Seite auswählen

Theo các báo cáo truyền thông, vào ngày 3 tháng 8, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội đã kết tội ông Châu theo Điều 117 Bộ luật Hình sự Việt Nam — điều luật quy định tội “làm, lưu trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”. Tòa án cũng tuyên buộc ông Châu phải chịu 5 năm quản chế sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Ông Châu, người hiện đang tị nạn tại Canada và đưa tin qua trang Facebook cá nhân với 225.000 người theo dõi, đã bác bỏ bản án và cho rằng nó hoàn toàn vô căn cứ trong các tin nhắn gửi cho CPJ sau phán quyết, cũng như trong một tuyên bố được phát đi khi phiên tòa bắt đầu.

“Bản án dành cho nhà báo Đoàn Bảo Châu là minh chứng điển hình cho việc Việt Nam liên tục sử dụng các vụ truy tố mang động cơ chính trị nhằm dập tắt tiếng nói của các nhà báo độc lập,” Shawn Crispin, Đại diện cấp cao khu vực Đông Nam Á của CPJ cho biết. “Chính quyền Việt Nam nên chấm dứt việc quấy rối ông Châu cũng như tất cả các nhà báo độc lập, ngừng sử dụng Điều 117 để hình sự hóa hoạt động đưa tin, và đảm bảo rằng giới báo chí có thể tự do tác nghiệp mà không sợ bị bắt bớ hay tù tày.”

Hội đồng xét xử phán quyết rằng ông Châu đã vi phạm Điều 117 khi xuất hiện trên kênh YouTube của BBC Tiếng Việt và đăng tải các video lên tài khoản Facebook cá nhân bị cho là xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, tung tin giả và gây hoang mang trong nhân dân. Các công tố viên nhà nước đã dựa vào 6 đoạn video mà cơ quan chức năng cho rằng có chứa “luận điệu chiến tranh tâm lý” và tin đồn bịa đặt nhằm chống lại nhà nước.

Ông Châu, người trước đây từng làm nhiếp ảnh gia tự do cho các hãng tin Associated Press (AP), Agence France-Presse (AFP) và là phóng viên cho The New York Times, chia sẻ với CPJ qua tin nhắn rằng ông đã bị cấm xuất cảnh và liên tục nhận lệnh triệu tập của cảnh sát liên quan đến công việc đưa tin của mình kể từ tháng 6 năm 2024, khiến ông phải lẩn tránh. Vào ngày 3 tháng 7 năm 2025, hơn 20 công an đã ập vào khám xét nhà riêng của ông tại thủ đô Hà Nội và khởi tố ông theo Điều 117. Cơ quan chức năng đã phát lệnh bắt tạm giam ông vào ngày 14 tháng 8 năm 2025.

Bộ Công an Việt Nam, đơn vị quản lý các trại giam và cấp phép cho lực lượng công an thực hiện các lệnh bắt giữ liên quan đến chính trị, đã không phản hồi ngay lập tức yêu cầu bình luận qua email từ CPJ.

Theo dữ liệu mới nhất của CPJ, Việt Nam nằm trong số những quốc gia giam giữ nhiều nhà báo nhất trên thế giới, với ít nhất 16 phóng viên hiện đang bị cầm tù.

VNTB (06.08.2026)

 

Mục sư người Ê Đê Nuen Ayun bị xử tù 7 năm với cáo buộc ‘phá hoại đoàn kết dân tộc’

Cơ quan công an, Mục sư Nuen Ayun (đứng giữa) bị cáo buộc “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” và bị tuyên 7 năm 6 tháng tù giam ngày 5/8/2026

 

Sáng ngày 5/8, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong phiên xử sơ thẩm đã tuyên mục sư người Ê Đê Nuen Ayun 7 năm 6 tháng tù giam, 4 năm quản chế với cáo buộc ông “Phá hoại chính sách đoàn kết” quy định tại điểm a, c, khoản 1, Điều 116 của Bộ luật Hình sự.

Theo luật sư Hà Huy Sơn, người được chỉ định bào chữa cho ông Nuen Ayun, đây là phiên tòa mở, vợ con ông được tham dự và chỉ diễn ra trong khoảng hơn hai tiếng.

Mục sư Nuen Ayun bị bắt ngày 7/10/2025 tại nhà riêng.

Thời điểm đó, em trai ông, hiện đang tị nạn tại Thái Lan, nói với BBC News Tiếng Việt rằng rất nhiều công an đã ập vào nhà và áp giải mục sư Nuen Ayun lên cơ quan Công an tỉnh Đắk Lắk.

Mặc dù chưa qua xét xử, báo chí Việt Nam thời điểm đó đồng loạt dẫn thông tin công an cáo buộc rằng mục sư Nuen Ayun là trưởng ban điều hành “tổ chức phản động” Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên, “núp bóng tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.”

Kết quả điều tra ban đầu cáo buộc ông Y Nuen Ayun dùng “vỏ bọc tôn giáo” để “tổ chức các hoạt động chống chính quyền nhân dân, lôi kéo người dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động do phản động, FULRO lưu vong”.

Ngày 29/4/2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ban hành kết luận điều tra, cáo buộc mục sư Nuen Ayun phạm tội “phá hoại chính sách đoàn kết” theo Điều 116 Bộ luật Hình sự và đề nghị Viện KSND tỉnh Đắk Lắk truy tố ông ra tòa.

Cơ quan công an, Mục sư Nuen Ayun bị bắt và khởi tố ngày 7/10/2025

Luật sư nói gì?

Trong phiên tòa sáng 5/8, luật sư Hà Huy Sơn chỉ ra rằng cáo trạng không nêu ra được việc ông Nuen Ayun có những hành vi cụ thể nào gây chia rẽ nhân dân với chính quyền nhân dân, với lược lượng vũ trang, với các tổ chức chính trị xã hội,… như quy định tại điểm a, c, khoản 1, Điều 116 Bộ luật Hình sự.

“Bị cáo tham gia sinh hoạt ‘Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên’ không có động cơ, mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân. Bị cáo chỉ nhận thức rằng việc thành lập Hội thánh có đăng ký với chính quyền nhưng chưa được công nhận nhưng pháp luật cũng không cấm,” luật sư Hà Huy Sơn viết trên Facebook cá nhân ngày 5/8.

Cũng theo luật sư Sơn, cáo trạng cáo buộc Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên là một tổ chức phản động nhưng “không đưa ra các chứng cứ chứng minh cho nhận định này”.

“Một tổ chức phản động, nói cách khác là phạm tội có đồng phạm, nhưng trong vụ án này chỉ có một mình bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự,” luật sư Sơn viết.

Theo lập luận của luật sư Hà Huy Sơn, cáo trạng nêu ông Nuen Ayun “có hành vi thành lập, điều hành Hội thánh, tuyên truyền, phát triển tín đồ; tham gia và tổ chức thông công trên môi trường internet và trực tiếp tại các điểm nhóm của Hội thánh”… nhưng “tự thân các hành vi này không đồng nghĩa với hành vi ‘nhằm chống chính quyền nhân dân’.”

Ngoài ra, các tài liệu, đồ vật do cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án “không được trưng cầu giám định bởi cơ quan chuyên môn là Sở Văn hóa [Thể thao và Du lịch Đắk Lắk] để xác định có vi phạm quy định tại điểm a, c, khoản 1, Điều 116 của Bộ luật Hình sự hay không,” luật sư Sơn chỉ ra.

Cuối cùng, luật sư Sơn nhận định rằng xét về mặt khách thể và khách quan thì chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 116 của Bộ luật Hình sự đối với trường hợp của Mục sư Nuen Ayun.

Mục sư Nuen Ayun là ai?

Mục sư Neun Ayun là lãnh đạo Hội Thánh Tinh Lành Đấng Christ tại Tây Nguyên, một giáo hội độc lập không được nhà nước Việt Nam công nhận.

Gia đình nói với BBC News Tiếng Việt rằng ông Nuen Ayun từng nhiều lần bị bắt giữ và thẩm vấn.

Báo cáo Tự do Tôn giáo năm 2019 của Bộ Ngoại giao Mỹ từng nêu việc công an Việt Nam công khai chỉ trích ông Nuen Ayun và một số lãnh đạo tôn giáo khác, đồng thời yêu cầu họ rời khỏi các nhà thờ nếu muốn tiếp tục sinh sống tại cộng đồng của mình.

Bộ Ngoại giao Mỹ cũng cho rằng Hội thánh Tin Lành Đấng Christ tại Tây Nguyên và các tín đồ của họ đã phải đối mặt với “sự sách nhiễu nghiêm trọng” từ phía chính quyền Việt Nam vì tham gia các hoạt động bị cáo buộc là chống chính phủ.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt ngày 5/8, Mục sư A Ga, người thành lập Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ tại Tây Nguyên hiện đang tị nạn tại Mỹ, nói rằng ông Neun Ayun chỉ là một mục sư nông dân chân chất, tiếng Kinh còn chưa quá sõi.

Ông A Ga cho rằng việc chính quyền xử tù ông Neun Ayun là nhằm mục đích “đe dọa những ai còn ở trong Hội thánh Tin lành Đấng Christ, buộc họ phải từ bỏ đức tin của mình, như chính quyền đã làm đối với tôi.”

Mục sư A Ga từng bị chính quyền tỉnh Đắk Lắk khởi tố vắng mặt vào năm 2023 với cáo buộc tương tự.

Cũng theo ông A Ga, kể từ khi thành lập cho tới nay, các thành viên của Hội thánh Tin Lành Đấng Christ tại Tây Nguyên thường xuyên bị công an sách nhiễu, thẩm vấn.

Hồi tháng 3/2023, nhân sự việc Mục sư A Ga bị khởi tố “xuyên quốc gia”, hơn 70 nhóm tôn giáo quốc tế đã đề cập trong thư gửi chính quyền Biden, phản ánh việc “bức hại tôn giáo tại Việt Nam”.

Các nhóm tôn giáo quốc tế cho đây là hành động hết sức nguy hiểm, cần phải có biện pháp ngăn chặn.

Thời điểm Mục sư Nuen Ayun bị khởi tố, Hội thánh Tin Lành Đấng Christ tại Tây Nguyên đã ra thông cáo “cực lực lên án hành vi này” và bày tỏ rằng họ chỉ mong muốn được theo đuổi niềm tin tôn giáo của mình theo Điều 24 Hiến pháp Việt Nam và Điều 5-6 Luật Tự do Tín ngưỡng Việt Nam.

Tự do tôn giáo ở Việt Nam

Từ năm 2021 đến 2026, Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF, một cơ quan liên bang độc lập, lưỡng đảng của Mỹ) liên tục khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách Quốc gia đặc biệt quan ngại (CPC) – do vi phạm tự do tôn giáo đặc biệt nghiêm trọng.

Trong báo cáo năm 2026, USCIRF cho rằng điều kiện tự do tôn giáo ở Việt Nam vẫn kém. Chính quyền tiếp tục gây sức ép đối với các nhóm tôn giáo không đăng ký hoặc hoạt động ngoài hệ thống được nhà nước công nhận.

Từ năm 2022- 2023, Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào Danh sách Theo dõi đặc biệt (SWL) theo Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế, thấp hơn mức CPC.

Cho tới nay, Bộ Ngoại giao Mỹ chưa công bố các chỉ định mới. Theo quyết định hiện hành, Việt Nam vẫn thuộc Danh sách theo dõi đặc biệt (SWL).

Tổ chức Freedom House trong báo cáo Freedom in the World 2025 và 2026 xếp Việt Nam vào mục “không có tự do”, chỉ đạt 20/100 điểm về hai nhóm quyền chính là tự do chính trị và tự do dân sự (trong đó có tự do tôn giáo, tín ngưỡng).

Trong khi đó, chính phủ Việt Nam luôn khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; bác bỏ các đánh giá của USCIRF và cho rằng những trường hợp bị xử lý là do vi phạm pháp luật, không phải vì niềm tin tôn giáo.

BBC (05.08.2026)

 

 

 

Công an xử lý người dùng mạng xã hội: ‘Phản động’ trong nhãn quan Đảng Cộng sản Việt Nam

Công an xã Liên Hòa xã Liên Hòa, tỉnh Phú Thọ làm việc với một người bị cáo buộc tương tác với trang mạng xã hội mà họ cho là “phản động”

Công an Việt Nam đang đẩy mạnh chiến dịch trừng phạt những người “tương tác” với các trang mạng xã hội mà họ coi là “phản động”, trong nỗ lực kiểm soát các ý kiến bất lợi cho chính quyền.

Chỉ một bình luận, chia sẻ, thậm chí chỉ một lần nhấp chuột tương tác (thích, giận, cười…) trên mạng xã hội từ các trang này thì người dân Việt Nam có thể gặp rắc rối với chính quyền.

Trong vài tháng qua, hàng trăm người đã bị công an mời lên làm việc, từ nhắc nhở, răn đe đến xử phạt hành chính.

Chẳng hạn, vào ngày 3/8, Công an xã Liên Hòa, tỉnh Phú Thọ cho biết đã phát hiện 10 cá nhân trên địa bàn có hành vi tương tác, bình luận đối với các nội dung do tài khoản Hoàng Dũng hiện đang sống ở Mỹ đăng tải.

Công an đã mời các trường hợp này đến làm việc để “tuyên truyền, giáo dục, nhắc nhở theo quy định pháp luật”. Những người này sau đó đã cam kết không vi phạm.

Danh sách ‘trang phản động’

Trong các vụ công an mời người dân lên xử phạt gần đây, một số địa chỉ bị cáo buộc “phản động” đã bị công an chính thức nêu tên, trong số đó có các trang của nhà báo Lê Trung Khoa, luật sư Nguyễn Văn Đài ở Đức, hay trang Hoàng Dũng trong vụ việc vừa đề cập ở trên.

Ông Khoa và ông Đài là những người thường phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần đây, cả hai ông đã bị tòa án Việt Nam tuyên án 17 năm tù với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”, với những cáo buộc mà cả hai ông đều phủ nhận.

Còn Hoàng Dũng sống tại Mỹ, thường có các bài viết châm biếm, phê phán chính quyền Việt Nam, hoặc chia sẻ các thông tin về bổ nhiệm nhân sự lãnh đạo trước khi có thông tin chính thức.

Trên mạng xã hội, sau khi công an công bố việc xử lý các trường hợp “tương tác với trang phản động”, nhiều người đã đề nghị công an cung cấp danh sách các trang này để họ tránh. Đáp lại, cơ quan công an thường có các phản hồi mang tính thách thức, đánh đố nhiều hơn là giải thích, hướng dẫn.

Chẳng hạn, khi được đề nghị cung cấp danh sách “trang phản động”, Công an TP Huế đã trả lời trên mạng xã hội rằng: “Không có danh sách nào thay thế được ý thức và kỹ năng tiếp nhận thông tin của người dùng.” Hoặc, “Bạn hãy theo dõi các bình luận trong bài này, nếu bạn không nhận biết được bình luận nào đúng, sai thì bạn không nên tốn tiền internet.”

Theo một số ý kiến đánh giá, đây có thể là chính sách mập mờ có chủ đích của cơ quan thực thi pháp luật, để họ có thể dễ dàng tùy nghi hành sự, thay vì công bố một danh sách cụ thể sẽ khiến họ khó xử lý trong trường hợp xuất hiện hành vi tương tác với các trang ngoài danh sách nói trên.

Mặt khác, việc công bố một danh sách chính thức có thể khiến chính quyền rơi vào thế lưỡng nan trong việc phải quyết định liệt các tổ chức hợp pháp, các quan chức, chính trị gia của nước ngoài vào danh sách đen của chính quyền: không đưa vào danh sách thì khó xử lý người tương tác, mà đưa vào thì có thể bị phản đối chính thức. Trên thực tế, nhiều tổ chức báo chí, truyền thông, vận động nhân quyền của Mỹ và các nước phương Tây khác từ lâu đã bị chính quyền Việt Nam coi là “phản động”, dù không chính thức khẳng định.

Trong vài ngày gần đây, một danh sách các trang “phản động” đã được phát tán trên mạng xã hội, trong đó có tên các tổ chức chính trị, các cơ quan truyền thông, các nhóm hoạt động và cá nhân, như BBC Tiếng Việt, RFA Tiếng Việt, Luật Khoa Tạp Chí, Bàn Tròn Chính Trị Việt Nam,…

Thậm chí, trang Học viện phòng chống phản động cũng có tên trong danh sách phản động.

Một trong những tài khoản phát tán danh sách này có tên gọi Công an xã Triệu Cơ, một xã tại tỉnh Quảng Trị.

Ở phần bình luận, trang Công an xã Triệu Cơ khuyên mọi người không tương tác – bao gồm bình luận, chia sẻ, nhấn nút thích (cười, giận…). Thậm chí trang này còn khuyên “không nên chửi nó vì giúp nó tăng tương tác”, thay vào đó hãy “report nó đi cho lành”.

Dù trang này mang tên một cơ quan chính thức – Công an xã Triệu Cơ – và chuyên đăng tải các hoạt động chính thức, nhưng chúng tôi chưa có bằng chứng chắc chắn để khẳng định đây là một trang chính thức của cơ quan công an.

Chính quyền hiện tại vẫn chưa công bố một danh sách chính thức các trang mà họ cho là phản động.

Thay vào đó, danh sách này chỉ phát tán thông qua các trang mang tên công an địa phương – một động thái được một số nhà quan sát nhận định là nhằm một mặt gieo vào nhận thức chung của công chúng những cái tên mà chính quyền cho là “phản động”, khiến người dân phải sợ mà né tránh, mặt khác chính quyền có thể miễn trừ trách nhiệm đối với việc lập danh sách này.

Danh sách trên trang Công an xã Triệu Cơ, Quảng Trị

Thế nào là trang ‘phản động’?

Sau khi danh sách trên được công bố, dư luận trên mạng xã hội lập tức xuất hiện nhiều luồng ý kiến trái chiều.

Một bộ phận người dùng bày tỏ sự ủng hộ, trong khi không ít người khác lên tiếng phản đối hoặc đưa ra những bình luận mang tính châm biếm.

Đáng chú ý, một số ý kiến mỉa mai cho rằng nhờ có danh sách này, họ mới tiếp cận được những thông tin mà họ xem là “sự thật”, thay vì chỉ biết đến các nguồn tin mà họ chỉ trích là mang tính “tuyên truyền, nhồi sọ” từ các kênh truyền thông nhà nước.

“Mà mấy trang đó nói đúng sự thật, không nhồi sọ dắt mũi,” một người bình luận dưới trang Facebook Công an xã Triệu Cơ.

Trên trang cá nhân Facebook của mình, người dùng Phạm Tung đặt vấn đề: “Ai/trang nào là phản động?”

Ông viết: “Trang của những người bị cho là thuộc ‘nhóm 72’ [nhóm kiến nghị sửa đổi hiến pháp] có phải là phản động không? Nếu có thì văn bản nào quyết định họ là phản động? Nếu không thì những người cứ ra rả tố họ là phản động thì có phải là phản động không?”

“Trang của những người dùng ngôn ngữ tục tĩu tấn công người khác thì có phải là phản động không? Không phải thì họ là loại người gì?”

Ông tiếp tục đặt vấn đề: “Tổng thống Mỹ Donald Trump công khai công kích chủ nghĩa cộng sản. Vậy trang Truth Social của ông ấy có phải là phản động không?”

Theo logic thắc mắc của ông Phạm Tung, có thể đặt thêm các câu hỏi kiểu như: Trang tiếng Việt của Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc (CGTN) thường đăng tải tuyên bố “chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa” (tên gọi Trung Quốc chỉ Hoàng Sa và Trường Sa) thì có bị coi là phản động hay không?

‘Phản động’ thực ra là gì?

Trong chính trị học, “phản động” (reactionary) là khái niệm chỉ những người hoặc phong trào phản đối mạnh mẽ các thay đổi xã hội, đồng thời ủng hộ việc khôi phục một trật tự cũ mà họ cho là ưu việt hơn.

Về lịch sử, thuật ngữ này từng được dùng để chỉ các lực lượng chống lại những cuộc cách mạng và cải cách lớn.

Tuy nhiên, khi chủ nghĩa cộng sản ra đời với mục tiêu đấu tranh giai cấp, xóa bỏ phong kiến và phê phán chủ nghĩa tư bản, những người phản đối các chương trình cải tạo xã hội theo đường lối cộng sản cũng bị gọi là “phản động”.

Trước đây, ông Hồ Chí Minh từng nhiều lần sử dụng khái niệm “phản động” để chỉ các hành động và lực lượng chống phá cuộc cách mạng của Việt Minh, thách thức sự lãnh đạo của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chẳng hạn, ông nói: “Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân.”

Theo thời gian và thực tế chính trị tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Đảng Cộng sản củng cố vị thế lãnh đạo độc tôn của mình, khái niệm “phản động” đã có sự chuyển dịch rất lớn về mặt nghĩa.

Trong Từ điển Tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê, tính từ “phản động” được định nghĩa là: “Có tính chất chống lại cách mạng, chống lại sự tiến bộ.”

Trên thực tế, “phản động” trong diễn ngôn và nhãn quan của chính quyền Việt Nam được dường như được gán cho nghĩa chống chính quyền, chống Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo đó, bất kỳ ai phản đối các chủ trương của Đảng Cộng sản, nghi ngờ tính chính danh của tổ chức này, phản bác các chính sách hay phê bình các lãnh tụ Đảng… thường được dán nhãn “phản động”.

Những người thúc đẩy đa nguyên, đa đảng, dân chủ, tự do, nhân quyền, hay lên tiếng về môi trường và quyền lợi người lao động nhưng không nằm trong đường lối của Đảng Cộng sản cũng có thể bị gắn các nhãn như “phản động” hoặc “chống phá”, “thế lực thù địch”.

Điều này có nghĩa là “phản động” được gán cho cả những hành động kêu gọi đổi mới, kêu gọi mở rộng quyền cho người dân nếu như những lời kêu gọi này bị đánh giá là trái với lập trường của Đảng Cộng sản.

Thực tế này khiến cho cả các ý kiến cổ xúy cho tiến bộ (chứ không chỉ “chống lại sự tiến bộ” như từ điển của Hoàng Phê định nghĩa), hoặc thậm chí các phản biện, các phát hiện mới mang tính học thuật vẫn có thể bị coi là “phản động”, nếu thách thức quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam.

BBC (05.08.2026)

 

 

 

Nhận định của Nhóm Công Tác về Giam Giữ Tuỳ Tiện (WGAD) của Liên Hiệp Quốc về việc Việt Nam giam giữ Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng

Vào ngày 1 tháng 6 năm 2026, Nhóm Công Tác về Giam Giữ Tuỳ Tiện (WGAD) đã ban hành Bản Nhận Định số 21/2026 liên quan đến trường hợp của Mục Sư Nguyễn Mạnh Hùng.

Mục Sư Nguyễn Mạnh Hùng là thành viên của Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam, một nhà tranh đấu cho nhân quyền, và là tiếng nói bênh vực mạnh mẽ cho quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Mục Sư bị bắt giữ vào tháng Giêng năm 2025 và sau đó bị kết án sáu năm cấm cố cùng năm năm quản thúc chiếu theo Điều 117 của Bộ Hình Luật, với cáo buộc phát tán cái gọi là “tài liệu chống nhà nước”.

Cơ quan WGAD phán quyết rằng việc giam cầm Mục Sư Nguyễn Mạnh Hùng là tuỳ tiện (arbitrary) chiếu theo các Hạng Mục I, II, III và V. Nhóm Công Tác kết luận rằng Điều 117 của Bộ Hình Luật được soạn thảo bằng ngôn từ mơ hồ và quá bao quát, không đáp ứng được nguyên tắc pháp lý hợp chuẩn, và do đó không thể làm nền tảng pháp lý chính đáng cho việc giam giữ. Cơ quan này cũng nhận thấy rằng Mục Sư Hùng bị giam cầm chỉ vì hành xử ôn hoà quyền tự do ngôn luận và bày tỏ tư tưởng, bao gồm các hoạt động tranh đấu cho nhân quyền và chỉ trích chính sách của nhà cầm quyền.

Nhóm Công Tác đã phát giác nhiều vi phạm trầm trọng về quyền được xét xử công minh, bao gồm:

– Việc biệt giam không cho liên lạc kéo dài chừng chín tháng.

– Không kịp thời đưa Mục Sư Hùng ra trước một cơ quan tư pháp độc lập.

– Khước từ quyền được tiếp xúc kịp thời với luật sư biện hộ.

– Thiếu thời gian và phương tiện thoả đáng để chuẩn bị bào chữa.

– Một phiên toà xử kín diễn ra chớp nhoáng vỏn vẹn chừng một giờ đồng hồ.

– Hạn chế tiếp xúc với gia đình.

– Vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội (presumption of innocence) và đặc quyền không bị buộc phải tự khai nhận tội.

Nhóm Công Tác xét thấy các vi phạm này có mức độ đủ nghiêm trọng để liệt việc tước đoạt tự do của Mục Sư vào diện tuỳ tiện theo Hạng Mục III. Bên cạnh đó, sự tước đoạt tự do của Mục Sư Hùng mang tính cách kỳ thị dựa trên các quan điểm chính trị, niềm tin tôn giáo, và vị thế là một nhà tranh đấu cho nhân quyền của Mục Sư, đưa việc giam giữ này vào Hạng Mục V.

Nhóm Công Tác bày tỏ sự quan ngại sâu xa về điều kiện giam cầm Mục Sư Hùng, ghi nhận các báo cáo cho biết Mục Sư đã bị nhiễm trùng da nhưng không hề được chữa trị y tế, và gia đình Mục Sư bị ngăn cấm không được tiếp tế thuốc men. Cơ quan này cũng nhắc nhở rằng việc biệt giam không cho liên lạc kéo dài cùng sự bưng bít tiếp xúc với thế giới bên ngoài là vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế, trong đó có Bản Quy Tắc Nelson Mandela và Tập Nguyên Tắc Bảo Vệ Mọi Người Bị Giam Giữ Hoặc Tù Đày Dưới Bất Kỳ Hình Thức Nào.

Nhóm Công Tác yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam tức thời thi hành các biện pháp cần thiết để khắc phục tình trạng của Mục Sư Hùng và đưa sự việc này tuân thủ đúng với luật pháp nhân quyền quốc tế. Theo WGAD, biện pháp khắc phục đích đáng nhất là phải lập tức phóng thích Mục Sư Hùng và trao cho Mục Sư quyền được bồi thường cùng các khoản bồi hoàn khác có giá trị thi hành, chiếu theo công pháp quốc tế. Cơ quan này cũng hối thúc nhà cầm quyền mở một cuộc điều tra toàn diện và độc lập đối với các hành vi vi phạm nhân quyền đối với Mục Sư.

Trong Bản Nhận Định, Nhóm Công Tác lưu ý rằng,  với bề dày 34 năm hoạt động, họ đã phát giác Việt Nam vi phạm các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế trong vô số trường hợp. Đa số các trường hợp này diễn ra theo một lề lối quen thuộc không màng đến các quy chuẩn quốc tế:

– Bắt giữ và giam cầm kéo dài chờ xét xử mà không được giám đốc thẩm.

– Từ chối hoặc hạn chế quyền tiếp xúc với luật sư.

– Bắt giam biệt tích không cho liên lạc.

– Truy tố dựa trên các tội danh hình sự với ngôn từ mơ hồ đối với những hành vi hành xử nhân quyền ôn hoà.

– Những phiên toà xử kín chớp nhoáng chà đạp lên thủ tục pháp lý chính đáng (due process).

– Bản án trừng phạt quá khắc nghiệt và tước đoạt quyền tiếp xúc với thế giới bên ngoài.

Nhóm Công Tác lo ngại rằng lề lối này biểu hiện cho một vấn nạn mang tính hệ thống về giam giữ tuỳ tiện tại Việt Nam, và nếu còn tiếp diễn, có thể cấu thành một sự vi phạm trầm trọng đối với công pháp quốc tế.

Nhóm Công Tác cũng lập lại rằng họ rất hoan nghênh cơ hội được làm việc một cách xây dựng với nhà cầm quyền Việt Nam nhằm giải quyết những mối quan ngại về vấn đề bắt giam tuỳ tiện tại quốc gia này. Một thời gian khá dài đã trôi qua kể từ chuyến công du gần nhất của cơ quan này đến Việt Nam vào tháng 10 năm 1994, và Nhóm Công Tác xét thấy hiện nay là thời điểm thích hợp để thực hiện một chuyến công du mới. Vào ngày 8 tháng 11 năm 2024, Nhóm Công Tác đã lập lại các thỉnh thị trước đây gửi nhà cầm quyền để yêu cầu một chuyến công du khảo sát quốc gia và sẽ tiếp tục trông đợi một phúc đáp khả quan.

Bản Nhận Định của WGAD là một văn kiện công khai của Liên Hiệp Quốc và có thể được phổ biến rộng rãi. Quý vị có thể tìm thấy toàn văn Bản Nhận Định tại đây: A/HRC/WGAD/2026/21

Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

VNTB (03.08.2026)

 

 

 

Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam khẩn cầu can thiệp trả tự do cho Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng

Ngày 1 tháng 8 năm 2026

Kính gửi:     Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

2201 C Street NW

Washington, D.C. 20520

Trích yếu:   Khẩn cầu can thiệp trả tự do cho Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng

Kính thưa Ngoại Trưởng Rubio,

Chúng tôi viết thư này để khẩn khoản yêu cầu sự hỗ trợ của ngài trong việc vận động trả tự do ngay lập tức cho Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, một vị chức sắc Tin Lành 71 tuổi và là một nhà đấu tranh nhân quyền hiện đang bị giam cầm bất công tại Việt Nam. Hơn thế nữa, dựa trên sự đàn áp tự do tôn giáo một cách trầm trọng và có hệ thống qua trường hợp của Mục sư, chúng tôi kêu gọi Bộ Ngoại giao đưa Việt Nam vào danh sách Quốc gia Cần Quan tâm Đặc biệt (CPC).

Trường hợp của Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng

Mục sư Hùng là một công dân Việt Nam phụng sự tại Hội thánh Tin Lành Chuồng Bò. Nhà cầm quyền được cho là đã liên tục gây áp lực lên hội thánh này với mưu đồ giải tán. Ngoài những phận sự mục vụ, Mục sư Hùng còn là một thành viên của Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam, một tổ chức tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, đồng thời là tổ chức đối tác của Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam. Mục sư có một quá trình lâu dài công khai chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, trong đó có việc đọc diễn văn trước một tiểu ban của Hạ viện Hoa Kỳ vào năm 2015 để lên tiếng bênh vực cho những người bị giam giữ vì lý do chính trị.

Do những hoạt động tranh đấu ôn hòa của mình, Mục sư Hùng cùng các tín hữu đã phải hứng chịu những sự trả thù tàn bạo:

  • Vào năm 2014, những kẻ được cho là do nhà cầm quyền thuê mướn đã phá hoại nhà cửa và đe dọa sát hại Mục sư cùng gia đình.
  • Trong một dịp khác, những công an thường phục đã bóp cổ Mục sư Hùng khi chúng ngăn cản các tín hữu chuẩn bị cho một buổi lễ tôn giáo.
  • Vào ngày 16 tháng 1 năm 2025, hàng chục công an đã ập vào căn hộ của Mục sư và bắt giữ Mục sư.

Một sự vi phạm thô bạo tiến trình pháp lý

Tiến trình tư pháp dẫn đến sự giam cầm hiện tại của Mục sư Hùng là một sự vi phạm hoàn toàn luật pháp quốc tế. Theo Nhóm Công tác về Giam giữ Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc, được trình bày chi tiết trong tài liệu “a-hrc-wgad-2026-21-viet-nam-adv.pdf”, phiên tòa và sự giam giữ Mục sư mang tính chất lạm dụng nghiêm trọng:

  • Mục sư Hùng bị buộc tội theo điều 117 của Bộ luật Hình sự vì cáo buộc “tuyên truyền chống Nhà nước”.
  • Mục sư bị giam giữ biệt giam trong hơn chín tháng.
  • Vào ngày 30 tháng 10 năm 2025, Mục sư bị kết án sáu năm tù giam và năm năm quản chế.
  • Phiên tòa chỉ kéo dài trong khoảng một giờ đồng hồ.
  • Việc tuyên án kéo dài chưa đầy 30 phút.
  • Luật sư của Mục sư chỉ được thông báo về phiên tòa năm ngày trước khi nó diễn ra.
  • Luật sư của Mục sư chỉ được phép gặp gỡ Mục sư Hùng trong khoảng 30 phút, hai ngày trước phiên tòa.
  • Công chúng, kể cả thân nhân của Mục sư, đã bị cấm tham dự phiên tòa.

Kết luận và Lời kêu gọi hành động

Nhóm Công tác Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố minh thị rằng việc tước đoạt quyền tự do của Mục sư Hùng là tùy tiện và vi phạm nhiều điều khoản của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị. Họ đã đi đến kết luận rằng biện pháp khắc phục thích đáng là trả tự do cho Mục sư ngay lập tức và bảo đảm quyền được bồi thường.

Sự sách nhiễu có chủ đích đối với một nhà lãnh đạo tôn giáo, những vụ hành hung về thể xác đối với các tín hữu của Mục sư, và những áp lực cố ý nhằm giải tán hội thánh của Mục sư đã minh chứng rõ rệt sự thù địch có hệ thống đối với quyền tự do tôn giáo. Chúng tôi trân trọng khẩn cầu ngài sử dụng toàn bộ ảnh hưởng ngoại giao của Hoa Kỳ để đòi hỏi sự trả tự do vô điều kiện và ngay lập tức cho Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng. Thêm vào đó, chúng tôi khẩn khoản yêu cầu ngài chỉ định Việt Nam là Quốc gia Cần Quan tâm Đặc biệt để bảo đảm rằng nhà cầm quyền Việt Nam phải chịu trách nhiệm về những sự vi phạm trắng trợn quyền tự do tôn giáo và nhân quyền.

Xin chân thành cảm tạ thời giờ, sự lãnh đạo, và sự tận tâm của ngài trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của những người bị đàn áp.

Trân trọng,

Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam

(01.08.2026)

 

 

 

17 tháng tố tụng cho một bản án 12 tháng tù: Hành trình kêu oan và những câu hỏi chưa được giải đáp

Ngày 28/7/2026, tôi đã gửi đơn kêu oan đến một địa chỉ mà tôi cho rằng có thể đem lại công lý cho mình. Đơn dài 24 trang, kèm theo hơn 70 tài liệu chứng minh. Dưới đây là phần tóm tắt tài liệu cuối cùng  trong hồ sơ kêu oan của tôi.

“Cáo trạng” số 05/CT-VKSHN-P2 ngày 20/12/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội được ban hành sau hơn 11 tháng kể từ ngày tôi bị bắt giam. Sau đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 353/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên phạt tôi 1 năm tù theo Điều 331 Bộ  luật Hình sự.

Tôi cho rằng, quá trình tố tụng và bản án này tồn tại nhiều điểm bất hợp lý cần được xem xét.

Trước hết là sự mâu thuẫn giữa  thời gian tố tụng và mức hình phạt. Tôi bị bắt ngày 12/1/2023. Từ khi bị bắt đến khi ban hành Cáo trạng ngày 20/12/2023 là hơn 11 tháng. Từ khi có Cáo trạng đến khi xét xử sơ thẩm ngày 25/6/2024 là hơn 6 tháng. Như vậy, tổng thời gian điều tra, truy tố và xét xử kéo dài hơn 17 tháng, gần một năm rưỡi, trong khi hình phạt cuối cùng chỉ là 12 tháng tù.

Đối với một vụ án liên quan đến các bài viết, video trên không gian mạng, trong đó chứng cứ chủ yếu là dữ liệu điện tử đã tồn tại, việc bộ máy tố tụng vận hành trong thời gian dài hơn cả mức án được tuyên, cho thấy sự bất cân xứng giữa quy mô xử lý và tính chất của vụ việc. Điều này cũng đặt ra câu hỏi về sự cần thiết, hiệu quả của quá trình tố tụng và việc lượng hình.

Bên cạnh đó, việc bắt tạm giam tôi từ ngày 12/1/2023 cũng bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý khi đối chiếu với kết quả cuối cùng của vụ án.

Theo quy định pháp luật, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, thường được áp dụng khi bị can có nguy cơ bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc có hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. 

Tôi bị tạm giam 77 ngày, từ ngày 12/1 đến ngày 30/3/2023. Sau đó, tôi được tại ngoại hơn 14 tháng để chờ xét xử và vẫn sinh hoạt bình thường tại nơi cư trú. Tôi không bỏ trốn, không gây cản trở điều tra và không làm thay đổi bản chất vụ án.

Nếu ngay từ đầu tôi được áp dụng biện pháp tại ngoại thì quá trình tố tụng vẫn có thể diễn ra bình thường và kết quả xét xử cũng không thay đổi. Vì vậy, tôi cho rằng việc giam giữ gần ba tháng đối với một công chức đang tại chức là một quyết định quá nghiêm khắc, mang tính chất răn đe nhiều hơn là phù hợp với tinh thần thượng tôn pháp luật.

Một điểm mâu thuẫn khác là từ Cáo trạng đến bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều không có quyết định buộc tôi phải gỡ bỏ các bài viết, video bị cho là vi phạm trên Facebook và YouTube, cũng không có biện pháp kỹ thuật nào được áp dụng để xóa bỏ các nội dung đó.

Nếu các bài viết của tôi thực sự “xâm phạm nghiêm trọng lợi ích Nhà nước, uy tín cơ quan” đến mức phải sử dụng chế tài hình sự, thậm chí bỏ tù công dân, thì việc các nội dung này vẫn tiếp tục tồn tại công khai trên mạng xã hội trong nhiều năm, là một sự mâu thuẫn rất lớn.

Điều đó đặt ra câu hỏi: Hậu quả của hành vi có thật sự nguy hiểm như nội dung cáo buộc, hay bản chất của vụ án là việc xử lý cá nhân người phát ngôn?

Ngày 15/10/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Bản án hình sự phúc thẩm số 852/2024/HSPT, tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm 1 năm tù đối với tôi.

Xét về mặt thi hành án, đây là một tình huống đặc biệt: Tôi bị tuyên tổng cộng 12 tháng tù, đã được khấu trừ 77 ngày tạm giam trước đó. Tại thời điểm bản án phúc thẩm được tuyên, thời gian thực tế tôi còn phải chấp hành tại trại giam chỉ còn hơn 9 tháng.

Việc Tòa án cấp cao bác đơn kháng cáo của tôi đồng nghĩa với việc toàn bộ quá trình điều tra kéo dài hơn 11 tháng của Công an thành phố Hà Nội và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát được công nhận là có căn cứ. 

Tuy nhiên, những mâu thuẫn lớn nhất của vụ án vẫn chưa được giải quyết. Bản án phúc thẩm tiếp tục không tuyên buộc tôi phải gỡ bỏ các bài viết, clip bị cáo buộc vi phạm. Nếu những nội dung đó thật sự gây nguy hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, lợi ích tổ chức đến mức phải dùng bản án hình sự của Tòa án cấp cao để định tội, thì việc để các nội dung đó tồn tại nguyên vẹn trên không gian mạng sau hai cấp xét xử là điều rất khó lý giải.

Điều này khiến tôi  tin rằng cơ quan tư pháp tập trung xử lý con người tôi nhiều hơn là giải quyết hậu quả thực tế của hành vi bị cáo buộc.

Một vấn đề khác là quyền bào chữa của tôi. Tôi có ba luật sư. Việc đăng ký bào chữa được thể hiện qua ba văn bản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội:

– Thông báo về việc đăng ký bào chữa số 1219/TB-PC02 (Đ3) ngày 13/3/2023;

– Thông báo về việc đăng ký bào chữa số 1220/TB-PC02 (Đ3) ngày 13/3/2023;

– Thông báo về việc đăng ký bào chữa số 1221/TB-PC02 (Đ3) ngày 13/3/2023.

Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, cả ba luật sư đều không đến bào chữa dù Hội đồng xét xử có gửi giấy triệu tập.

Việc tồn tại ba văn bản đăng ký bào chữa hợp pháp từ giai đoạn điều tra nhưng khi xét xử lại hoàn toàn vắng bóng vai trò của các luật sư là một  trong những điểm khiến tôi cho rằng quyền bào chữa của bị cáo trong vụ án này cần được xem xét lại.

Nhìn lại toàn bộ hành trình từ tranh chấp khoảng 4 tấn kỷ vật chiến tranh tại Hà Giang đến bản án hình sự tại Hà Nội, tôi đã sử dụng tối đa quyền tố tụng của mình: Kiện 9 quan chức, trải qua 13 vụ kiện và nhận tổng cộng 26 bản án hành chính, dân sự. Trong đó, có 18 bản án được tòa án hai cấp ở Hà Giang xét xử trong  thời gian tôi đang bị điều tra, truy tố và xét xử hình sự tại Hà Nội. 

Tại Hà Nội, tôi bị khởi tố, điều tra và xét xử theo Điều 331 Bộ luật Hình sự. Tôi bị bắt ngày 12/1/2023, được tại ngoại ngày 30/3/2023, nhận Cáo trạng ngày 20/12/2023, bị xét xử sơ thẩm ngày 25/6/2024 và phúc thẩm ngày 15/10/2024.

Song song với quá trình đó, tại Hà Giang, tôi tiếp tục theo đuổi các vụ kiện dân sự đối với 9 quan chức địa phương. Từ tháng 7/2023 đến tháng 11/2024, các tòa án Hà Giang đã ban hành thêm 18 bản án, nâng tổng số lên 26 bản án trong 13 vụ kiện.

Điều đặc biệt là sau khi Tòa án Hà Nội tuyên tôi phạm tội ngày 25/6/2024, chỉ hơn một tháng sau, ngày 29/7/2024, Tòa án Hà Giang vẫn phải mở phiên tòa dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST để giải quyết đơn kiện của tôi. Đến ngày 5/11/2024, sau khi bản án hình sự phúc thẩm đã có hiệu lực, Tòa án tỉnh Hà Giang vẫn ban hành Bản án dân sự phúc thẩm số 24/2024/DS-PT.

Theo tôi, điều này cho thấy các đơn kiện của tôi có cơ sở về mặt thủ tục pháp lý. Nếu không đủ điều kiện, tòa án có thể trả lại đơn ngay từ đầu. Nhưng thực tế, các cơ quan tố tụng tại Hà Giang vẫn phải thụ lý, hòa giải, xét xử và ban hành 18 bản án.

Nhìn vào toàn bộ dòng thời gian này, tôi có thể đặt câu hỏi: Vì sao Công an thành phố Hà Nội lại bắt giam tôi vào ngày 12/1/2023, đúng thời điểm tôi đang liên tục thực hiện quyền khiếu kiện đối với nhiều quan chức ở Hà Giang?

Tôi tin rằng, việc khởi tố hình sự tôi theo Điều 331 đã trở thành một biện pháp nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm quyết tâm của một công dân đang sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, biện pháp đó đã không đạt được mục đích. Sau khi được tại ngoại ngày 30/3/2023, tôi tiếp tục theo đuổi các vụ kiện dân sự, buộc hệ thống tòa án Hà Giang phải mở liên tiếp các phiên xử và tạo ra thêm 18 bản án.

Nếu tôi không được tại ngoại, 18 bản án của 9 vụ kiện đối với 9 quan chức tại Hà Giang sẽ không thể tồn tại. 

Tôi bị bắt giam ngày 12/1/2023, được tại ngoại ngày 30/3/2023, bị tuyên án sơ thẩm 1 năm tù vào ngày 25/6/2024, bị xử phúc thẩm giữ nguyên án vào ngày 15/10/2024, đi thi hành án vào ngày 17/4/2025 và được Trại giam Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 44/GCN ngày 29/1/2026.

Việc chấp hành xong bản án không có nghĩa là tôi từ bỏ quyền kêu oan.

Tôi không biết việc minh oan cho mình có diễn ra trong tương lai gần hay không, nhưng với danh dự của một công dân, tôi sẽ tiếp tục cố gắng hết sức để kêu oan và tự minh oan cho chính mình. Bởi đối với tôi, danh dự là điều thiêng liêng và cao quý nhất.

Trần Vương Việt 

Tiếng Dân (01.08.2026)