Mục lục
MIÊN MAN “KÝ ỨC SÀI GÒN”
Trong bài viết “Ký Ức Sài Gòn” dài tới 50 trang sách in trong cuốn Phiếm 35, tôi tưởng đã xong cho một Sài Gòn mất tên 50 năm trước. Nhưng, như đã “tiên tri” trong bài, “Ký Ức Sài Gòn” thì miên man chẳng bao giờ đủ, nay lại phải viết thêm.
Ngày Sài Gòn bị cưỡng chiếm, tôi đã nhắc lại một bài viết của nhà văn Dương Thu Hương khi vào Sài Gòn ngay trong ngày tang Sài Gòn đó. Bà đã khóc khi thấy sách của các nhà văn nhà thơ Sài Gòn được xuất bản tự do; TV, radio, cassette, những thứ chỉ có trong mơ của dân miền Bắc, đầy rẫy khắp nơi.

Một người tên tuổi khác, ca sĩ Ái vân, khi Sài Gòn thất thủ cô mới 19 tuổi, đang là sinh viên năm thứ 2 khoa Thanh Nhạc của Nhạc Viện Hà Nội, sau một hành trình dài từ Hà Nội, đã vào tới Sài Gòn đúng vào ngày đầu Sài Gòn thất thủ . Cô kể lại trong cuốn hồi ký “Để Gió Cuốn Đi”: “Ngày đẹp trời, chú Nguyễn Văn Thương nhắn tôi lên phòng giám hiệu. Thầy nói: “Bên Đài Truyền hình cần bổ sung xướng ngôn viên để vào tiếp quản Sài Gòn vì bên ấy thiếu người quá. Ông Tố Hữu đề nghị chọn Ái Vân”. Tôi sướng mê đi… Được vào Nam, lại được làm xướng ngôn viên (miền Bắc gọi là phát thanh viên) cho Đài Truyền hình Sài Gòn những ngày đầu tiên của hòa bình, còn vinh dự nào hơn. Tôi có hai, ba ngày chuẩn bị, tíu tít người hỏi thăm, người gửi người nhà cái này, người nhờ mua cái kia, rộn ràng còn hơn lần đầu đi nước ngoài”.

Sáng sớm ngày 29/4/1975, chuyến xe chở hai mươi người khởi hành từ Hà Nội vội vã vào Nam. Trưa ngày 2/5, xe tới của ngõ Sài Gòn, qua Xuân Lộc vào Xa Lộ Biên Hòa. “Mọi người nói với nhau: “Sài Gòn rồi!… Sài Gòn đó kìa!”. Đường vào Thành phố rộng thênh thang, phẳng lì. Lại xuýt xoa thì thầm: “Như đường của Tây”. Không thấy cờ hoa chào đón, chỉ thấy vẻ tiêu điều trên thành phố tráng lệ trước đây. Lại vẫn quần áo, mũ, giày, thắt lưng lính rải đầy đường… Nhiều hơn cả là vỏ đạn, đường Hồng Thập Tự đầy vỏ đạn. Dấu vết chiến tranh hằn rõ trên mặt phố. Chiều 2/5, chiếc xe của Đài Phát Thanh, Truyền hình từ từ lăn bánh tiến vào Đài Truyền hình Thành phố Sài Gòn. Ngày 30/4 đến với những người trên chuyến xe ấy, chắc hẳn hoàn toàn khác với hình dung của tất cả mọi người. Im lặng, im lặng và im lặng”. Lần đầu tiên ra phố, cô thấy ngợp. “Ở Hà Nội nhỏ bé xinh xinh, vào Sài Gòn thấy ngợp. Ra chợ Bến Thành thấy người dân khác hẳn. Lúc đó người Sài Gòn không dám ăn diện như trước, nhưng vẫn thấy sự khá giả trên những bộ đồ họ mặc. Họ đón nhận mình với thái độ vui mừng một cách gượng gạo, có phần nghi ngại. Dân Sài Gòn thấy ai từ Bắc vào đều gọi là bộ đội. “Bộ đội” truyền hình ca nhạc cô nào cũng coi được, mấy bà mấy cô cứ xúm lại mấy chị em xuýt xoa: ‘Bộ đội mà sao da trắng bóc hà?’”.

Sài Gòn ngổn ngang quân trang vứt bỏ.
“Sự cố” đầu tiên xảy ra khi cô ra chợ Bến Thành mua vài thứ lặt vặt. Cô trả bằng tiền miền Bắc. “Cô bán hàng tính ra 1 đồng ăn 1.000 đồng tiền Sài Gòn, cả chợ ồ lên nói: “Trời, tiền ngoài Bắc còn giá trị hơn tiền dollar à”. Cô bán hàng nói: “Em chờ chút để qua đổi tiền thối nha”. Tưởng chị chê tiền của tôi thối (mùi hôi), tôi cãi: “Không, tiền em không thối đâu ạ”. Chị bán hàng lại tưởng tôi không cần thối lại, nói: “Đâu được, để qua đổi tiền khác thối lại em”. – “Dạ không, đã bảo tiền em mới, giữ cẩn thận lắm, không thối đâu ạ”. Hai bên cứ “thối” với “không thối” suýt cãi nhau, mãi sau nhờ có người giải thích tôi mới ớ ra “thối” là trả lại tiền thừa. Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ ngụy kìm kẹp” khổ lắm, rất cần sự giúp đỡ từ miền Bắc, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi ni lông đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc”.
Cô tới thăm nhà họ hàng ở Sài Gòn và gặp thêm một cú sốc khác. “Theo địa chỉ ba cho từ ngoài Bắc, tôi tìm đến nhà cô Hà Thị Tuyết, ở nhà gọi là cô Cả, là chị lớn của ba. Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Con dâu trưởng của cô Cả hỏi: “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?”. Tôi trịnh trọng vừa mở bọc ni lông vừa nói: “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần”. Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả: “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em”. Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có ở bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy, dù là nhà ông Thủ tướng”.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập ( Bọ Lập) trong bài viết “Sài Gòn Giải Phóng Tôi”, nói về cuộc đoàn tụ của gia đình. “Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kỳ ».

Chưa thấy Sài Gòn mặt mũi ra sao nhưng ông đã ngửi thấy mùi Sài Gòn qua ba thứ mà bạn của Bọ Lập, con của nhà thơ Viễn Phương được bố gửi từ Sài Gòn ra cho. Đó là: bút bi, mì tôm và cassette. Đồ Sài Gòn làm ngây ngất đám thanh niên ngoài Bắc. Chiếc bút bi, còn gọi là bút nguyên tử, bấm tách một cái, đầu bút nhô ra, mực ra đều tăm tắp mà không phải chấm mực. Cả bọn há hốc mồm không tin là Sài Gòn lại có cái bút tài tình đến thế! Thằng bạn tên Minh bóc gói mì tôm, thả vào bát nước sôi, mùi thơm lạ lùng bốc lên làm cả bọn chảy nước miếng. Tới cái cassette thì Bọ Lập sốc. Năm 1973, tại quê của Bọ, một người đi du học bên Đông Đức mang về cái máy cassette. Cả làng say sưa nói vào máy rồi bật nghe lại. Phải mất mấy ngày mới hết lượt. Bọ Lập cũng nói và nghe lại tiếng nói của ông. Không ngờ tiếng nói của mình lại tệ đến thế. Khi nghe giọng hát Khánh Ly trong băng Sơn Ca 7 bằng chiếc máy cassette Sài Gòn, “thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi”.
Rồi cũng tới ngày Bọ Lập được vô Sài Gòn. Vào tháng 8 năm 1976. Xe chạy ba ngày ba đêm. “Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lý. Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt”.
Khám phá Sài Gòn, Bọ Lập đi uống cà phê. Lại…sửng sốt! “Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt ».
Nhưng với con người ham mê sách vở, Sài Gòn đã thực sự “giải phóng” anh giai Hà Nội. “Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình Trí Thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn. Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng”.
Sài Gòn như một thế giới khác dưới con mắt của ca sĩ Ái Vân và nhà văn Nguyễn Quang Lập. Tất cả họ đã thấm thía sự tuyên truyền dối trá của nhà cầm quyền cộng sản miền Bắc. Ngày miền Bắc rêu rao giải phóng miền Nam là ngày dân miền Bắc được “giải phóng” khỏi sự mê hoặc trí trá của những người cộng sản.

Rồi mai sẽ ra sao?
Những người phải tức tưởi rời xa Sài Gòn vào những ngày chộn rộn đó là những quân nhân viên chức của bên thua cuộc. Họ là những sĩ quan trong quân đội, những viên chức có chức vụ chỉ huy trong các cấp chính quyền cũ. Thông báo trình diện tập trung cải tạo là mang theo lương thực, thuốc men, tiền bạc đủ cho 10 ngày hay một tháng tùy cấp bậc. Ai cũng nghĩ đó là thời gian phải xa Sài Gòn. Thôi thì thí cô hồn đi trình diện học tập cho xong chuyện rồi trở về an tâm tìm cách sống còn trong chế đội mới. Nhưng những con người ngây thơ này đã bị dính một quả lừa thế kỷ. Khi tới hạn kỳ, chẳng một ai được thả về, những người chiến thắng mới bẻ cong nói là thông báo chỉ nói mang những thứ cần thiết chi dùng cho một tháng trước khi chính phủ có đủ thời gian lo toan sau đó. Đã ở bên thất thế thì chỉ biết “ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Huy Đức viết trong cuốn Bên Thắng Cuộc: “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn một triệu người thuộc diện phải ra trình diện. Riêng ở Sài Gòn có 443,360 người ra trình diện, trong số đó có 28 viên tướng; 362 đại tá; 1,806 trung tá; 3,978 thiếu tá; 39,304 sĩ quan cấp uý; 35,564 cảnh sát; 1,932 nhân viên tình báo; 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9,306 người trong các ‘đảng phái phản động’.”.
Tôi là một trong số 1469 viên chức Sài Gòn khăn gói quả mướp đi học tập cải tạo dài hạn. Địa điểm học tập là Làng Cô Nhi Long Thành xưa. Trại được chia thành 4 khối : khối “ngụy quyền”, khối Đảng Phái, khối Tình Báo và khối Cảnh Sát cấp Tá. “Bạn tù” của tôi có các khuôn mặt quen thuộc như Trần văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh, Trần Minh Tiết, Nguyễn Bá Lương, Lưu văn Tính, Nguyễn Xuân Phong…Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là “sếp” của tôi trong ban Trang Trí của Trại, Đại sứ Phạm Trọng Nhân và Sứ Thần Ngoại Giao Nguyễn Cao Quyền là bạn nằm cạnh chiếu của tôi. Năm 1976, một số lớn bị đưa ra Bắc trong hai đợt mà tù nhân gọi là “Bao Bố 1” và “Bao Bố 2”. Tại miền Bắc họ bị đầy đọa tàn ác. Nhiều người đã bỏ mình ngay trong các trại học tập. Nhiều người bị giam cầm tới 17 năm.

Là một sĩ quan biệt phái và là Luật sư của Phủ Tổng Thống, Khuất Duy Trác đi tù cải tạo 6 năm, từ 1975 tới 1981. Là một ca sĩ bị coi là “biệt kích văn hóa”, ông đi tù lần thứ hai, 4 năm, từ 1984 tới 1988. Người tù họ Khuất không phải là người tù bị khuất phục. Trước đây, ca sĩ Duy Trác không bao giờ hát trước công chúng, không trên truyền hình, không tại các đại nhạc hội cũng như không tại các phòng trà, được nhà văn Duyên Anh gọi là “chàng ca sĩ cấm cung”. Nhưng vào dịp tết năm 1978, anh đã hiên ngang đứng hát bài “Ly Rượu Mừng” trước cả ngàn tù nhân. Người thuộc lời cất tiếng hát theo, người không thuộc thì vỗ tay giữ nhịp. Cả người hát lẫn người nghe đều chan hòa nước mắt. Ông đã phải trả bằng một cái giá rất đắt. Còng chân biệt giam hàng năm trời. Nhưng ông vẫn đủ thích thú để cho biết khi nào gặp Phạm Đình Chương sẽ kể cho tác giả bài hát nghe chuyện hy hữu này. Sau này ông đi theo diện HO sang Mỹ nhưng quá trễ cho cái hẹn. Phạm Đình Chương không còn nữa!

Trong một lần đội của ông đi lao động, một cô gái từ Sài Gòn đi thăm người thân đi ngang qua, nhửng người tù Sài Gòn đang phải xa Sài Gòn hỏi Sài Gòn giờ có gì vui không? Cô gái trả lời: “Sài Gòn chỉ vui khi các anh về!”. Duy Trác, một ca sĩ hầu như không viết nhạc, đã thấm câu trả lời và sáng tác bài “Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về”. “Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ / Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố / Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời / Sài Gòn có vui? Sài Gòn có vui? / Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ / Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ / Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ / Sài Gòn chỉ vui khi các anh về”.
Tôi may mắn được thả về vào dịp Tết Bính Thìn 1976, trước khi các bạn tù bị đưa ra Bắc. Đúng là may mắn vì tới bây giờ tôi vẫn hoàn toàn không biết vì sao mình được ra tù. Cứ như trúng số độc đắc cặp mười. Khi xe chở chúng tôi về chạy ngang qua chợ Bến Thành để đổ tù được tha xuống vườn Tao Đàn, dân Sài Gòn lũ lượt chạy theo đoàn xe, những người bán dạo đưa tặng chúng tôi tất cả hàng hóa đang có. Những câu hỏi: từ đâu về, tại sao được về sớm, chừng nào những người còn lại được về…tíu tít bên tai. Cả người được hỏi lẫn người đặt câu hỏi chẳng ai trả lời được. Nhưng đó là sự quan tâm của người dân Sài Gòn đối với những người Sài Gòn chẳng may đang bị giam cầm. Mừng đó nhưng cũng tủi đó. Biết sao được khi tất cả chúng tôi đều là những kẻ bại trận đang quờ quạng trong đêm tối trời. Tôi ra cổng phía đường Hồng Thập Tự, một anh chạy xe ôm còn trẻ mời lên xe. Về tới nhà tại Thị Nghè, tôi nói anh chờ tôi vào nhà lấy tiền ra trả. Anh gạt đi: “Tiền nong chi! Các thầy về là chúng em mừng rồi!”. Tôi không cầm được nước mắt trước lòng dạ của người Sài Gòn!
10/2026
Website : www.songthao.com
VỀ CÁI GỌI LÀ ” THÀNH PHẦN TRUNG LẬP HAY THỨ BA” TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC NGÀY 30/04/1975
——-///——-
Khánh Hưng
Thành phần Thứ ba là những ai thời VNCH?
1. Tôi có một người chú bà con, có học nhất, có tư cách nhất, và được tôn trọng nhất trong dòng họ. Trước năm 1975, ông ấy là một LM Công giáo trẻ, là hiệu trưởng của một trường trung học, và có chân trong nhiều tổ chức xã hội có tiếng. Có thể nói, thời ấy, ông có đầy đủ, danh dự, quyền hành, và cả vật chất. Các tổ chức nhân đạo phi chính phủ cấp cho ông kinh phí một cách hào phóng để xây trường học và các cơ sở xã hội mà ông muốn. Ông có đủ các loại xe và phương tiện để phục vụ cho công việc của ông.
Các viên chức chính quyền miền Nam từ quận trưởng, tỉnh trưởng cho đến những cấp cao hơn luôn tỏ ra kính trọng và cả sợ hãi chú tôi. Tôi đã từng chứng kiến một tỉnh trưởng nói với ông: “Xin cha nguôi giận tha cho con”, dù ông tỉnh trưởng này lớn hơn ông trên 10 tuổi. Thế nhưng ông là người thường xuyên tổ chức những cuộc biểu tình chống chính quyền miền Nam một cách quyết liệt. Tôi luôn nhớ cái khẩu hiệu của ông, “chính quyền miền Nam là một chính quyền tham nhũng, và thối nát.”
Ngày 30/4/1975, ông tỏ ra vui vẻ khi bộ đội giải phóng đến mượn trường học và nhà ở của ông làm nơi đóng quân tạm. Sau ba tháng, bộ đội dọn đi và họ dọn luôn toàn bộ cái tài sản công lẫn tư của ông. Họ không chỉ tháo tôn, khung gỗ, mà cạy luôn cả gạch móng của tất cả những trường học và cơ sở của ông. Tám tháng sau ngày miền Nam giải phóng, ông bị đưa đi “cải tạo” trong thời gian hai năm. Vậy mà, suốt ba mươi năm qua, tôi chưa hề thấy ông một lần dám cãi lại anh trưởng công an xã, một học trò của ông đã bỏ học từ năm lớp 7 để theo đám du côn trong vùng, và sau này thường xuyên bắt ông ngối viết kiểm điểm.
2. Hôm nay tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ bài “Sự Lựa Chọn Của Người Trí Thức”, nói về LS Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức nổi tiếng ở miền Nam đi theo CS và đã từng giữ chức Chủ tịch MTGPMN. LS Thọ là người gốc Công Giáo và hoàn toàn trưởng thành trong nền giáo dục Pháp. Ở miền Nam, ông đã có tất cả, từ địa vị, vật chất, danh dự, và sự kính trọng. Thế nhưng ông đã bỏ tất cả để đi theo cộng sản.

Sau năm 1975, gần như người ta không còn nghe đến tên ông. Tôi đã từng đến nhà ông ở đường Phạm Ngọc Thạch trong một dịp lễ đặc biệt, và đúng như lời đồn đãi, từ người gác cửa, lái xe, cho đến người y tá của ông, đều do cơ quan “bảo vệ nội bộ” của Đảng cung cấp. Người Sài Gòn kể rằng, trước lúc chết, ông có nguyện vọng được xưng tội với một linh mục. Vì mục đích nhân đạo, chính quyền đã đồng ý với điều kiện là người “thư ký” của ông phải đứng bên cạnh cuộc xưng tội giữa ông với ông linh mục nọ.
3. Thế hệ của tôi đã học chữ quốc ngữ qua dòng nhạc phản chiến đầy hào khí Lạc Hồng của Trịnh Công Sơn. Khi tôi vào đại học, được nghe lời truyền tụng về huyền thoại chống chiến tranh, được cho nhìn những tấm ảnh nhạc sĩ họ Trịnh ốm yếu, với đôi kiếng cận dày, ôm cây đàn ngạo nghễ hát trên một sân khấu phản chiến, giữa Trung tâm Sài Gòn với một “lực lượng cảnh sát và mật thám” dày đặc của một chính quyền Miên Nam “tay sai, tàn bạo, thối nát”; Vì thế, hơn cả sự ngưỡng mộ tài hoa của một nhạc sĩ, trong lòng tôi còn dành cho họ Trịnh sự kính trọng đối với một chí sĩ bất khuất trước cường quyền.
Nhưng sau này, khi đi làm và có cơ hội tiếp xúc với ông, tôi hoàn toàn thất vọng. Trịnh Công Sơn rất sợ bị công an “thăm hỏi”. Dù là một người xa lánh với những kẻ quyền lực, Trịnh công Sơn luôn treo tấm hình ông chụp chung với thủ tướng Võ Văn Kiệt ở phòng khách.

Ông đã nhiều lần bày tỏ với bạn bè một ý định ngây thơ và hết sức tội nghiệp là tấm ảnh đó có thể giúp ông tránh bị công an chụp mũ. Một nhạc sĩ hàng đầu của một dân tộc, từng hiên ngang công khai thách thức chính quyền miền Nam, đã trở nên hèn hạ đến mức phải dùng một tấm ảnh để đánh lừa nổi sợ hãi của chính mình.
Trước khi ông mất vài năm, tôi đã vài lần gặp ông trong các hội nghị tổng kết của một số cơ quan tổ chức văn hoá tại Sài Gòn. Trong tất cả các hội nghị đó, những hàng ghế danh dự được dành cho các cán bộ văn hoá, tuyên huấn kể cả cấp quận huyện. Những cán bộ này phát biểu, chúc tụng nhau nhưng không ai để ý đến ông. Ông ngồi lọt thỏm ở các hàng ghế sau với một vài người bạn. Tôi xin lỗi vong hồn ông để nói điều này: Cộng sản đã dành cho nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công sơn vị trí của một trong số hàng ngàn “CÔNG NHÂN SẢN XUẤT NHẠC…” không hơn không kém. Thân phận của ông trong hai mươi sáu năm sau 1975, chỉ trừ khi ông chết, còn kém hơn một cán bộ phòng văn hoá cấp quận.
4. Tôi đến Mỹ trễ sau khi miền Nam đã được “giải phóng” hơn 20 năm. Ở Mỹ, tôi có hai người bạn. Gọi là bạn nhưng họ đều lớn hơn tôi trên 10 tuổi, và cả hai là người miền Nam, đã đến Mỹ từ trước 30/4/1975. Cả hai đều có bằng tiến sĩ và đều có địa vị cao trong xã hội Mỹ. Hai người bạn tôi nằm trong số những người thường hay về Việt Nam và luôn ao ước cơ hội để giúp đỡ và phụng sự quê hương Việt Nam.
Điều đáng nói là, hai người bạn tôi luôn chỉ trích xã hội Mỹ, hệ thống chính trị Mỹ, và các chính trị gia Mỹ. Nói về bất cứ lĩnh vực nào, họ cũng đều tìm ra cái xấu, cái đáng phê phán của nước Mỹ. Ngược lại, dường như bạn tôi tỏ ra dễ dãi hơn đối với tình trạng ở Việt Nam và dường như không có ấn tượng gì lớn đối với tình trạng tham nhũng – thối nát trong xã hội cộng sản hiện nay. Có lần bạn tôi nói rằng, ông mới đến Mỹ mà sao ông chống cộng hơn tôi?
Vì sao? Tôi đã bỏ Việt Nam ra đi khi tôi ở lứa tuổi đã quá trễ để học một ngôn ngữ mới, để tạo lập một nghề nghiệp mới, để có một mối quan hệ xã hội mới, và để có thể làm quen với khí hậu ôn đới. Thế nhưng tôi đã phải ra đi vì tâm trí tôi không thể chịu đựng nỗi sự hành hạ của những điều bất công, thối nát, lừa dối, và tàn bạo đang xảy ra từng ngày xung quanh tôi.
– Một buổi sáng, tôi thấy anh xe ôm đầu ngỏ nhà tôi trên đường Lê Văn Sĩ, quận 3 dường như đang khóc. Tôi hỏi anh, và anh nói rằng chiếc xe honda cũ của anh đã bị công an thu giữ, không biết làm cách nào để xin lại. Lý do là vì xe honda ôm chỉ được chở 1 người khách nhưng hôm qua, anh đã chở một người khách – môt phụ nữ có đứa con 5 tuổi. Tất nhiên, đứa bé 5 tuổi không thể ngồi một mình sau xe ôm được. Nhưng “luật pháp” không phân biệt lớn nhỏ. Anh xe ôm nói, vì đó là chuyến xe đầu tiên trong ngày, nên anh không có đủ 50 ngàn để “dúi” cho anh cảnh sát giao thông, và vì thế, chiếc xe của anh đã bị tạm giữ. Anh xe ôm này có ba đứa con. Chỉ riêng phải đóng “sổ vàng” để được giữ chỗ tại trường công lập gần nhà, mỗi đứa cần có 2 triệu, chưa kể tiền học thêm hàng tháng… Trung bình mỗi ngày anh kiếm được 100 ngàn đồng bằng nghề xe ôm. Vợ anh bán bánh canh trong hẻm mỗi ngày kiếm được khoảng 50 ngàn. Thu nhập của hai vợ chồng cộng lại tính ra chưa đủ tiền trường cho ba đứa con, chưa nói đến những bất trắc thường xuyên xảy ra như vụ chiếc xe bị tạm giữ.
Ở Việt Nam, cứ 10 người bạn gặp, sẽ có 7 người có hoàn cảnh như anh xe ôm nói trên.
– Còn anh bạn tôi thì luôn chỉ trích nước Mỹ…
Tôi đã sống ở Mỹ hơn 5 năm, đã có ít nhất hai mươi lần liên hệ với các cơ quan chính quyền. Tôi chưa hề bắt gặp một công chức nào thiếu nhã nhặn và lịch sự với tôi ngay cả khi tôi đến để xin các khoản trợ cấp. Không ai trong số hàng chục gia đình bà con và quen biết của tôi đã sống tại Mỹ hơn 20 năm phàn nàn về một lần phải bị làm khó dể hay phải lo lót cho công chức Mỹ.
Ở Mỹ, không nói đến chương trình phổ thông hoàn toàn miễn phí, mà bất cứ ai cũng có đủ cơ hội để đi học đại học. Gần như 100% người Việt Nam di cư đến Mỹ đều đủ tiêu chuẩn hưởng trợ cấp giáo dục (financial aid). Do đó mà đã có tới hơn 45% người Việt đến Mỹ dưới 20 tuổi học xong đại học hoặc trên đại học. (California, Department of Education, 2004-Survey). Ở Việt Nam hiện nay, không dám nói đến bậc đại học, ngay cả vào lớp một thôi, chỉ riêng tiền đóng “sổ vàng” trung bình là 1 triệu đồng cho một học sinh, khoản tiền này không được qui định bởi luật pháp nhưng không phi pháp… Khoản tiền đóng “sổ vàng” này, như báo Tuổi Trẻ từng đưa tin, có trường lên tới 5 triệu đồng cho một quốc gia có mức thu nhập trên đầu người vào khoảng 7 triệu rưởi.
Nhưng đó chỉ mới là khoản nhập môn. Tổng các khoản chi học thêm, quà cáp thầy cô giáo, và phương tiện học hành của mỗi học sinh chiếm tương đương với ít nhất là 1/3 số thu nhập của anh xe ôm kia.
– Ở bất cứ phương diện nào, bạn cũng có thể thấy một khoảng cách rõ ràng giữa hai xã hội.
Dì của tôi, năm nay trên 60 tuổi đang nhận chăm sóc một cháu bé 1 tuổi tại Santa Cruz (CA) cho vợ chồng một kỹ sư người Việt. Hàng tuần dì lái cũng một chiếc Toyota 2004 đi làm 5 ngày, mỗi tháng dì lãnh 1000 dollars tiền lương, chưa kể ăn uống và quà cáp trong các dịp lễ. Mức thu nhập của dì tôi tương đương với mức lương trung bình của 4 kỹ sư điện toán giỏi tại Sài gòn hiện nay.
– Truyền thông Mỹ xôn xao đưa những chỉ trích và đánh giá gay gắt về việc Tổng thống Bush đã có lần cho phép cơ quan an ninh quốc gia theo dõi điện thoại và email của nghi phạm khủng bố trong nước Mỹ. Cũng trong thời gian này, ở Việt Nam xảy ra một chuyện ngược lại: Công an tống giam biệt tích hai anh em nhà ở đường Nguyễn Kiệm vì tội tham gia diễn đàn Paltalk nhưng không có một dòng tin nào xuất hiện trên 500 tờ báo hiện có tại Việt Nam.
Chỉ cần nhìn sơ qua, bạn cũng có thể thấy, những điều mà bạn chưa hài lòng ở nước Mỹ là những điều mà đồng bào của bạn dù nằm mơ cũng không thấy được. Chỉ cần lướt qua vài hình ảnh và số liệu, bạn cũng có thể thấy cái bất công trong xã hội Mỹ này chỉ bằng một viên bi trong một giỏ bi bất công dưới chế độ CS. Ở trên trái đất này, không hề có thiên đường. Điều mà anh và tôi tìm kiếm không phải là một xã hội hoàn hảo, mà là một xã hội có ít sự bất công hơn, có ít sự lừa dối hơn, và có ít cái xấu hơn. Trong ý nghĩa này, thì nuớc Mỹ là một mô hình tốt hơn vạn lần so với cái xã hội cộng sản, nơi mà sự ác, sự bất công, và sự lừa dối đang thống trị xã hội.
Quí vị “Thành phần thứ ba” giống như những đứa bé nhà giàu đang sống êm ấm trong một lâu đài nhưng luôn nhìn qua cửa sổ, mơ tưởng được làm một chú bé mò cua trên cánh đồng đàng xa, dưới bầu trời đầy nắng, và bên cạnh một khu rừng nhiệt đới bí ẩn… Nhưng khi nào quí vị trở thành chú bé nhà nghèo kia, thì quí vị sẽ thấy công việc mò cua hoàn toàn không có mảy may của sự lãng mạn, nhưng là một sự khốn khó đến cùng cực vì lạnh, vì đói, vì nắng, và những những cơn sốt nghiệt ngã do cánh rừng kia mang lại.
Tóm lại, “Thành phần thứ ba” là những người có thừa nhiệt huyết và dũng khí để đấu tranh quyết liệt chống chính quyền của những xã hội dân chủ. Nhưng thiếu sự can đảm tối thiểu hay quá đê hèn để bảo vệ một sự công bằng căn bản nhất dưới những chế độ độc tài….Và như thế, dù không chủ ý, “thành phần thứ ba” đã bắt một nhịp cầu cho các chế độ độc tài như CSVN.