Seite auswählen

„Không thể có sự hòa giải nào được xây dựng trên sự áp đặt một chiều, và càng không thể nói đến chuyện hòa hợp với người Việt hải ngoại khi ngay chính đồng bào quốc nội vẫn đang phải chịu đựng những di chứng nặng nề của một cơ chế kiểm soát khắc nghiệt.“

Liên minh vì Dân chủ cho Việt Nam

Suốt nhiều thập niên qua, trong các nghị quyết và diễn ngôn hướng về “bộ phận không tách rời của dân tộc”, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn thường xuyên sử dụng phương châm “Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” như một lời kêu gọi gửi tới Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại. Thế nhưng, lời kêu gọi ấy vẫn bị khước từ bởi sự thiếu vắng thành tâm và sự mâu thuẫn ngay trong chính đường lối cai trị của nhà nắm quyền. Không thể có sự hòa giải nào được xây dựng trên sự áp đặt một chiều, và càng không thể nói đến chuyện hòa hợp với người Việt hải ngoại khi ngay chính đồng bào quốc nội vẫn đang phải chịu đựng những di chứng nặng nề của một cơ chế kiểm soát khắc nghiệt.

Trước những hiểm họa địa chính trị đang đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) buộc phải biến khẩu hiệu ấy thành cuộc cách mạng tự thân: phải thực sự khép lại lịch sử áp đặt đối với toàn thể quốc dân đồng bào từ Bắc chí Nam, đồng thời dũng cảm hướng tới tương lai bằng cách dứt khoát thoát khỏi quỹ đạo ý thức hệ của Bắc Kinh để đưa dân tộc hội nhập hoàn toàn vào Thế giới Tự do.

 

Khép lại quá khứ: Chấm dứt cơ chế kiểm soát tư tưởng với đồng bào quốc nội và xóa bỏ hận thù với người Việt hải ngoại

Một sự thật lịch sử không thể phủ nhận là vết thương của dân tộc Việt Nam không chỉ bắt đầu từ biến cố tháng Tư năm 1975, và nạn nhân của sự chia rẽ ý thức hệ không chỉ có những người phải rời bỏ quê hương. Do đó, ĐCSVN buộc phải nhận thức rõ: “Khép lại quá khứ” trước hết phải là hành động chuộc lỗi và cởi trói cho gần một trăm triệu đồng bào ngay trong lòng đất nước.

Khép lại quá khứ đối với người dân quốc nội đòi hỏi Hà Nội phải dũng cảm nhìn nhận và chấm dứt chuỗi dài hơn tám mươi năm áp đặt mô hình chuyên chính tại miền Bắc và hơn nửa thế kỷ mở rộng cơ chế kiểm soát ấy trên phạm vi cả nước. Từ những bi kịch lịch sử như Cải cách ruộng đất, vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc trước đây, cho đến các chính sách cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản, vùng kinh tế mới và cơ chế hộ khẩu phân biệt lý lịch trên toàn quốc sau năm 1975—tất cả đã tạo nên một bầu không khí sợ hãi, kìm hãm tiềm năng và quyền tự do căn bản của người dân Việt. Khép lại quá khứ có nghĩa là ĐCSVN phải từ bỏ bộ máy công an trị, chấm dứt việc sử dụng các điều luật mơ hồ để đàn áp những tiếng nói phản biện ôn hòa, trả lại quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và quyền tư hữu tài sản thực sự cho người dân trong nước.

Song hành với việc cởi trói cho đồng bào quốc nội, đối với Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại, Hà Nội phải chấm dứt ngay lập tức tâm lý kiêu ngạo của “bên thắng cuộc”. Phải xóa bỏ những ngôn từ miệt thị, quy chụp chính thể Việt Nam Cộng Hòa trong sách giáo khoa và hệ thống tuyên truyền; phải xin lỗi cho cái gọi là “trại cải tạo” và đền bù cho gia đình của trên hai trăm ngàn người bị giết; phải trả lại sự tôn nghiêm và đối xử bình đẳng theo đạo lý “nghĩa tử là nghĩa tận” đối với Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cũng như di cốt của những chiến sĩ miền Nam đã vị quốc vong thân. Chừng nào người dân trong nước còn bị tước đoạt quyền làm chủ thực sự và người Việt hải ngoại còn bị ghép nhãn “thế lực thù địch”, chừng đó “khối đại đoàn kết dân tộc” vẫn chỉ là khẩu hiệu sáo rỗng, để lại một khoảng trống nội lực cực kỳ nguy hiểm trước họa ngoại xâm.

 

Hướng tới tương lai: Đoạn tuyệt với “cộng đồng chung vận mệnh” của Trung Cộng, trở về với Thế giới Tự do

Điểm cốt tử của mệnh lệnh “Hướng tới tương lai” ngày hôm nay không chỉ nằm ở những cải cách kinh tế bề nổi, mà chính là sự lựa chọn sinh tử về con đường đi của cả dân tộc mà ĐCSVN phải tự mình quyết định. Không một người Việt yêu nước nào, dù ở quốc nội hay hải ngoại, có thể chấp nhận một thể chế cam tâm liên kết vào cái gọi là “Cộng đồng chia sẻ tương lai” (hay Cộng đồng chung vận mệnh) với Trung Cộng—thế lực bá quyền đang ngày đêm từng bước xâm lấn Biển Đông và đe dọa chủ quyền Tổ quốc. Đó không thể là cái tương lai mà dân tộc hướng đến.

Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của tổ tiên đã chứng minh một chân lý bất di bất dịch: vận mệnh của dân tộc Việt Nam là vận mệnh của một quốc gia độc lập, tự chủ, tuyệt đối không bao giờ là một phần phụ thuộc hay chung vận mệnh với bất kỳ triều đại phương Bắc nào. Việc ĐCSVN duy trì sự tương đồng về mô hình chính trị toàn trị và ràng buộc ý thức hệ với Bắc Kinh chính là chiếc vòng kim cô nguy hiểm nhất kìm hãm sự phát triển của đất nước, đẩy Việt Nam vào thế lệ thuộc kinh tế và bị động về quốc phòng.

 

Do đó, để thực sự “Hướng tới tương lai”, bản thân ĐCSVN phải thực hiện một cuộc lột xác chính trị triệt để:

  • Thứ nhất, phải dứt khoát từ bỏ sự lệ thuộc về ý thức hệ và mô hình chế độ rập khuôn từ Bắc Kinh. Lợi ích tối thượng của gần một trăm triệu dân Việt trong nước không thể bị đem ra đánh đổi để bảo vệ sự tồn vong của một học thuyết ngoại lai đã lỗi thời.
  • Thứ hai, phải can đảm xoay trục về phía Thế giới Tự do. Sự thịnh vượng, văn minh và an ninh quốc gia của Việt Nam trong thế kỷ 21 chỉ có thể được bảo đảm khi đất nước đứng cùng chiến tuyến với các quốc gia dân chủ tiên tiến—nơi thượng tôn pháp luật, tôn trọng nhân quyền và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.
  • Thứ ba, phải thực thi dân chủ hóa và xây dựng nhà nước pháp quyền thực chất. Khi ĐCSVN từ bỏ mô hình độc đoán để trao trả quyền tự quyết cho nhân dân, bức tường ngăn cách sẽ tự khắc sụp đổ. Khi ấy, sức sáng tạo của gần một trăm triệu đồng bào trong nước kết hợp cùng tiềm lực hùng hậu về trí tuệ, khoa học kỹ thuật, tài chính và vị thế chính trị của Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại sẽ hội tụ thành một sức mạnh tổng hợp vô song để bảo vệ và xây dựng một đất nước xứng đáng với tiền nhân và hậu thế.

Liên minh vì Dân chủ cho Việt Nam