Căn cứ quân sự phi pháp của Bắc Kinh ở Biển Đông lộ điểm yếu chết người

Một tạp chí quân sự của Bắc Kinh nhận định, quy mô và vị trí của các căn cứ quân sự mà Trung cộng xây dựng phi pháp ở Biển Đông khiến chúng rất dễ tổn thương trước các cuộc tấn công.

Trung cộng ngang nhiên xây dựng các đảo nhân tạo trái phép trên Biển Đông. (Ảnh: AP)

Theo Trung tâm Nghiên cứu và Chiến lược Quốc tế (CSIS) của Mỹ, kể từ năm 2015, Trung cộng đã ngang nhiên chiếm đóng nhiều bãi đá và san hô ở trên Biển Đông và biến chúng thành các đảo nhân tạo phi pháp. Bất chấp sự lên án của cộng đồng quốc tế, Trung cộng đã quân sự hóa các đảo nhân tạo này với việc xây dựng cá đường băng, triển khai các hệ thống vũ khí.

Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP) dẫn phân tích của Naval and Merchant Ships, một tạp chí có trụ sở tại Bắc Kinh, đã chỉ ra 4 điểm yếu của các đảo nhân tạo này gồm: quá xa đất liền, kích thước nhỏ, các đường băng hạn chế và có thể bị tấn công từ nhiều phía.

Theo phân tích của tạp chí, các đảo này cách xa đất liền và không có một chuỗi chặt chẽ nào kết nối với chúng khiến việc viện trợ sẽ khó khăn nếu bị tấn công. Tạp chí này lấy ví dụ, Đá Chữ thập có một đường băng nhưng đường băng này cách thành phố ở tỉnh Hải Nam khoảng 1.000km, nghĩa là tàu tiếp viện từ đất liền cần hơn 20 giờ mới có thể tiếp cận.

Tạp chí lập luận, các đảo nhân tạo này quá xa để triển khai J-16, máy bay chiến đấu đa nhiệm hiện đại nhất của Trung cộng. Các máy bay J-16 không thể tuần tra khu vực này do khoảng cách xa và có thể dễ dàng bị ngăn chặn và tấn công bởi các tàu mặt nước.

Hầu hết các đảo này chỉ có một đường băng và không có không gian để triển khai nhiều máy bay cùng một lúc. Điều này có nghĩa là trong trường hợp xảy ra xung đột, một máy bay làm nhiệm vụ tiếp tế hoặc tiếp liệu sẽ phải nằm trên đường băng liên tục để ngăn các máy bay khác sử dụng đường băng. Ngoài ra, các đường băng này cũng dễ bị phá hủy bởi thủy triều và thời tiết nhiệt đới.

Tạp chí cũng chỉ ra, các đảo nhân tạo này quá nhỏ để có thể tồn tại trong một vụ tấn công quy mô lớn. Về cơ bản các đảo này có địa hình bằng phẳng, có rất ít thảm thực vật hoặc đá để che chắn trong trường hợp bị tấn công. Trung cộng có thể dựng các hầm trú ẩn bằng vật liệu như thép, nhưng chúng khó chống chịu được một cuộc tấn công tên lửa liên tiếp.

Dân Trí  (06.12.2020)

Trung cộng lo sợ nhóm Bộ Tứ Kim Cương

Nhóm Bộ Tứ (Quad) – gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, và Australia – là một „NATO châu Á“ hoặc „NATO thu nhỏ“ có mục đích kiềm chế Trung cộng, và cũng bài học của Đức từ Thế chiến 1 khiến Bắc Kinh lo lắng.

James Holmes, chủ tịch Chiến lược hàng hải J. C. Wylie thuộc Đại học Hải chiến Hoa Kỳ, cho rằng đến nay Bắc Kinh không hoàn toàn sai khi có nhận định như vậy.

Trong bài phân tích đăng trên tạp chí National Interest hôm 26/11, Holmes nói rằng 4 nước thành viên Bộ tứ cũng khiến nhiều người liên tưởng tới NATO. Hải quân 4 nước vừa kết thúc cuộc tập trận thường niên Malabar ở Biển Ả Rập, cho thấy các nước có thể phối hợp sức mạnh và kiềm chế Trung cộng khi tổ chức này cố gắng trở thành một “ông lớn” ở khu vực Ấn Độ Dương. Các lực lượng hải quân NATO thường có chung mục tiêu, tạo đối trọng với tham vọng của Nga ở Đại Tây Dương và các vùng biển lân cận.

Trên thực tế, Quad không phải là một liên minh thường trực được duy trì bởi một hiệp ước phòng thủ tập thể. Sự kết hợp này mang nhiều nét giống với „mối quan hệ thân ái“ trước Thế chiến 1 hơn là NATO.

Vào tháng 4/1904, chính phủ Pháp và Anh ký một loạt hiệp định giải quyết những bất đồng từ thời thuộc địa. Bỏ qua hàng thế kỷ thù hận qua lại, hai nước cùng nhau chống lại mối đe dọa chung là đế quốc Đức.

Hoàng đế Kaiser Wilhelm II của Đức và các phụ tá liên tục tìm cách phá vỡ những hiệp ước trong những năm sau đó, tuy nhiên các chiêu thức ngoại giao khéo léo của họ chỉ củng cố nó. Nga, đồng minh của Pháp cuối cùng cũng tham gia liên minh và trở thành „Liên minh 3 bên“. Kết quả là, một liên minh không chính thức đã được lập nên để chống lại Đức cùng đồng minh vào năm 1914.


Cuộc tập trận Malabar thường niên năm nay có sự tham gia của cả 4 nước thành viên Quad, gồm Mỹ, Nhật, Australia, Ấn Độ, mở màn ngày 3/11/2020 tại Vịnh Bengal (Ảnh: Twitter/@indiannavy)


Sự khác biệt so với các liên minh của Mỹ

Nền chính trị liên minh châu Âu trước Thế chiến 1 có thể khiến Bắc Kinh quan ngại, khi nó cho thấy một quốc gia trở nên hùng mạnh có thể trở thành động lực cho các nước đối thủ liên kết với nhau vì mục tiêu chung, ngay cả khi không tồn tại hiệp ước tương trợ ràng buộc các bên. Điều này cũng cho thấy các nước cũng có thể giành chiến thắng.

Bản thân NATO là một điều bất thường, cũng như giống như một loạt các liên minh mà Mỹ nắm quyền lãnh đạo kể từ năm 1945 tới nay.

Lord “Pug” Ismay, Tổng thư ký đầu tiên của NATO, đã tóm tắt mục tiêu tồn tại của liên minh một cách ngắn gọn nhưng rất chính xác: NATO sinh ra là để ngăn chặn sự xâm nhập từ Nga, gạt Mỹ ra rìa và khiến Đức thất vọng. Tuy vậy, đó chỉ là khẩu hiệu. Nước Mỹ là thành viên của NATO và nước này thậm chí chẳng cần lời mời nào. Điều này khiến các nước đồng minh dễ dàng hơn về mặt chính trị khi yêu cầu Mỹ ở lại, giữ Liên Xô không vượt qua Bức màn Sắt và kiềm chế chủ nghĩa phát xít mới ở Đức.

Cách lập luận tương tự cũng diễn ra ở châu Á, nơi sự thất bại của phát xít Nhật trong Thế chiến 2 đã chia nhỏ khu vực, bao gồm cả khu vực do quân đội Mỹ chiếm đóng. Liên minh an ninh Mỹ-Nhật là một hình thức „NATO song phương“ nhằm ngăn cản sự xâm nhập của người Nga và Trung cộng, giúp Mỹ tham gia và khiến Nhật Bản thất vọng.

Do bị tàn phá trong Thế chiến 2 và chiến tranh bán đảo, Hàn Quốc đã chấp thuận sự hiện diện quân sự hùng hậu của quân Mỹ để bảo vệ lãnh thổ trước Triều Tiên.

Ông James Holmes chỉ ra, đánh giá của Ismay đã trở thành một kim chỉ nam hiệu quả để đánh giá các liên minh do Mỹ lãnh đạo. Kim chỉ nam này cho thấy Quad không giống các liên minh lâu đời khác khi Mỹ không đóng quân tại các nước thành viên của liên minh. Sự hiện diện của quân Mỹ ở Nhật đã có từ rất lâu trước sự ra đời của Quad. Trên thực tế, bộ đôi Mỹ-Nhật đang ngày càng trở thành một liên minh ngang hàng.

Australia là đồng minh thân cận của nước Mỹ. Tuy nhiên, giới chức của họ vẫn không hào hứng với ý tưởng binh lính Mỹ đóng quân thường trực ở nước này và có thể đẩy Canberra vào những rắc rối không mong muốn. Chính phủ Australia cho phép thủy quân lục chiến Mỹ triển khai đóng quân luân phiên tại cảng Darwin, tình hình gần như tương đồng với Châu Âu hoặc Đông Á trong thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh.

Giới chức New Delhi đi tiên phong trong việc phi liên kết trong Chiến tranh Lạnh. Nước này có một mối quan hệ đôi khi căng thẳng với Mỹ (và một mối quan hệ nồng ấm với Liên Xô). Và một truyền thống tự chủ là đặc điểm nổi bật trong văn hóa chiến lược của Ấn Độ. New Dehli luôn coi mình là một cường quốc trong khu vực Ấn Độ Dương. Không một cường quốc nào dễ dàng khuất phục trước sức mạnh của một liên minh do nước ngoài đứng đầu, chưa nói đến việc cho phép nước khác thiết lập sự hiện diện quân sự thường trực trên lãnh thổ của mình. Chỉ khi bị dồn tới đường cùng, New Delhi mới quyết định quên đi quyền tự chủ chiến lược.


Một phiên họp của Ngoại trưởng các nước nhóm Quad tại New York, Mỹ (Ảnh: The Hindu)


Quad không phải là NATO

Theo Holmes, Quad là một lựa chọn và đặt nền tảng cho các hoạt động đa quốc gia nếu các nhà lãnh đạo của Quad phát triển tổ chức theo xu hướng này mà không phải cam kết vào vào các hoạt động tập thể mà các nước không muốn tham gia.

Hoạt động tập trận như Malabar giúp các đối tác quen thuộc hệ thống vũ khí, quy trình, chiến thuật và những điều khác biệt trong văn hóa của nhau. Các hoạt động như vậy giúp xây dựng “khả năng tương tác” hoặc thậm chí “khả năng thay thế lẫn nhau” giữa các đối tác đặc biệt thân thiết. Kĩ năng tích lũy trong thời bình sẽ trở nên hữu ích khi xảy ra chiến tranh.

Quad sinh ra để làm gì?

Là một chiến lược – đặc biệt trong lĩnh vực quân sự và hải quân – ngăn chặn [Trung cộng] là một phép ẩn dụ phù hợp, theo James Holmes. Điều này thể hiện rõ ràng nhất ở khu vực Đông Á, nơi các lực lượng Mỹ đang sắp xếp lại cơ cấu để sẵn sàng triển khai hoạt động quân sự tại các hòn đảo, phủ nhận quyền kiểm soát vùng biển và không phận của hải quân và không quân Trung cộng. Cách tiếp cận này được trích dẫn từ kịch bản Chiến tranh Lạnh, từ những ngày Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson đề xuất biến chuỗi đảo đầu tiên trở thành “vành đai phòng thủ ở Thái Bình Dương” của Mỹ.

Cách tiếp cận này cũng áp dụng ở Ấn Độ Dương, mặc dù theo kiểu phân tán hơn và không quá ấn tượng khi được thể hiện trên bản đồ. Việc kiềm chế những nỗ lực giành quyền kiểm soát quân sự ở các cảng biển tại Ấn Độ Dương của Bắc Kinh bản thân là một cách thức hiệu quả nhằm hạn chế mở rộng tầm ảnh hưởng về hàng hải của Trung cộng.

Các thành viên Quad có thể né tránh nói về sự ngăn chặn. Họ cần tính chính xác khi phải lý giải mục đích của nhóm và cách thức các nước định vận dụng sức mạnh để đạt được mục tiêu này. Điều này có nghĩa là các thành viên Quad cần thận trọng về các thuật ngữ sử dụng để mô tả chính sách của họ đối với Trung cộng. Nhưng về mặt quân sự, họ cần làm rõ ràng ý nghĩa này và quên đi những chiến thuật từ thời Chiến tranh Lạnh.

VietBF (06.12.2020)

Nguồn lực hỗ trợ hạm đội đánh cá ăn cướp của Trung cộng

Nếu không được hậu thuẫn hàng trăm triệu USD để duy trì hoạt động và sức ảnh hưởng trên lãnh hải quốc tế, thì những tàu cá bất hợp pháp của Trung cộng sẽ không thể tồn tại lâu dài được.

Hàng loạt các vụ va chạm giữa tàu cá Trung cộng hoạt động bất hợp pháp với ngư dân bản địa và lực lượng tuần duyên các nước liên tiếp được ghi nhận trong 5 năm trở lại đây.

Với quy mô ước tính từ 200.000 đến 800.000 tàu, hạm đội đánh bắt hải sản bất hợp pháp đến từ Trung cộng có phạm vi hoạt động trải dài trên nhiều vùng biển rộng lớn khác nhau.

Quy mô và phạm vi hoạt động

Vào tháng 11/2016, cảnh sát biển Hàn Quốc đã nổ súng vào hai tàu cá Trung cộng đe dọa đâm vào tàu tuần duyên ở Hoàng Hải.

Cùng năm, Argentina đã đánh chìm một thuyền Trung cộng với cáo buộc đánh bắt trái phép trong vùng biển của quốc gia Nam Mỹ này.

Vào tháng 5/2019, khoảng 20 tàu cá treo cờ Trung cộng bị phát hiện tiến vào hải phận Triều Tiên, ngang nhiên vi phạm quy định của Liên Hợp Quốc.

Theo điều tra của NBC, nhóm tàu nói trên là một phần của hạm đội đánh bắt hải sản bất hợp pháp lớn nhất thế giới với hơn 800 tàu cá từ Trung cộng hoạt động trên Biển Nhật Bản (vùng biển Hàn Quốc gọi là biển Đông) và khu vực lân cận.

Giới quan sát nhận định rằng vụ việc nói trên giúp lý giải sự biến mất của hơn 70% trữ lượng mực ở Biển Nhật Bản.

Nhóm tàu Trung cộng xâm phạm hải phận Triều Tiên vào năm 2019. Ảnh: Reuters.

Cùng năm, các sĩ quan tuần dương Gambia đã bắt giữ 15 tàu nước ngoài vì hoạt động trái phép gần bờ biển Tây Phi. 14 tàu trong số đó đến từ Trung cộng.

Vào tháng 7, hơn 340 tàu Trung cộng đã tiếp cận Khu bảo tồn đa dạng sinh học biển Galápagos. Hầu hết thuyền này đều có liên quan đến hoạt động đánh cá bất hợp pháp, theo South China Morning Post.

Vào năm 2017, một hạm đội có kích thước tương tự cũng đã bị giới chức Ecuador bắt vì khai thác trái phép 300 tấn hải sản, trong đó có nhiều loài nguy cấp như cá nhám búa.

Indonesia, Nam Phi và Phi Luật Tân gần đây đều có những cuộc đụng độ với các đội tàu đánh bắt mực đến từ Trung cộng.

Sự thống trị trên các đại dương của nhóm tàu đánh bắt đến từ Trung cộng làm dấy lên câu hỏi xoay quanh thế lực đứng sau hạm đội này.

Nguồn lực hậu thuẫn khổng lồ

Phóng viên điều tra Ian Urbina của tờ New York Times cho rằng nguyên nhân cho sự trợ lực nói trên từ lâu đã rõ ràng: nhằm đảm bảo nguồn thực phẩm cho 1,4 tỷ dân và duy trì ảnh hưởng địa chính trị của Trung cộng.

Khi Hải quân Mỹ rút khỏi vùng biển Tây Phi và Trung Đông, chính quyền Bắc Kinh đã tăng cường sự hiện diện của lực lượng khai thác hải sản và tàu hộ vệ ở những hải phận này

Ngoài ra, Trung cộng nỗ lực xâm lấn và vi phạm luật biển quốc tế ở những khu vực giàu tiềm năng về trữ lượng dầu khí như Biển Đông và vùng ven Bắc Cực, theo South China Morning Post.

“Quy mô và mức độ hung hăng của hạm đội đánh cá trái phép giúp Trung cộng nắm quyền kiểm soát trên nhiều vùng biển”, Giám đốc Gregory Poling của Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á thuộc viện nghiên cứu CSIS nhận định.

Giám đốc Gregory Poling của Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á. Ảnh: Diplomat.


Ông Poling cũng nhấn mạnh rằng có rất ít quốc gia sẵn sàng phản kháng khi các tàu cá Trung cộng xâm phạm lãnh hải của họ.

Trữ lượng hải sản trong vùng biển Trung cộng từ lâu đã cạn kiệt vì bị khai thác quá mức và chịu ảnh hưởng từ quá trình công nghiệp hóa quá nhanh. Tình trạng đó buộc khoảng 2.600 tàu cá nước này phải mạo hiểm đánh bắt xa bờ để đảm bảo nguồn cung hải sản cho 1,4 tỷ dân.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Stimson, con số nói trên lớn gấp ba lần tổng số tàu cá của Nhật Bản, Đài Loan (vùng lãnh thổ tự trị mà Trung cộng tuyên bố là một tỉnh ly khai), Hàn Quốc và Tây Ban Nha cộng lại.

Theo South China Morning Post, hạm đội đánh cá bất hợp pháp của Trung cộng không có đối thủ về mặt quy mô và phạm vi hoạt động. Ảnh: AFP.


Chưa hết, con số 2.600 tàu thuyền đánh bắt xa bờ chỉ là dữ liệu được công khai bởi chính phủ Trung cộng. Vẫn còn nhiều tàu cá nước này hoạt động mà không bị kiểm soát và thống kê, theo South China Morning Post.

“Nếu không nhận được sự hậu thuẫn khổng lồ, hạm đội đánh bắt hải sản của Trung cộng sẽ có quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với hiện tại. Nhóm tàu này nhiều khả năng cũng sẽ không thể mở rộng phạm vi hoạt động trên Biển Đông”, ông Poling nhận xét.

Giáo sư Tabitha Grace Mallory thuộc Đại học Washington cho biết chính phủ Trung cộng đã chi hàng tỷ USD hỗ trợ ngành cá nước này trong hai thập kỷ qua.

Vào năm 2018, trợ cấp ngư nghiệp toàn cầu vào khoảng 35,4 tỷ USD, riêng Trung cộng chiếm 7,2 tỷ USD.

Số tiền khổng lồ nói trên được dùng để cải thiện động cơ, vỏ thép và trang thiết bị y tế trên tàu để ngư dân kéo dài thời gian bám biển.

Bên cạnh đó, chính phủ Trung cộng còn cung cấp thông tin tình báo cho các tàu cá nước này để tiếp cận những vùng biển giàu trữ lượng tài nguyên nhất.

Điều tra viên Daniel Pauly của Đại học British Columbia cho rằng sự hậu thuẫn của chính quyền Bắc Kinh không chỉ làm gia tăng căng thẳng tại các vùng biển tranh chấp mà còn “trực tiếp dẫn đến sự cạn kiệt nguồn cá và đa dạng sinh học”.

Theo Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc, hiện 90% trữ lượng các loài cá được phép đánh bắt đã bị khai thác quá mức và không thể tự phục hồi.

Trung cộng cũng là nước vi phạm luật “khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định” (IUU) nghiêm trọng nhất, theo thống kê của Poseidon Aquatic Resource Management.

Điều tra viên Daniel Pauly cho rằng sự trợ lực của Trung cộng đối với các tàu cá bất hợp pháp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả môi trường biển lẫn tình hình ổn định khu vực. Ảnh: Sea Around Us.

Một trong những lý do khiến quy mô hạm đội tàu cá Trung cộng phình to với tốc độ bất thường nằm ở những mục đích khác ngoài việc khai thác hải sản đơn thuần.

Bên cạnh những khoản trợ cấp cho hoạt động đánh bắt xa bờ, chính quyền Bắc Kinh còn có chương trình khuyến khích tàu thuyền Trung cộng hoạt động trong các hải phận tranh chấp như một cách để khẳng định chủ quyền.

Theo VietBF

Chuyên gia Mỹ : Trung cộng « ngang nhiên » tuần tra các vùng biển Phi Luật Tân

Ảnh tư liệu, 23/09/2015, một tàu hải cảnh Trung cộng hoạt động trong vùng biển Scarborough, tranh chấp chủ quyền với Phi Luật Tân. AP – Renato Etac

Đại dịch Covid-19 đã không ngăn cản hoặc kềm hãm bớt Trung cộng triển khai các tàu tuần duyên « xung quanh các địa điểm mang tính biểu tượng quan trọng » ở Biển Tây Phi Luật Tân, kể cả việc thâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Phi Luật Tân ở bãi cạn Scarborough và bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal).

Theo Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI), trực thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ, các phân tích dữ liệu hệ thống nhận dạng tự động (AIS), chuyên theo dõi vị trí tầu thuyền trên biển mà trang mạng Marine Traffic thu thập được, cho thấy là Trung cộng dường như cố ý tăng cường sự hiện diện của mình tại những bãi cạn trên.

AMTI nêu rõ trong khoảng thời gian từ ngày 01/12/2019 – 30/11/2020, các đội tầu tuần duyên của Trung cộng không chỉ duy trì « sự hiện diện lâu dài » tại những bãi cạn Scarborough, bãi Cỏ Mây và bãi Luconia, mà còn dường như đã « gia tăng tần số tuần tra » trong suốt giai đoạn dịch bệnh.

Cụ thể là 287 trong số 366 ngày gần đây, ít nhất có một và thường là hai tầu cảnh sát biển Trung cộng phát sóng tín hiệu từ bãi cạn Scarborough. AMTI cho rằng đây là « một mức tăng đáng kể » so với 162 ngày trong năm 2019.

Theo nhận định của AMTI, « việc các tầu tuần tra Trung cộng phát sóng thường xuyên hệ thống nhận dạng tự động từ những bãi cạn trên, vốn dĩ không thuộc chủ quyền của Trung cộng, cho thấy là Bắc Kinh cố ý đánh đi tín hiệu đòi hỏi chủ quyền của mình ».

AMTI còn ghi nhận rằng điều đáng chú ý là bãi Tư Chính, ngoài khơi đông nam của Việt Nam cũng đã được bổ sung vào trong lộ trình tuần tra thường xuyên của tuần duyên Trung cộng. Đây là địa điểm gây căng thẳng giữa Việt Nam và Trung cộng trong nhiều tháng liên quan đến các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Hà Nội trong năm 2019.

Vẫn theo tổ chức tư vấn này của Mỹ, số tầu cảnh sát biển của Trung cộng đếm được trong những vùng biển có tranh chấp rất có thể « thấp hơn nhiều » so với thực tế. Bởi vì, có rất nhiều tầu chiến của tuần duyên Trung cộng che giấu sự hiện diện khi không phát các tín hiệu AIS.

Từ những quan sát trên, các nhà phân tích của AMTI cho rằng đại dịch Covid-19 là một tấm bình phong che giấu cho việc thực hiện các hành động hung hăng của Trung cộng đòi hỏi chủ quyền trên gần hầu hết diện tích Biển Đông, kể cả những vùng lãnh hải phía tây thuộc chủ quyền Phi Luật Tân.

RFI (05.12.2020)

Tiếp tục khiến Trung cộng bất an, Mỹ điều thêm quân đến vùng biển quan trọng

Ảnh: Reuters

Chính quyền TT Donald Trump đang tìm cách tăng cường sự hiện diện của Hải quân Mỹ trên các tuyến đường biển quan trọng ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tới khu vực phía bắc Australia để ngăn chặn bất kỳ sự bành trướng nào của Trung cộng, theo ABC News hôm 3/12.

Bộ trưởng Hải quân Mỹ Kenneth Braithwaite tuyên bố ông sẽ cải tổ Hạm đội 1 của Hải quân sau gần 5 thập kỷ. Hạm đội sẽ cung cấp thđêm nhiều tàu và thủy thủ đến các vùng biển ngoài khơi Đông Nam Á và phía tây Ấn Độ Dương, bao gồm eo biển Malacca của Malaysia, nơi vận chuyển phần lớn nguồn cung dầu và hàng hóa trong khu vực bằng đường biển.

Chia sẻ tại Ủy ban Dịch vụ Vũ trang của Thượng viện Mỹ, ông cho biết động thái này nhằm “cải thiện vị thế của chúng ta ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương” và “củng cố niềm tin của các đối tác và đồng minh” đối với cam kết hiện diện của Mỹ tại khu vực, đồng thời “đảm bảo tính pháp quyền và tự do hàng hải” tại khu vực.

Hải quân Mỹ có sáu hạm đội “được đánh số”, với mục đích chống lại các mối đe dọa đối với người dân Mỹ và lợi ích chung của thế giới. Trong nhiều lần thay đổi các ưu tiên quân sự của mình, Hải quân Hoa Kỳ đã không sử dụng đến Hạm đội 1 kể từ năm 1973, tức cách đây gần 5 thập kỷ.

Nhà phân tích quốc phòng cấp cao Derek Grossman của Viện chính sách Rand Corporation cho rằng quyết định hiện diện quân sự thường xuyên hơn ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương như vậy là đúng đắn.

Ông nhận định Mỹ cần phối hợp với Ấn Độ và các nước cùng chí hướng khác như Australia và Nhật Bản để tăng cường tuần tra khu vực này nhằm bảo vệ các tuyến đường biển này trước nguy cơ xâm lấn của Trung cộng.

Vị cựu quan chức tình báo nhận định quyết định này sẽ khiến Bắc Kinh cảm thấy bất an hơn về tình hình mới tại eo biển Malacca, bởi nước này có nỗi sợ hãi thường trực rằng trong trường hợp xảy ra xung đột, họ có thể bị Mỹ phong tỏa nguồn cung dầu và các tài nguyên quan trọng khác.

Ở góc độ vĩ mô, việc Mỹ tiếp tục xoay trục quân sự về khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương là tín hiệu tái khẳng định rằng tham vọng của ĐCSTQ ở Biển Đông và các khu vực khác sẽ không bị phớt lờ.

Đại Kỷ Nguyên (05.12.2020)

Ý đồ đối phó Mỹ khi Trung cộng đặt trái phép radar ở Trường Sa

Mạng lưới radar và liên lạc Trung cộng bố trí trái phép ở Trường Sa có thể nhằm giành lợi thế trước Mỹ trên Biển Đông, theo giới chuyên gia.

„Bắc Kinh cần thực hiện các biện pháp đối phó với chiến thuật vùng xám của Washington, khiến Mỹ nhận ra rằng Trung cộng không thụ động chờ đón chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của họ, mà là một thành viên chủ chốt có vai trò trong khu vực“, tạp chí quân sự Thương thuyền và Chiến thuyền của Tập đoàn Đóng tàu Nhà nước Trung cộng (CSSC) đầu tháng 12 đăng bài viết có đoạn.

Bài viết trên cáo buộc Mỹ đang „tạo ra vùng xám“ bằng cách thành lập liên minh „tiểu NATO“ trên Thái Bình Dương với sự góp mặt của Ấn Độ, Singapore, đảo Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tác giả bài viết cho rằng ưu thế trong mặt trận thông tin liên lạc có thể là cách hiệu quả nhất để đánh bại Mỹ khi nổ ra xung đột trên Biển Đông, khi các thực thể Trung cộng bồi đắp trái phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam có thể bảo đảm mạng lưới liên lạc không gián đoạn giữa đầu não chỉ huy quân sự ở Bắc Kinh với tiền tuyến.

Các chuyên gia phương Tây cho rằng bài viết này phần nào hé lộ ý đồ của Trung cộng khi bố trí mạng lưới thông tin liên lạc và radar cảnh giới quy mô lớn trên các đảo nhân tạo phi pháp ở Trường Sa. Chúng dường như là công cụ đóng vai trò quyết định trong kế hoạch kiểm soát khủng hoảng của Bắc Kinh khi căng thẳng với Washington leo thang tại Biển Đông.

Cụm cảm biến Trung cộng triển khai trái phép trên đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh: CSIS.

Trung cộng chiếm đóng và bồi đắp trái phép 7 đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam thành đảo nhân tạo trong giai đoạn 2013-2017, quân sự hóa chúng thành tiền đồn trên biển khi xây dựng đường băng, bố trí nhiều hệ thống radar và thông tin liên lạc.

Việt Nam có đầy đủ bằng chứng và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với luật pháp quốc tế, đồng thời đã nhiều lần đề nghị Trung cộng dừng các hành động trái phép, làm phức tạp thêm tình hình, đe dọa hòa bình và ổn định tại Biển Đông.

Michael Dahm, cựu sĩ quan tình báo hải quân Mỹ và nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Vật lý Ứng dụng thuộc Đại học Johns Hopkins tại Mỹ, cho rằng mục đích chủ yếu của Trung cộng khi bồi đắp các đảo nhân tạo là giành ưu thế thông tin và đối phó lợi thế quân sự của Mỹ trong khu vực. „Chúng được trang bị năng lực chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy tính, tình báo, do thám và trinh sát (C4ISR) đáng kể“, ông nhận xét.

Collin Koh, chuyên gia thuộc trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam của Singapore, cho rằng các tiền đồn Trung cộng xây dựng trái phép ở Trường Sa có thể là yếu tố giúp tăng gấp nhiều lần sức mạnh cho quân đội Trung cộng cả trong thời bình và các xung đột tiềm tàng.

„Trong thời chiến, chúng có thể là các điểm cung cấp dữ liệu tình báo, do thám và trinh sát (ISR), cho phép quân đội Trung cộng mở rộng khả năng tiến công ra phạm vi ngoài Biển Đông, nhất là với những khu vực rộng như tây Thái Bình Dương“, ông cho hay, thêm rằng các đảo nhân tạo này cũng đóng vai trò thiết yếu để ngăn Washington can thiệp khi bùng phát xung đột giữa Bắc Kinh và đảo Đài Loan.

„Quân đội Trung cộng có thể sử dụng các tiền đồn ở Trường Sa để phát hiện và ngăn chặn lực lượng Mỹ từ hướng đó, hoặc mở chiến dịch tiến công thọc sườn đảo Đài Loan từ phía nam, trong đó eo biển Ba Sĩ, cửa ngõ vào Biển Đông, là vị trí rất quan trọng“, Koh nói thêm.

7 thực thể bị Trung cộng chiếm đóng và cải tạo trái phép ở Trường Sa. Đồ họa: New York Times.

Chuyên gia Dahm cho rằng máy bay cảnh báo sớm KJ-500 và một số phương tiện bay không người lái có thể biến thành trạm chuyển tiếp liên lạc trên không giữa các đảo nhân tạo, đảo Hải Nam và đại lục trong trường hợp khẩn cấp, đề phòng mạng lưới thông tin truyền thống bị hư hại hoặc gián đoạn khi nổ ra xung đột.

„Ở thời đại thông tin, quân đội Trung cộng tin rằng thành công trong chiến đấu sẽ được hiện thực hóa bằng ưu thế thông tin liên lạc trong không gian tác chiến“, Dahm nhận định.

Trung cộng đã xây dựng trái phép 27 cấu trúc dạng mái vòm lớn trên các đảo nhân tạo ở Trường Sa để cung cấp khả năng cảnh giới mặt biển và bầu trời, trong đó 7 hệ thống nằm tại đá Chữ Thập, Subi và Vành Khăn. Hệ thống cáp quang ngầm dưới biển và vệ tinh quỹ đạo thấp cũng tạo thành mạng lưới thông tin liên lạc thông suốt giữa các đảo nhân tạo và đại lục.

Bài viết trên tạp chí Thương thuyền và Chiến thuyền cho biết hệ thống ISR của Trung cộng ở Trường Sa đủ sức làm gián đoạn mạng lưới liên lạc của quân đội Mỹ. Zhou Chenming, chuyên gia quân sự tại Bắc Kinh, cho biết những hệ thống này có thể theo dõi hoạt động của căn cứ không quân Mỹ tại đảo Palawan, Phi Luật Tân, cách đá Vành Khăn khoảng 350 km.

Tuy nhiên, các chuyên gia Trung cộng cũng thừa nhận các đảo nhân tạo này rất dễ tổn thương trước những đòn tấn công trực tiếp, do vị trí quá xa đất liền và không có khả năng phòng thủ thực sự. Họ cho rằng Bắc Kinh cần duy trì trạng thái „cảnh giác cao“ sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ hồi tháng 7 công bố lập trường về vấn đề Biển Đông, bác bỏ gần như toàn bộ yêu sách chủ quyền của Trung cộng.

Zhou tuyên bố Trung cộng đã biến các đảo nhân tạo tại Trường Sa thành những cơ sở tình báo, do thám và trinh sát hiện đại nhất của nước này và quân đội Mỹ „sẽ trả giá rất đắt“ nếu tấn công chúng.

„Mỹ có thể triển khai nhóm tác chiến tàu sân bay, oanh tạc cơ chiến lược hay thậm chí là tàu ngầm mang tên lửa hành trình Tomahawk để phá hủy toàn bộ chuỗi đảo nhân tạo, nhưng hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Trung cộng sẽ đáp trả bằng cách tập kích căn cứ Mỹ ở Đông Á và Tây Á“, bài viết trên tạp chí Thương thuyền và Chiến thuyền có đoạn.

Đá Vành Khăn bị Trung cộng cải tạo trái phép và quân sự hóa. Ảnh: Maxar.

Antony Wong Tong, chuyên gia quân sự tại Macau, cho rằng bài viết trên tạp chí này đề cập đến những căn cứ Mỹ tại quần đảo Diego Garcia trên Ấn Độ Dương và đảo Guam ở Thái Bình Dương. „Căn cứ Diego Garcia và Guam có thể coi là hai tàu sân bay không chìm của Mỹ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những đảo nhân tạo được Trung cộng xây dựng tại Trường Sa có thể được coi là bản sao chép của chúng“, ông nói.

Nguồn tin giấu tên tại Bắc Kinh cho biết giới lãnh đạo Trung cộng hiểu rằng „một cuộc chiến sống còn“ sẽ xảy ra nếu hai bên không xuống thang ở Biển Đông. „Quân đội Trung cộng đã chủ động thể hiện thiện chí với Lầu Năm Góc nhằm ngăn thảm kịch không thể đảo ngược, trong bối cảnh trinh sát cơ và oanh tạc cơ Mỹ tăng cường hoạt động gần bờ biển Trung cộng“, nguồn tin cho hay.

Thương thuyền và Chiến thuyền cho biết máy bay quân sự Mỹ đã tiến hành 3.000 nhiệm vụ trên Biển Đông trong 6 tháng đầu năm 2020, cùng với đó là hàng trăm lần hoạt động của tàu hải quân.

Lầu Năm Góc cuối tháng 10 bác bỏ tin đồn cho rằng Mỹ đã lên kế hoạch tấn công các đảo nhân tạo do Trung cộng xây dựng trong khu vực, sau hàng loạt cuộc đối thoại cấp cao tập trung vào quản lý khủng hoảng. Bắc Kinh và Washington cũng đồng ý đối thoại về an ninh hàng hải trước khi hết năm 2020.

 (Theo SCMP)

VNexpress (05.12.2020)

Phi Luật Tân xác nhận đã đuổi tàu Trung cộng xâm nhập lãnh hải vào tháng 9/2020

Ảnh minh họa. Lực lượng tuần duyên Phi Luật Tân tại khu vực gần đảo Thị Tứ. Hình chụp ngày 21/7/17.  AFP

Quân đội Phi Luật Tân đã đuổi một tàu thăm dò của Trung cộng mà Phi cho là xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Trung tướng Arnulfo Burgos, Tư lệnh Bộ Chỉ hủy Bắc Luzon, trong buổi họp báo vào ngày 2/12 xác nhận thông tin vừa nêu và được tờ Inquirer loan đi.

Ông Arnulfo Burgos nói rằng đã có những báo cáo trước đây cho thấy có sự hiện diện của tàu thăm dò Trung cộng trong vùng biển Phi Luật Tân,  ở vị trí cách đảo Calayan khoảng 180km về phía Tây vào ngày 18/9 và một máy bay quân sự của Phi được điều động đến khu vực này.

Máy bay quân sự của Phi áp sát tàu thăm dò của Trung cộng và phát tín hiệu cảnh báo. Chiếc tàu này cũng đã phản hồi lại tín hiệu cảnh báo đó. Đến này thứ nhì, chiếc tàu được nói là vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi Luật Tân, nhưng đã cách xa bờ hơn và đến ngày thứ ba thì hoàn toàn ra khỏi vùng biển của Phi Luật Tân. 

Trung tướng Arnulfo Burgos nói rằng đây không phải là một sự xâm nhập cố ý vào lãnh hải của Phi, vì do điều kiện thời tiết xấu nên tàu thăm dò của Trung cộng tìm nơi trú ẩn an toàn.

Trung tướng Arnulfo Burgos cho biết báo cáo sẽ được trình lên cấp thẩm quyền cao hơn để có hành động tương thích.

Inquirer dẫn nguồn tin từ Chính phủ Phi Luật Tân cho biết Phi đã chuẩn bị một công hàm ngoại giao phản đối vụ xâm nhập của tàu thăm dò Trung cộng. 

RFA (04.12.2020)

Biển Đông: Hà Nội yêu cầu Trung cộng và Đài Loan tôn trọng chủ quyền Việt Nam

Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng. AP – Hau Dinh

Ngày 03/12/2020, Hà Nội đã yêu cầu Bắc Kinh tôn trọng chủ quyền của Việt Nam tại nhiều vùng ở Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Cùng ngày, Hà Nội cũng phản đối việc Đài Loan tổ chức tập trận bắn đạn thật ở Trường Sa, xem đây là hành động vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.

Trong buổi họp báo, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng, nhắc lại : « Như đã nhiều lần khẳng định, mọi hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự cho phép của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và không có giá trị pháp lý ».

Theo báo chí trong nước, chính phủ Việt Nam đã có phản ứng như trên sau khi phía Trung cộng, cụ thể là chính quyền tỉnh Hải Nam, thông báo mở lại các tuyến du lịch đường biển đến các quần đảo Hoàng Sa và Hải quân Trung cộng tổ chức tiếp đón tàu bệnh viện tại bãi Đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa.

Vẫn theo phát biểu của bà Lê Thị Thu Hằng, « Việt Nam đề nghị Trung cộng nên hủy và chấm dứt tổ chức các chuyến tham quan đến quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, cũng như ngưng các hành động làm gia tăng căng thẳng và gây phức tạp thêm cho tình hình khu vực, đi ngược lại với Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và gây bất lợi cho việc gìn giữ hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông, cũng như là nỗ lực của các nước trong việc đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) và quan hệ giữa hai nước. »

Khi được hỏi về các cuộc tập trận bắn đạn thật của Đài Loan, được tổ chức hôm 24/11/2020 xung quanh đảo Ba Bình ở Trường Sa mà Việt Nam và Đài Loan cùng tranh chấp chủ quyền, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao khẳng định những hoạt động trên của Đài Bắc rõ ràng đã „vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn hàng hải và an ninh, gây căng thẳng và phức tạp thêm cho tình hình Biển Đông“.

RFI (04.12.2020)

Việt Nam-Nhật Bản tăng cường hợp tác quốc phòng

Quang cảnh buổi gặp gỡ giữa Thứ trưởng Quốc phòng-Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến (bên phải, ở giữa) và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Yamada Takia (bên trái, ở giữa), ngày 4/12/2020. Courtesy of qdnd.vn

Việt Nam và Nhật Bản hài lòng với những kết quả hợp tác quốc phòng trong thời gian qua và sẽ tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ này giữa hai nước ngày càng thiết thực và hiệu quả.

Nội dung vừa nêu được Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Yamada Takia đề cập đến trong buổi gặp gỡ, tại trụ sở Bộ Quốc Việt Nam vào sáng ngày 4/12.

Thành tựu trong hợp tác quốc phòng Việt-Nhật được Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến và ông Yamada Takia nêu ra là nhờ vào việc tích cực triển khai các nội dung hợp tác theo các thỏa thuận đã ký; trong đó, có Bản ghi nhớ về hợp tác và trao đổi quốc phòng song phương và Tuyên bố Tầm nhìn chung hợp tác quốc phòng hướng tới thập niên tiếp theo.

Đại diện của Việt Nam và Nhật Bản cùng đồng ý sớm triển khai các nội dung hợp tác quốc phòng song phương ngay sau khi dịch COVID-19 được không chế, trong đó có những hoạt động về trao đổi đoàn, hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy nhanh tiến độ hoàn chỉnh dự thảo các văn bản hợp tác quốc phòng để có thể sớm triển khai ký kết trong thời gian tới.

Trước đó, trong buổi tiếp xúc với Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam-Đại tướng Ngô Xuân Lịch, hồi hạ tuần tháng 7, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Yamada Takia cũng khẳng định sẽ cố gắng đóng góp thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản, trong đó có lĩnh vực quốc phòng ngày càng phát triển.

RFA (04.12.2020)

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen