 

286. Lame Duck – Vịt què. 

287. Land Reform – Cải cách ruộng đất. 

288

288. Language – Ngôn ngữ.

289-291

289. Law and Order – Luật pháp và trật tự. 

290. Leadership – Khả năng lãnh đạo. 

291. Leadership selection – Lựa chọn ban lãnh đạo. 

 

292-294

292. League of nations – Hội Quốc Liên

293. Left – cánh tả 

294. Legislatures – Cơ quan lập pháp.

295-297

295. Legitimacy – Chính đáng/chính danh

296. Legitimation Crisis – Khủng hoảng tính chính danh

297. Leisure Class – Tầng lớp tiêu dùng phô trương.

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen