Mục lục
Việt Nam cần Sửa đổi hoặc bãi bỏ các điều khoản trong bộ luật hình sự dùng để nhắm vào các nhóm tôn giáo độc lập.
Bài phát biểu của ông Steve Schneck, ủy viên Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF), tập trung vào tình trạng vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng tại Việt Nam.
USCIRF đã liên tục khuyến nghị định danh Việt Nam là “Quốc gia Cần Quan tâm Đặc biệt” (CPC) kể từ năm 2002, mức độ dành cho những kẻ vi phạm tự do tôn giáo tồi tệ nhất trên toàn thế giới.
Việt Nam đã sử dụng các công cụ đàn áp như Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2018 và các nghị định thi hành được nhà cầm quyền Việt Nam sử dụng làm công cụ chính để thao túng các sinh hoạt tôn giáo. Bên cạnh đó giới chức cầm quyền lợi dụng các điều luật an ninh quốc gia mơ hồ để nhắm mục tiêu và truy tố thường dân. Mặc dù Việt Nam có bước tiến trong việc thu nạp các tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận, điều này lại đánh đổi bằng sự bức hại triền miên đối với các cộng đồng tôn giáo độc lập.
Bất kỳ ai thực hành tôn giáo bên ngoài các tổ chức do nhà nước bảo trợ đều có nguy cơ bị nhắm mục tiêu. Các nhóm bị đàn áp bao gồm Tín đồ Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật Giáo Khmer Krom, và Tín đồ Cơ Đốc Giáo người H’mông và đồng bào người Thượng (Montagnard).
Hậu quả và Các trường hợp cụ thể:
– Danh sách Nạn nhân Tự do Tôn giáo hay Tín ngưỡng Frank R. Wolf của USCIRF đã ghi nhận hơn 90 cá nhân bị giam giữ hoặc bỏ tù vì cố gắng thực hành đức tin hoặc vận động cho tự do tôn giáo.
– Các hoạt động đàn áp xuyên quốc gia nhắm vào nhà sư Thích Minh Tuệ và các tổ chức nhân quyền có trụ sở tại Hoa Kỳ và Thái Lan như Ủy ban Cứu người Vượt biển (BPSOS) và Người Thượng Vì Công Lý. Việt Nam đã gán mác khủng bố cho hai tổ chức này và truy tố khiếm diện Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng.
Các Khuyến nghị đối với Chính phủ Hoa Kỳ:
USCIRF kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam:
- Sửa đổi hoặc bãi bỏ các điều khoản trong bộ luật hình sự dùng để nhắm vào các nhóm tôn giáo độc lập.
- Làm việc với Ban Tôn giáo Việt Nam để đảm bảo các sửa đổi đối với Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.
- Thúc đẩy các nỗ lực lập pháp của Quốc hội Hoa Kỳ, như thông qua Đạo luật Nhân quyền Việt Nam (HR 3122), nhằm cải thiện tình trạng tự do tôn giáo.
* * * * * * *
BÀI DIỄN VĂN CỦA TIẾN SĨ STEPHEN SCHNECK, ỦY VIÊN ỦY HỘI TỰ DO TÔN GIÁO QUỐC TẾ HOA KỲ TRONG NGÀY NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM 2026
Kính thưa toàn thể quý vị,
Tôi muốn được thưa chuyện về một quyền lợi vô cùng quan trọng trong số tất cả các quyền đang được đưa ra thảo luận ngày hôm nay, và đó là quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng.
Như quý vị đã nghe giới thiệu, tên tôi là Steve Schneck. Tôi là một ủy viên của Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, hay còn gọi tắt là USCIRF. Thật là một vinh dự khi được hiện diện cùng quý vị ngày hôm nay trong lúc chúng ta tiếp tục tưởng niệm Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam. Trên thực tế, tình trạng nhân quyền, như chúng ta vừa nghe từ Đại sứ Turner, xứng đáng được quan tâm nhiều hơn là chỉ một ngày tưởng niệm. Vấn đề này đòi hỏi sự lưu tâm liên tục, đặc biệt là đối với các chiến dịch đàn áp triền miên nhắm vào quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, vốn là một quyền tự do căn bản trong luật pháp quốc tế mà người dân Việt Nam phải được bảo đảm.
Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ là một cơ quan của chính phủ đảm trách việc theo dõi tình trạng tự do tôn giáo trên toàn cầu. Chúng tôi đưa ra các khuyến nghị về chính sách cho Tổng thống Hoa Kỳ, Ngoại trưởng, và Quốc Hội về những hành động cần thiết đối với vấn đề tự do tôn giáo trên thế giới. Mỗi năm, chúng tôi công bố một bản phúc trình thường niên đánh giá các điều kiện tự do tôn giáo tại những quốc gia mà chúng tôi xác định là thuộc nhóm những kẻ chà đạp tồi tệ nhất, trong đó bao gồm cả các đề xuất của chúng tôi về việc đưa các quốc gia này vào các danh sách định danh.
Kể từ năm 2002, Ủy hội đã liên tục khuyến nghị định danh Việt Nam là một “Quốc gia Cần Quan tâm Đặc biệt” (CPC). Đề nghị này cũng được bao gồm trong bản phúc trình thường niên mới nhất của chúng tôi. Và tôi muốn khẳng định rõ ràng rằng, sự định danh này là mức độ chúng tôi dành riêng cho những kẻ vi phạm tự do tôn giáo khét tiếng và tồi tệ nhất trên toàn thế giới.
Trong bản phúc trình của mình, chúng tôi đã ghi nhận rằng Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2018 và các nghị định thi hành của luật này vẫn là công cụ chính để nhà cầm quyền Việt Nam thao túng các sinh hoạt tôn giáo. Giới chức cầm quyền từ lâu đã lợi dụng những điều luật an ninh quốc gia mơ hồ để nhắm mục tiêu và truy tố các thường dân Việt Nam. Bản phúc trình của chúng tôi cũng lưu ý việc Phó Thủ tướng Việt Nam đã vạch ra các vấn đề dân tộc và tôn giáo là một trong sáu ưu tiên chiến lược, và chúng tôi đang theo dõi rất sát sao việc các sửa đổi năm 2026 đối với Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo có thể tác động tiêu cực ra sao đến tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Trong bản cập nhật quốc gia mới nhất của chúng tôi về Việt Nam, được công bố vào tháng 12 năm ngoái, chúng tôi ghi nhận rằng Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc thu nạp các tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận, nhưng thông thường điều này lại phải đánh đổi bằng sự hy sinh của các cộng đồng tôn giáo độc lập—những người vẫn đang tiếp tục phải đối diện với sự bức hại. Nhà cầm quyền Việt Nam liên tục đe dọa, sách nhiễu, hành hung, giam giữ và bỏ tù các cá nhân thuộc những cộng đồng này chỉ vì các sinh hoạt tín ngưỡng của họ.
Những nhóm tôn giáo đang bị nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp bao gồm:
- Tín đồ Cao Đài
- Tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo
- Tín đồ Phật Giáo Khmer Krom
- Tín đồ Cơ Đốc Giáo người H’mông và đồng bào người Thượng (Montagnard)
Tuy nhiên, bất kể giáo phái của họ là gì, bất kỳ người nào tại Việt Nam mong muốn thực hành tôn giáo của mình bên ngoài các tổ chức tôn giáo do nhà nước bảo trợ (tôn giáo quốc doanh) đều có nguy cơ bị nhà cầm quyền đưa vào tầm ngắm. Những cá nhân này thường xuyên phải hứng chịu sự giám sát thô bạo và áp lực ép buộc từ giới chức cầm quyền để gia nhập các nhóm tôn giáo do nhà cầm quyền bảo trợ và phê chuẩn.
Để tôi nói rõ điều này: Theo luật pháp quốc tế, mọi cá nhân phải được tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng của mình mà không cần bất kỳ sự cho phép phải có nào từ phía nhà cầm quyền.
Có một cái giá phải trả rất thực tế và bi thảm về sinh mạng con người cho những hành vi vi phạm có hệ thống, liên tục và trắng trợn của Việt Nam đối với các cá nhân và nhóm tôn giáo không đăng ký. Danh sách Nạn nhân Tự do Tôn giáo hay Tín ngưỡng Frank R. Wolf của Ủy hội chúng tôi, chẳng hạn, đã ghi nhận hơn 90 cá nhân bị nhà cầm quyền Việt Nam giam giữ hoặc bỏ tù chỉ đơn thuần vì cố gắng thực hành đức tin của họ hoặc vì lên tiếng vận động cho tự do tôn giáo.
Một trong những nạn nhân đó là Y Quynh Bdap, người đã bị giới chức Thái Lan cưỡng bách dẫn độ về Việt Nam, nơi một tòa án sau đó đã kết tội và bỏ tù ông với những cáo buộc ngụy tạo.
USCIRF cũng nhận thức rất rõ về các hoạt động đàn áp xuyên quốc gia của Việt Nam, bao gồm cả những hành động nhắm vào nhà sư thực hành hạnh đầu đà Thích Minh Tuệ, người hiện đang ở Nepal, và nhắm vào tổ chức nhân quyền có trụ sở tại Hoa Kỳ là Ủy ban Cứu người Vượt biển (BPSOS). Và cho phép tôi được nói thêm trên phương diện cá nhân rằng Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng là người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ và tôi luôn tôn trọng những công việc của ông trong lĩnh vực này, cũng như đối với tổ chức Người Thượng Vì Công Lý có trụ sở tại Thái Lan.
Nhà cầm quyền Việt Nam đã gán mác cả hai tổ chức này là các nhóm khủng bố, đi ngược lại hoàn toàn với các tiêu chuẩn quốc tế. Họ cũng đã truy tố và kết án khiếm diện Tiến sĩ Thắng, người mà tôi vừa đề cập.
USCIRF tiếp tục theo dõi sát sao những sự kiện này và các trường hợp tương tự với sự quan ngại sâu sắc, và chúng tôi sẽ tiếp tục giám sát không chùn bước và tường trình một cách thẳng thắn về những vi phạm tự do tôn giáo không ngừng nghỉ của nhà cầm quyền Việt Nam. Tất nhiên, kỳ vọng của chúng tôi là được nhìn thấy những thay đổi tích cực tại quốc gia này, nơi từng có thời điểm cho thấy một vài tiến triển liên quan đến tự do tôn giáo, nhưng sau đó lại ngựa quen đường cũ, rơi trở lại vào các khuôn mẫu đàn áp vốn đã được ghi nhận trong các bản phúc trình của chúng tôi và của nhiều tổ chức khác.
Để đạt được mục tiêu đó, USCIRF đã đưa ra các khuyến nghị yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam:
- Sửa đổi hoặc bãi bỏ các điều khoản trong bộ luật hình sự mà họ vẫn dùng để nhắm mục tiêu vào các tín đồ của các nhóm tôn giáo độc lập.
- Chúng tôi cũng khuyến nghị chính phủ Hoa Kỳ làm việc với Ban Tôn giáo Việt Nam để bảo đảm rằng các sửa đổi đối với Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.
- Và chúng tôi đã kêu gọi Quốc hội Hoa Kỳ tận dụng mọi cơ hội để nêu bật các mối quan ngại về sự vi phạm tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng đang tiếp diễn tại Việt Nam, đồng thời thúc đẩy các nỗ lực lập pháp nhằm cải thiện tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam, chẳng hạn như thông qua Đạo luật Nhân quyền Việt Nam (HR 3122) đã được chuyển giao cho Ủy ban Ngoại giao Hạ viện và Ủy ban Pháp viện Hạ viện vào tháng 4 năm ngoái.
Kính thưa quý vị và các quan khách quý mến, tôi muốn gửi lời cảm tạ đến quý vị vì đã có lời mời tôi đến phát biểu tại đây thay mặt cho Ủy hội nhân Ngày Nhân Quyền [Cho Việt Nam], ngày 11 tháng 5. Và xin cảm tạ một lần nữa vì đã mời Ủy hội tham gia lễ tưởng niệm của quý vị.
Công cuộc dấn thân của quý vị là vô cùng thiết yếu cho sự thăng tiến của tự do tôn giáo và các quyền tự do nhân quyền rộng lớn hơn tại Việt Nam. Tôi xin tán dương những nỗ lực của quý vị và cảm tạ lòng can đảm của quý vị.
Xin trân trọng kính chào.
Stephen F. Schneck
Tiểu sử:
Tiến sĩ Stephen F. Schneck từng giữ chức vụ Chủ tịch Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ 2024-2025. Ông đã hai lần được Tổng thống Joseph Biden bổ nhiệm vào Ủy hội, vào năm 2022 và 2024. Ông cũng từng phục vụ trong chính quyền của Tổng thống Barack Obama với tư cách là thành viên Hội đồng Cố vấn Tòa Bạch Ốc về các Đối tác Tôn giáo và Cộng đồng. Vốn là một triết gia chính trị, Tiến sĩ Schneck đã hồi hưu từ Đại học Công giáo Hoa Kỳ vào năm 2018 sau hơn ba mươi năm cống hiến với các vai trò giáo sư, khoa trưởng và viện trưởng. Ông nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Notre Dame.
VNTB (19.05.2026)
Người dân vùng bãi sông Hồng: Thư ngỏ gửi Đảng và Nhà nước
Từ những người dân đang đứng trước nguy cơ mất nhà, mất đất, mất làng
Chúng tôi không phải kẻ thù của sự phát triển. Chúng tôi chỉ là những người dân bình thường, đang run rẩy cầm tờ Sổ Đỏ trên tay và hỏi: “Tổ quốc có bảo vệ chúng tôi không?”
Người dân mang băng rôn, biểu ngữ, phản đối dự án Trục Đại lộ Cảnh quan sông Hồng. Ảnh trên mạng
Lưu ý: Các số liệu về diện tích đất đối ứng (5.073 ha), tổng mức đầu tư (714.000 tỷ đồng), số dân bị ảnh hưởng (ước tính hơn 200.000 hộ dân – nghĩa là lên tới gần 1.000.000 người – xin thưa là gần 1 triệu người) và quy hoạch sân golf (196 ha) được trích từ Hồ sơ đề xuất của Liên danh Đại Quang Minh – THACO – Hòa Phát, chưa qua thẩm định nhà nước độc lập. Toàn bộ căn cứ pháp lý được trích dẫn trực tiếp từ văn bản luật đang có hiệu lực.
Câu hỏi 1: Tại sao vội vã đến vậy?
Dự án Thủ Thiêm mất hơn 20 năm mới xử lý xong oan khuất của hàng chục ngàn người dân. Nước mắt đó còn chưa khô, vết thương đó còn chưa lành, thì hôm nay một dự án lớn hơn gấp nhiều lần — trị giá hơn 714.000 tỷ đồng (theo đề xuất chưa được thẩm định độc lập của Liên danh), ảnh hưởng đến ước tính hơn 200.000 hộ dân — lại được thúc đẩy với tốc độ khẩn cấp đến mức phi lý!
Điều 54 khoản 3 Hiến pháp 2013 quy định rõ: Nhà nước chỉ được thu hồi đất “trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật“.
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) số 64/2020/QH14 và Luật Thủ đô 2026 (số 02/2026/QH16, hiệu lực 01/7/2026) đều yêu cầu: Dự án quy mô này phải trải qua ít nhất 3 giai đoạn thẩm định độc lập, đánh giá tác động môi trường, đánh giá an toàn đê điều, lấy ý kiến cộng đồng đầy đủ trước khi thông qua chủ trương đầu tư.
Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước trả lời công khai: Ai đang thúc đẩy sự vội vã này, và họ đang vội vã vì điều gì?
Câu hỏi 2: Vingroup đâu? Sun Group đâu? Novaland đâu?
Việt Nam không thiếu những tập đoàn bất động sản hàng đầu, có kinh nghiệm thực tế quy hoạch đô thị, có năng lực tài chính chứng minh, có danh tiếng trong các dự án lớn.
Vậy tại sao Vingroup, Sun Group, Novaland — những đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực phát triển đô thị — lại hoàn toàn vắng mặt trong dự án lớn nhất lịch sử Thủ đô này?
Điều 14 Luật PPP 2020 (số 64/2020/QH14) quy định: Lựa chọn nhà đầu tư phải bảo đảm năng lực tài chính, kinh nghiệm và kỹ thuật phù hợp với lĩnh vực dự án. Khi những tập đoàn hiểu thị trường bất động sản nhất đều chọn đứng ngoài, đó không phải ngẫu nhiên — đó là tín hiệu thị trường rõ ràng nhất: Hoặc dự án quá rủi ro về tài chính, hoặc “miếng bánh” đã được chia sẵn trước khi đấu thầu.
Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước trả lời: Tại sao không tổ chức đấu thầu công khai, minh bạch theo đúng Điều 14 Luật PPP để chọn nhà đầu tư tốt nhất thay vì tiếp nhận đề xuất từ một Liên danh tự nguyện?
Câu hỏi 3: Lắp ráp ô tô, làm thép — xây đô thị triệu tỷ được sao?
Liên danh đề xuất gồm ba thành viên:
Đại Quang Minh: Doanh nghiệp bất động sản với quá nhiều tai tiếng tại Thủ Thiêm.
THACO (Trường Hải Auto): Bản chất là tập đoàn lắp ráp và phân phối ô tô. Họ có kinh nghiệm gì trong việc xây dựng đô thị ven sông, làm kè chống lũ 40km, thiết kế Sponge City?
Hòa Phát: Tập đoàn sản xuất thép hàng đầu Việt Nam — lĩnh vực cốt lõi là luyện kim, không phải phát triển đô thị.
Đáng chú ý hơn, Đại Quang Minh và THACO có mối quan hệ đặc biệt mật thiết — đây thực chất là hai pháp nhân cùng nhóm lợi ích, không phải ba nhà đầu tư độc lập như yêu cầu của một Liên danh PPP đúng nghĩa.
Điều 14 Luật PPP 2020 yêu cầu nhà đầu tư phải chứng minh năng lực tài chính độc lập và kinh nghiệm thực tế ở lĩnh vực tương ứng với quy mô dự án.
Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước trả lời: Hồ sơ năng lực của Liên danh đã được thẩm định độc lập chưa? Hay đây lại là “chỉ định thầu bằng đề xuất” tái bản từ Thủ Thiêm năm nào?
Câu hỏi 4: Thủ Thiêm chưa xong — lại được giao Sông Hồng?
Đại Quang Minh là đơn vị mà Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra: Giá trị 4 tuyến đường BT Thủ Thiêm không tương xứng với 78,9 ha đất vàng được giao, gây thất thoát nghiêm trọng tài sản nhà nước. Hàng chục ngàn hộ dân Thủ Thiêm mất nhà, khiếu kiện ròng rã hơn 20 năm chính vì mô hình BT định giá bất đối xứng này.
Hôm nay, Đại Quang Minh trở lại — không phải với một dự án nhỏ để sửa chữa uy tín — mà với đề xuất có quy mô gấp 10 lần Thủ Thiêm, ảnh hưởng đến hơn 200.000 hộ dân Hà Nội.
Chúng tôi xin hỏi thẳng và kính mong Đảng, Nhà nước trả lời công khai: Tại sao một doanh nghiệp chưa làm sạch tai tiếng từ Thủ Thiêm lại được trao cơ hội thực hiện siêu dự án lớn nhất lịch sử Thủ đô? Đây là quyết định dựa trên năng lực hay dựa trên mối quan hệ?
Câu hỏi 5: 714.000 tỷ đồng — con số này từ đâu ra?
Tổng mức đầu tư 714.000 tỷ đồng (tương đương gần 30 tỷ USD — lớn hơn GDP một năm của nhiều quốc gia) được đưa ra trong Hồ sơ đề xuất của chính Đại Quang Minh, do chính họ tự tính toán. Đây là con số chưa được bất kỳ cơ quan nhà nước độc lập nào thẩm tra, kiểm chứng.
Điều 14 Luật PPP 2020 và Luật Kiểm toán Nhà nước 2015 quy định rõ: Tổng mức đầu tư dự án BT phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định độc lập trước khi phê duyệt — không thể dùng con số do chính nhà đầu tư tự kê để tính quỹ đất đối ứng.
Cơ chế này nguy hiểm chết người: Nếu nhà đầu tư thổi phồng tổng mức lên 2 lần, họ sẽ được nhận quỹ đất đối ứng lớn gấp đôi — và người phải trả giá chính là Nhà nước Việt Nam và hàng vạn người dân bị thu hồi đất.
Chúng tôi yêu cầu: Phải có Kiểm toán Nhà nước độc lập thẩm tra tổng mức đầu tư trước khi thông qua bất kỳ bước triển khai nào tiếp theo.
Câu hỏi 6: Sân golf, công viên chủ đề, Khu đô thị thương mại — đó có phải “lợi ích công cộng” không?
Hợp đồng BT (Xây dựng – Chuyển giao) theo Điều 45 Luật PPP số 64/2020/QH14 chỉ được áp dụng cho công trình phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng như đường sá, cầu, kè, đê điều.
Thế nhưng trong Hồ sơ đề xuất (chưa được thẩm định), Đại Quang Minh gộp vào dự án BT những hạng mục sau:
Sân golf ước tính 196 ha tại Tàm Xá và Thanh Trì (theo hồ sơ đề xuất)
Khu vui chơi giải trí chủ đề
Khu đô thị thương mại — biệt thự, chung cư cao cấp
“Phòng khách đô thị” — khu thương mại cao cấp
Hỏi thẳng: Sân golf cho giới siêu giàu là công trình phục vụ nhân dân à? Khu vui chơi ven sông là lợi ích công cộng à?
Nếu đây là dự án kinh doanh thương mại thuần túy được “mặc áo” công ích để mượn danh BT, thì theo Điều 127 Luật Đất đai 2024: nhà đầu tư phải tự thỏa thuận mua đất của dân theo giá thị trường — Nhà nước không được thu hồi hộ.
Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước trả lời: Ai đã cho phép gộp sân golf và khu đô thị thương mại, công viên chủ đề vào hợp đồng BT để mượn quyền cưỡng chế thu hồi đất của Nhà nước?
Câu hỏi 7: Tại sao đất ở của chúng tôi lại là “quỹ đất đối ứng”?
Đây là câu hỏi đau đớn nhất. Câu hỏi mà mỗi đêm hàng vạn người dân Hồng Hà, Hải Bối, Võng La, Yên Hà, Thiên Lộc không ngủ được.
Theo quy định của Luật PPP và Luật Đất đai 2024: Quỹ đất BT phải là đất do Nhà nước quản lý — đất công, đất trống, đất chưa giao. Tuyệt đối không thể dùng đất thổ cư có Sổ Đỏ của công dân để làm quỹ đất thanh toán hợp đồng BT cho tư nhân.
Điều 127 Luật Đất đai 2024 quy định rõ ràng không thể nhầm lẫn: Doanh nghiệp muốn làm dự án nhà ở thương mại trên đất ở của người dân phải tự thỏa thuận mua lại theo giá thị trường — Nhà nước không được đứng ra thu hồi hộ.
Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước trả lời: Mảnh đất có tên tôi trong Sổ Đỏ — đó là tài sản của tôi hay là tài sản của Đại Quang Minh?
Câu hỏi 8: 5.073 ha — ai định giá, giá bao nhiêu, tính toán thế nào?
Theo Hồ sơ đề xuất (chưa được thẩm định) của Liên danh, tổng quỹ đất đối ứng lên đến 5.073 ha ven sông Hồng.
Điều 158 Luật Đất đai 2024 quy định nguyên tắc bắt buộc: Định giá đất phải theo nguyên tắc thị trường, áp dụng một trong bốn phương pháp định giá được quy định, không được thấp hơn giá trị thực tế. Từ 01/01/2026, Bảng giá đất Hà Nội được cập nhật hàng năm theo nguyên tắc này, theo Điều 159 Luật Đất đai 2024.
Nếu 5.073 ha đất ven sông Hồng được định giá đúng theo Bảng giá 2026, tổng giá trị thực tế có thể lên đến hàng triệu tỷ đồng — lớn hơn nhiều lần so với bất kỳ công trình hạ tầng nào trong dự án này.
Câu hỏi thẳng thắn nhất: Nếu quỹ đất đối ứng được định giá đúng 100% giá thị trường theo Điều 158 Luật Đất đai 2024, Đại Quang Minh có còn muốn làm dự án này nữa không? Nếu câu trả lời là KHÔNG — thì toàn bộ dự án này thực ra chỉ là một thương vụ bóc lột: Dùng quyền lực nhà nước lấy đất giá rẻ của dân, giao cho tư nhân hưởng chênh lệch địa tô khổng lồ.
Câu hỏi 9: Hơn 200.000 hộ dân – tương đương gần 1 triệu dân, người sẽ đi đâu? Địa tô khổng lồ vào túi ai?
Nếu đề xuất này được triển khai như nguyên bản, hơn 200.000 hộ dân (ước tính) đang sống ổn định ven sông Hồng sẽ buộc phải rời bỏ quê hương bản quán.
Khoản 5 và Khoản 10 Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định bắt buộc: Người bị thu hồi đất ở được ưu tiên bồi thường bằng đất ở, nhà ở tại chỗ — ngay trong dự án gây ra việc di dời, không phải đẩy đi nơi khác. Đây là quyền pháp định, không phải sự ban ơn của chủ đầu tư.
Thế nhưng trong mô hình đề xuất hiện tại, toàn bộ quỹ đất đô thị phát sinh sau giải tỏa lại được giao cho Liên danh khai thác thương mại. Người dân nhận vài trăm triệu đồng tiền bồi thường (không đủ mua lại căn hộ trong chính khu đô thị xây trên nền nhà cũ của họ), rồi dắt díu nhau đến một khu chung cư tái định cư xa lạ, không đất canh tác, không nghề nghiệp, không cộng đồng.
Trong khi đó, Đại Quang Minh sẽ nhận hàng ngàn hecta đất vàng đã được “làm sạch” bằng quyền lực nhà nước, xây biệt thự triệu đô, sân golf cao cấp và đút túi khoản địa tô chênh lệch khổng lồ — tiền mà lẽ ra phải thuộc về chính những người dân đang sống trên mảnh đất đó.
Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước trả lời: Địa tô khổng lồ đó sẽ vào túi ai? Tại sao người dân — những người đã sống trên mảnh đất đó từ bao đời — lại không được quyền hưởng bất kỳ đồng nào từ sự tăng giá của chính mảnh đất của mình?
Lời kết: Chúng tôi không xin — chúng tôi yêu cầu!
Chúng tôi đứng đây với tờ Sổ Đỏ trong tay, với Hiến pháp 2013 Điều 54, với Luật Đất đai 2024 Điều 127, Điều 158, Điều 111, với Luật PPP Điều 14 và Điều 45, với Luật Thủ đô 2026 (số 02/2026/QH16) đứng về phía chúng tôi — và chúng tôi YÊU CẦU:
Dừng ngay mọi bước triển khai khi chưa có quy hoạch 1/500 được phê duyệt công khai, đúng trình tự theo Điều 82 Luật Xây dựng và Điều 35 Luật Quy hoạch đô thị.
Tổ chức đấu thầu công khai theo đúng Điều 14 Luật PPP — không chỉ định thầu bằng “đề xuất tự nguyện”.
Kiểm toán Nhà nước độc lập thẩm tra tổng mức đầu tư và toàn bộ quỹ đất đối ứng 5.073 ha (theo đề xuất) trước khi ký bất kỳ hợp đồng nào.
Loại bỏ ngay các hạng mục kinh doanh thương mại (sân golf, resort, khu đô thị cao cấp) ra khỏi Hợp đồng BT — vì đó không phải lợi ích công cộng theo Điều 45 Luật PPP.
Bồi thường theo đúng giá thị trường theo Điều 158 Luật Đất đai 2024 cho mọi hộ dân bị ảnh hưởng — không được áp giá đền bù thấp hơn giá thị trường thực tế.
Thực hiện nghiêm tái định cư tại chỗ theo Khoản 5 và Khoản 10 Điều 111 Luật Đất đai 2024 — người dân phải được ở lại trên mảnh đất của mình, không bị đuổi đi để nhường chỗ cho biệt thự của người giàu.
Công khai toàn bộ Hồ sơ đề xuất của Liên danh, phương án bồi thường dự kiến và bản đồ ranh giới thu hồi đất để người dân bị ảnh hưởng được biết, được phản biện theo đúng tinh thần Luật Thủ đô 2026.
Chúng tôi là công dân Việt Nam. Đất đai này là máu thịt của tổ tiên chúng tôi. Pháp luật đứng về phía chúng tôi. Và chúng tôi sẽ không im lặng.
Người dân vùng bãi sông Hồng — tháng 5 năm 2026
VNTB (18.05.2026)
Tổ chức Lawyers for Lawyers kêu gọi Việt Nam hủy bỏ hoặc sửa đổi căn bản Nghị định 109/2026
Tổ chức Lawyers for Lawyers kêu gọi Chính phủ Việt Nam hủy bỏ hoặc sửa đổi căn bản Nghị định 109/2026, đồng thời đảm bảo rằng luật sư có thể thực hiện chức năng nghề nghiệp mà không bị đe dọa hay can thiệp.
Ngày 14 Tháng 5 năm 2026
Nghị định số 109/2026, được Chính phủ Việt Nam ban hành ngày 1 Tháng 4 năm 2026 và dự kiến có hiệu lực từ ngày 18 Tháng 5 năm 2026, thiết lập một khuôn khổ rộng lớn về các chế tài xử phạt hành chính áp dụng đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và các tổ chức nghề nghiệp pháp lý. Nghị định này làm dấy lên những quan ngại nghiêm trọng về tính tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến tính độc lập của nghề luật sư, quyền tự do biểu đạt và quyền được xét xử công bằng.
Nghị định 109/2026 đặt ra một hệ thống chế tài hành chính rất rộng áp dụng đối với luật sư, các hãng luật và tổ chức nghề nghiệp. Các chế tài bao gồm phạt tiền, đình chỉ hoạt động hành nghề luật sư hoặc hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, thu hồi chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động, cũng như tịch thu tang vật, phương tiện bị cho là có liên quan đến hành vi vi phạm hành chính.
Đặc biệt đáng lo ngại là các quy định trao quyền cho chính quyền hành pháp và cơ quan công an cấp địa phương trực tiếp xử phạt luật sư, bao gồm cả việc đình chỉ chứng chỉ hành nghề có thời hạn. Hơn nữa, Nghị định dựa trên các hành vi vi phạm được quy định một cách mơ hồ và thiếu rõ ràng liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của luật sư, như các hành vi “xúc phạm danh dự” cơ quan công quyền, “ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín” của nghề luật sư hoặc “xúi giục” khiếu nại trái pháp luật.
Đe dọa, can thiệp bất chính và hạn chế quyền tự do biểu đạt
Sự thiếu minh xác trong các quy định này tạo ra nguy cơ rất lớn về việc diễn giải tùy tiện và áp dụng có chọn lọc, đặc biệt đối với các luật sư tham gia các vụ án nhạy cảm về chính trị liên quan đến nhân quyền, tranh chấp đất đai, môi trường, chống tham nhũng hoặc chỉ trích cơ quan công quyền. Tổ chức Lawyers for Lawyers quan ngại rằng Nghị định này tạo ra nguy cơ nghiêm trọng về việc đe dọa, áp dụng tùy tiện và can thiệp bất chính vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Theo Nghị định, những hành vi thuộc phạm vi hoạt động đại diện pháp lý thông thường — bao gồm phát biểu tại tòa, bình luận pháp lý công khai hoặc hỗ trợ thân chủ thực hiện khiếu nại đối với cơ quan công quyền — có thể bị quy kết thành hành vi vi phạm hành chính.
Điều này tạo ra hiệu ứng răn đe nghiêm trọng đối với toàn bộ giới luật sư và có nguy cơ thúc đẩy tình trạng tự kiểm duyệt trong hoạt động nghề nghiệp, đặc biệt đối với những luật sư đại diện cho các thân chủ nhạy cảm về chính trị hoặc tham gia các vụ việc liên quan đến nhân quyền. Mối quan ngại này đặc biệt nghiêm trọng trong các tranh chấp có liên quan đến chính quyền địa phương. Việc trao quyền cho chính quyền hành pháp và công an cấp địa phương đình chỉ giấy phép hành nghề khiến luật sư phải chịu sự giám sát của chính những cơ quan mà họ có thể phải đối đầu trước tòa án, tạo ra xung đột lợi ích mang tính cấu trúc và làm suy yếu tính độc lập nghề nghiệp.
Do đó, các quy định này dường như không tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế bảo đảm rằng luật sư phải được phép thực hiện chức năng nghề nghiệp của mình mà không bị đe dọa, sách nhiễu hoặc can thiệp bất chính, bao gồm cả Các Nguyên tắc Cơ bản của Liên Hiệp Quốc về Vai trò của Luật sư.
Nguyên tắc bảo mật quan hệ luật sư – thân chủ và nguyên tắc không đồng nhất luật sư với thân chủ
Nghị định này cũng có nguy cơ làm suy yếu các bảo đảm căn bản bảo vệ mối quan hệ giữa luật sư và thân chủ, bao gồm nguyên tắc bảo mật thông tin giữa luật sư và thân chủ, cũng như nguyên tắc rằng luật sư không bị đồng nhất với thân chủ hoặc với các quan điểm, mục tiêu hay vụ việc của thân chủ mà họ đại diện.
Đặc biệt đáng lo ngại là các quy định cho phép tịch thu tang vật, phương tiện bị cho là được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trên thực tế, các biện pháp này có thể trở thành cái cớ để cơ quan công quyền kiểm tra hồ sơ của tổ chức hành nghề luật sư, can thiệp vào chiến lược bào chữa hoặc giám sát các trao đổi mang tính bảo mật giữa luật sư và thân chủ.
Nghị định này cũng làm dấy lên quan ngại khi đặt ra chế tài đối với luật sư với cáo buộc “xúi giục” thân chủ khiếu nại, tham gia biểu tình hoặc phản đối các hành động của nhà nước. Những quy định như vậy có nguy cơ quy trách nhiệm cho luật sư đối với các hành vi, quan điểm hoặc lập trường chính trị của chính thân chủ mà họ đại diện.
Sự xói mòn tính độc lập và quyền tự quản nghề nghiệp
Một quan ngại lớn khác là việc chuyển giao thẩm quyền kỷ luật ra khỏi các tổ chức nghề nghiệp pháp lý và trao cho chính quyền hành pháp cùng cơ quan công an cấp xã. Bằng việc trao quyền xử phạt rộng lớn cho các cơ quan địa phương, Nghị định này đang đẩy hoạt động giám sát nghề luật sư ngày càng nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhánh hành pháp.
Nghị định cũng đặt ra hàng loạt nghĩa vụ báo cáo và giám sát đối với hoạt động quản trị, hoạt động chuyên môn và chức năng đào tạo của các đoàn luật sư. Sự gia tăng kiểm soát hành chính này có nguy cơ làm suy yếu tính độc lập về thể chế của các đoàn luật sư và hạn chế khả năng hoạt động như những tổ chức nghề nghiệp tự quản, có khả năng độc lập điều tiết và bảo vệ nghề luật sư.
Những diễn biến này dường như khó có thể dung hòa với các tiêu chuẩn quốc tế vốn thừa nhận tầm quan trọng của cơ chế tự quản nghề nghiệp và vai trò của các đoàn luật sư độc lập trong việc bảo vệ tính liêm chính nghề nghiệp cũng như bảo vệ luật sư khỏi sự can thiệp bất chính.
Bối cảnh sách nhiễu có hệ thống đối với giới luật sư tại Việt Nam
Nghị định này cần được nhìn nhận trong bối cảnh rộng lớn hơn của những hạn chế kéo dài đối với tính độc lập của giới luật sư và nền tư pháp tại Việt Nam. Trong nhiều năm qua, các luật sư đại diện cho những người bất đồng chính kiến, nhà báo, nhà bảo vệ nhân quyền, cộng đồng tôn giáo thiểu số, nhà hoạt động về quyền đất đai và các thân chủ nhạy cảm về chính trị khác đã thường xuyên bị sách nhiễu, đe dọa, theo dõi, xử lý kỷ luật, bắt giữ tùy tiện và truy tố hình sự. Điều này đã tạo ra hiệu ứng răn đe nghiêm trọng, khiến chỉ còn một số rất ít luật sư tại Việt Nam sẵn sàng tham gia các vụ việc như vậy.
Ngoài ra, các diễn biến pháp lý và chính sách gần đây cũng cho thấy xu hướng ngày càng gia tăng việc tập trung quyền kiểm soát nghề luật sư vào nhánh hành pháp. Những diễn biến đó bao gồm Nghị định 121/2025 chuyển giao thẩm quyền cấp phép hành nghề luật sư cho chính quyền cấp tỉnh; các đề xuất hình sự hóa luật sư nếu không tố giác thân chủ bị cho là đang chuẩn bị phạm tội; và việc xây dựng mô hình thí điểm “luật sư công”, theo đó sĩ quan công an, quân đội và các nhân sự gắn với nhà nước có thể hành nghề luật sư trong một cơ chế riêng biệt.
Lời kêu gọi hành động
Trước những quan ngại nêu trên, tổ chức Lawyers for Lawyers đã chia sẻ quan điểm của mình với các bên liên quan, kêu gọi họ thúc giục Chính phủ Việt Nam hủy bỏ hoặc sửa đổi căn bản Nghị định 109/2026, đồng thời bảo đảm rằng luật sư có thể thực hiện chức năng nghề nghiệp của mình mà không bị đe dọa, sách nhiễu, trả đũa hoặc lo sợ bị can thiệp.
Lawyers For Lawyers
Nguồn: Concerns over Decree 109/26 threatening the independence of lawyers in Viet Nam
VNTB (16.05.2026)
Đại Sứ Julie Turner kêu gọi tiếp tục công cuộc đấu tranh cho tự do và nhân phẩm tại Việt Nam
Phát biểu của Đại Sứ Julie Turner, Quyền Phó Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao phụ trách Vụ Dân chủ, Nhân quyền và Lao động tại Lễ Tưởng niệm Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam lần thứ 32. Bà Turner tập trung vào mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những thách thức nghiêm trọng về nhân quyền ở Việt Nam.
- Tôn vinh Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại và Khẳng định Quan hệ
– Tôn vinh lòng can đảm phi thường của Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại trong việc đấu tranh cho nhân quyền, đồng thời nêu ví dụ về Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, một công dân Hoa Kỳ bị chính quyền Việt Nam kết án khiếm diện với cáo buộc khủng bố.
– Ghi nhận những thành tựu đáng kể của Việt Nam trong việc cải thiện đời sống người dân, như giảm nghèo, mở rộng giáo dục và y tế.
– Khẳng định Hoa Kỳ coi trọng mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam và sự hợp tác trong các lĩnh vực then chốt như khoáng sản chiến lược và an ninh năng lượng.
– Nhấn mạnh rằng chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ phải bắt rễ từ lợi ích quốc gia, và việc bảo vệ nhân quyền là trọng tâm của sứ mệnh đó.
- Ba Lĩnh Vực Nhân Quyền Đáng Quan Ngại
Bài phát biểu kêu gọi chính quyền Việt Nam cải thiện hồ sơ nhân quyền trong ba lĩnh vực then chốt:
2.1. Quyền Tự Do Ngôn Luận
– Hoa Kỳ quan ngại sâu sắc về việc chính quyền tiếp tục hạn chế quyền tự do ngôn luận một cách tàn nhẫn, duy trì kiểm soát chặt chẽ không gian mạng và gây khó khăn cho việc tường trình về nhân quyền trực tuyến.
– Chính quyền đã lợi dụng luật an ninh mạng để kiểm duyệt, buộc các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông gỡ bỏ nội dung, tấn công các trang mạng chỉ trích chế độ, và tiến hành theo dõi các blogger bất đồng chính kiến.
– Ký giả và người dân thường dám nói lên sự thật phải đối mặt với sách nhiễu, giam giữ và tù đày.
– Đặc biệt quan ngại về sức khỏe của nhà báo độc lập Lê Hữu Minh Tuấn và thúc giục ban cho ông sự cứu xét nhân đạo.
– Lên án các dự luật sắp tới, như dự luật của Bộ Công an về siết chặt ngôn luận trên mạng (tăng tiền phạt gấp 10 lần, hình phạt hình sự cho nội dung AI) và dự luật tin giả, có khả năng buộc các nhà cung cấp dịch vụ sàng lọc nội dung và chia sẻ dữ liệu người dùng mà không qua quy trình pháp lý minh bạch.
– Những chính sách này không chỉ gây hại cho công dân Việt Nam mà còn trói buộc các công ty công nghệ Hoa Kỳ.
– Hoa Kỳ thúc giục Việt Nam trả tự do cho tất cả những ai bị giam cầm oan sai vì thực thi quyền tự do ngôn luận.
2.2. Quyền Tự Do Tôn Giáo hay Tín Ngưỡng
– Việt Nam đã nằm trong Danh sách Theo dõi Đặc biệt của Hoa Kỳ về những vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng từ năm 2022.
– Chính quyền duy trì kiểm soát gắt gao đối với các sinh hoạt tôn giáo, sử dụng các điều khoản luật mơ hồ nhân danh an ninh quốc gia để hạn chế việc thực hành tôn giáo.
– Các tín hữu thuộc các cộng đồng như Cơ Đốc giáo và Phật giáo ngoài cơ sở nhà nước kiểm soát phải đối diện với sự giám sát, sách nhiễu, đóng cửa cơ sở thờ tự, và lãnh đạo bị bỏ tù, buộc họ phải từ bỏ đức tin.
– Hoa Kỳ tái khẳng định cam kết đối với tự do tôn giáo và kêu gọi Việt Nam đảm bảo mọi cá nhân được thực hành tín ngưỡng mà không sợ bị trả thù.
2.3. Chấm dứt các Hoạt Động Đàn Áp Xuyên Quốc Gia (TNR)
– Việc chính quyền vươn tay ra ngoài biên giới để bịt miệng người bất đồng chính kiến và đe dọa cộng đồng hải ngoại là điều đặc biệt đáng quan ngại.
– Các thủ đoạn leo thang bao gồm xét xử khiếm diện và ban hành Lệnh Truy nã Đỏ của Interpol nhằm cản trở việc đi lại của công dân Hoa Kỳ và nhà hoạt động. Các thủ đoạn khác bao gồm thu hồi sổ thông hành, theo dõi, đe dọa, bắt cóc, và uy hiếp gia đình còn ở Việt Nam.
– Hoa Kỳ khẳng định sẽ không dung thứ cho những nỗ lực của các chính quyền ngoại quốc nhằm đe dọa những người đang sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ và sẽ bảo vệ quyền lợi của công dân và cư dân Hoa Kỳ được tự do lên tiếng.
- Kết Luận
Kêu gọi tiếp tục công cuộc đấu tranh cho tự do và nhân phẩm cho đến khi mọi người dân tại Việt Nam có thể sống trong tự do và nhân phẩm.
* * * * *
Toàn văn bài phát biểu của Đại Sứ Julie Turner – Quyền Phó Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, phụ trách Vụ Dân chủ, Nhân quyền và Lao động
Kính thưa quý vị,
Xin trân trọng kính chào tất cả quý vị. Cảm ơn quý vị đã cho tôi cơ hội được lên tiếng hôm nay tại Lễ Tưởng niệm Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam lần thứ 32. Tôi xin dành một khoảnh khắc để tri ân ban tổ chức đã quy tụ chúng ta tại đây trong suốt ba thập niên qua. Tôi cũng xin gửi lời chào trân trọng đến vị điều hợp viên đáng kính và các diễn giả đã chia sẻ những lời chứng hùng hồn với chúng ta hôm nay, cùng Dân biểu Brian Fitzpatrick và Dân biểu Derek Trần đã đồng bảo trợ cho buổi lễ tưởng niệm năm nay.
Xin cảm tạ tất cả quý vị.
Kính thưa các bạn, quý đồng sự và quý thành viên trong Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại,
Thật là một vinh dự khi được đứng trước quý vị ngày hôm nay. Quý vị đã thể hiện lòng can đảm phi thường trên hành trình tìm kiếm tự do, và quý vị vẫn đang tiếp tục là những tiếng nói dõng dạc đấu tranh cho nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Nhiều người có mặt trong hội trường này đang dấn thân làm việc bất chấp những hiểm nguy cho chính bản thân. Trong số đó có người bạn lâu năm của chúng ta, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, một công dân Hoa Kỳ đã bị nhà cầm quyền Việt Nam kết án khiếm diện với cáo buộc khủng bố. Sự kiên cường và lòng sắt son đối với tự do và nhân phẩm của quý vị thật đáng khâm phục. Quý vị nhắc nhở chúng tôi lý do tại sao Hoa Kỳ phải đứng lên bảo vệ những người đang khao khát tự do.
Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện đời sống người dân, bao gồm việc giảm nghèo, mở rộng quyền tiếp cận giáo dục và cải thiện y tế. Những thành tựu này đều đáng được ghi nhận.
Ngoại trưởng Rubio đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thắt chặt hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực then chốt như khoáng sản chiến lược và an ninh năng lượng, cũng như bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ của Việt Nam với tư cách là thành viên sáng lập của Hội đồng Hòa bình. Hoa Kỳ cũng coi trọng mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam.
Tuy nhiên, một mối quan hệ vững chắc phải được xây dựng trên sự trung thực, và chúng ta phải thành thực về những thách thức nhân quyền nghiêm trọng vẫn đang tồn tại ở Việt Nam. Tình bằng hữu thực sự đòi hỏi sự ngay thẳng, và Hoa Kỳ sẽ luôn lên tiếng rõ ràng về những mối quan ngại của chúng ta khi các quyền tự do căn bản bị đe dọa. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Trump và sự chỉ đạo của Ngoại trưởng Rubio, Hoa Kỳ đã tái khẳng định cam kết bảo vệ các quyền tự do căn bản trên toàn cầu. Như Ngoại trưởng Rubio đã nhấn mạnh trong bài phát biểu trước báo giới vào tháng 12 năm 2025, chính sách ngoại giao cần phải bắt rễ từ lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, và việc bảo vệ nhân quyền là trọng tâm của sứ mệnh đó (chúng tôi nhấn mạnh).
Hồ sơ nhân quyền của Việt Nam là một điều vô cùng đáng quan ngại và chúng tôi mong muốn nhà cầm quyền phải có những cải thiện trong ba lãnh vực then chốt: quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, và chấm dứt các hoạt động đàn áp xuyên quốc gia.
Chúng tôi vô cùng lo ngại trước việc nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận một cách tàn nhẫn, và họ đang chuẩn bị làm cho môi trường vốn dĩ hà khắc này trở nên tồi tệ hơn. Nhà cầm quyền duy trì sự kìm kẹp chặt chẽ đối với các không gian mạng, khiến các cá nhân và tổ chức ngày càng khó khăn hơn trong việc tường trình về tình trạng nhân quyền trên internet.
Họ đã lợi dụng luật an ninh mạng để mở rộng quyền hành, kiểm duyệt nội dung trực tuyến và ép buộc các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông phải theo dõi hoặc gỡ bỏ các nội dung bị quy kết là đe dọa an ninh quốc gia. Nhà cầm quyền cũng đã dàn dựng các cuộc tấn công nhắm vào các trang mạng bị coi là chỉ trích chế độ, tiến hành theo dõi các blogger bất đồng chính kiến, và hạn chế quyền truy cập vào các nền tảng mạng xã hội.
Các ký giả, các chức sắc tôn giáo, và ngay cả những người dân thường dám loan báo sự thật đều phải đối diện với sự sách nhiễu, giam giữ và tù đày dưới những điều khoản mơ hồ về an ninh quốc gia. Tôi đặc biệt quan ngại về sức khỏe và an nguy của nhà báo độc lập Lê Hữu Minh Tuấn, người có chị gái là công dân Hoa Kỳ. Chúng tôi thúc giục nhà cầm quyền Việt Nam ban cho ông sự cứu xét nhân đạo để ông có thể tìm kiếm sự chăm sóc y tế cần thiết.
Các dự luật sắp tới được cho là sẽ càng thúc đẩy sự tự kiểm duyệt nặng nề hơn. Đầu năm nay, Bộ Công an đã công bố một dự luật nhằm thắt chặt thêm quyền kiểm soát đối với ngôn luận trên mạng, áp đặt các khoản tiền phạt cao gấp 10 lần so với trước đây và đưa ra các hình phạt hình sự đối với các nội dung do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra. Chúng tôi cũng đặc biệt quan ngại về dự luật tin giả, vốn sẽ yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ internet và mạng xã hội phải chủ động sàng lọc nội dung và có khả năng phải chia sẻ dữ liệu người dùng mà không qua một quy trình pháp lý minh bạch nào.
Những chính sách hà khắc này không chỉ gây hại cho công dân Việt Nam, mà còn trói buộc các công ty và tiếng nói của Hoa Kỳ. Những luật lệ an ninh mạng và quy định kiểm duyệt nội dung ngặt nghèo buộc các công ty công nghệ Hoa Kỳ phải tuân thủ yêu cầu kiểm duyệt, nếu không sẽ đối diện với nguy cơ bị cấm cửa tại thị trường Việt Nam. Những chính sách này bóp nghẹt sự đổi mới. Chúng ngăn cản sự lưu thông tự do của thông tin và phá hoại quyền tự do internet vốn là yếu tố cốt lõi để thành công trong Thế kỷ 21. Nhà cầm quyền cũng đã công bố kế hoạch chuyển giao các chức năng trọng yếu về kinh tế số và không gian mạng cho Bộ Công an, nhằm củng cố thêm ách cai trị.
Chính phủ Hoa Kỳ đương nhiệm tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của tự do ngôn luận. Chúng tôi đã hành động để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của người dân Hoa Kỳ cả ở trong nước lẫn hải ngoại. Và chúng tôi sẽ tiếp tục tranh đấu cho quyền tự do căn bản này cho mọi người ở khắp mọi nơi, kể cả tại Việt Nam. Chúng tôi thúc giục nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho tất cả những ai đang bị giam cầm oan sai chỉ vì thực thi quyền tự do ngôn luận (chúng tôi nhấn mạnh), để đáp ứng các nghĩa vụ quốc tế của họ, bao gồm việc bảo vệ tự do ngôn luận và tháo gỡ các sự kìm kẹp phi lý đối với báo chí và các nền tảng trực tuyến.
Tự do tôn giáo cũng là một mối quan ngại lớn đối với Hoa Kỳ tại Việt Nam. Việt Nam đã nằm trong Danh sách Theo dõi Đặc biệt của Hoa Kỳ về những vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng kể từ năm 2022.
Nhà cầm quyền Việt Nam duy trì sự kiểm soát gắt gao đối với các sinh hoạt tôn giáo, và luật pháp của họ bao gồm những điều khoản mơ hồ nhằm hạn chế việc thực hành tự do tôn giáo nhân danh an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội. Bản Phúc trình Thường niên năm 2026 của Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) đã nêu bật một số trường hợp giới chức Việt Nam đe dọa, sách nhiễu và giam giữ những người đấu tranh cho tự do tôn giáo.
Các tín hữu của các cộng đồng tôn giáo, bao gồm Cơ Đốc giáo, Phật giáo, và những người thực hành đức tin ngoài các cơ sở do nhà nước kiểm soát, đang phải đối diện với sự giám sát và sách nhiễu liên tục từ giới chức địa phương và trung ương. Trong một số trường hợp, các cơ sở thờ tự bị đóng cửa. Các vị lãnh đạo tinh thần bị bỏ tù. Các tín đồ thường xuyên bị ép buộc phải từ bỏ đức tin nếu không sẽ bị bắt giữ, buộc họ phải lựa chọn giữa đức tin hay quyền tự do của chính mình.
Hoa Kỳ tái khẳng định cam kết đối với tự do tôn giáo như một quyền bất khả xâm phạm. Chúng tôi tin rằng đức tin là yếu tố thiết yếu cho sự thăng hoa của con người và một xã hội tự do, và chúng tôi sẽ tiếp tục sát cánh cùng những ai đang phải đối diện với sự bức hại vì đức tin của họ (chúng tôi nhấn mạnh). Chúng tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam thực hiện các bước đi nhằm giải quyết các mối quan ngại của chúng tôi về nhân quyền và bảo đảm mọi cá nhân được thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng của mình mà không phải lo sợ bị trả thù.
Cuối cùng, việc nhà cầm quyền sẵn sàng vươn bàn tay nối dài ra ngoài biên giới để bịt miệng những người bất đồng chính kiến và đe dọa các cộng đồng hải ngoại là một điều đặc biệt đáng quan ngại. Việc sử dụng bạo lực đàn áp bên ngoài lãnh thổ, thường được gọi là đàn áp xuyên quốc gia hay TNR, đã vi phạm chủ quyền của các quốc gia khác và là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được.
Giới chức Việt Nam đang leo thang việc sử dụng TNR thông qua các phiên tòa xét xử khiếm diện chớp nhoáng và việc ban hành Lệnh Truy nã Đỏ của Interpol nhằm cản trở việc đi lại của các công dân Hoa Kỳ cũng như các nhà hoạt động nhân quyền và tự do tôn giáo ở hải ngoại. Các thủ đoạn bao gồm thu hồi sổ thông hành, theo dõi, đe dọa, bắt cóc, và uy hiếp gia đình còn ở lại Việt Nam. Cũng có những báo cáo về các trường hợp các nhà hoạt động bị cưỡng bách hồi hương hoặc bị trục xuất từ các quốc gia khác theo yêu cầu của nhà cầm quyền Việt Nam, để rồi sau đó bị tống giam tại Việt Nam.
Tôi biết nhiều vị có mặt tại đây đã từng chia sẻ những trải nghiệm kinh hoàng và đã chứng kiến những hậu quả tiêu cực sâu rộng của TNR trong chính cuộc sống của quý vị, của các đồng sự và người thân trong gia đình. Xin để tôi nói rõ: Hoa Kỳ sẽ không dung thứ cho những nỗ lực của các chính quyền ngoại quốc nhằm đe dọa, sách nhiễu hoặc uy hiếp những người đang sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ bảo vệ quyền lợi của công dân Hoa Kỳ và cư dân của chúng tôi được tự do lên tiếng, được vận động cho sự thay đổi, và được sống mà không phải lo sợ sự trả thù từ các chế độ độc tài (chúng tôi nhấn mạnh).
Cuối cùng, trong khi chúng ta tưởng niệm Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam, chúng ta vinh danh những người đã chịu nhiều đau khổ vì đức tin của mình, những người vẫn đang chịu cảnh lao tù vì dám nói lên sự thật, và những người đang tiếp tục công cuộc đấu tranh cho tự do trên toàn cầu. Chúng tôi sát cánh cùng quý vị. Cảm ơn quý vị vì lòng can đảm, sự kiên cường và cam kết sắt đá đối với nhân quyền.
Cùng nhau, chúng ta sẽ tiếp tục công cuộc sinh tử này cho đến khi mọi người dân tại Việt Nam có thể được sống trong tự do và nhân phẩm (chúng tôi nhấn mạnh).
Xin trân trọng cảm ơn quý vị.
Julie Turner – Quyền Phó Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, phụ trách Vụ Dân chủ, Nhân quyền và Lao động
(16.05.2026)