Máy bay của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo chuẩn bị hạ cánh xuống phi trường quốc tế Pohnpei ở Kolonia, Liên bang Micronesia (FSM) ngày 5/8/2019. REUTERS/Jonathan Ernst

Hoa Kỳ cảnh báo các quốc đảo ở Thái Bình Dương về mối đe dọa an ninh khi một công ty Trung cộng giảm giá đấu thầu xây dựng một tuyến cáp internet ngầm xuyên biển thuộc một dự án phát triển quốc tế tại khu vực, hai nguồn tin nói với Reuters.

Huawei Marine, gần đây đã được thoái vốn khỏi tập đoàn viễn thông Huawei và hiện thuộc sở hữu của một công ty Trung cộng khác, đã nộp hồ sơ dự thầu cùng với Alcatel Submarine Networks (ASN) có trụ sở đặt tại Pháp, một phần của tập đoàn Nokia của Phần Lan và NEC của Nhật Bản, với giá 72,6 triệu USD. Dự án này được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), các nguồn thạo tin về dự án này cho biết.

Dự án được thiết kế để cải thiện thông tin liên lạc tới các đảo quốc Nauru, Liên bang Micronesia (FSM) và Kiribati.

Các nguồn tin cho biết, Washington đã gửi công hàm tới FSM vào tháng 7 để bày tỏ những quan tâm về chiến lược liên quan tới dự án xây dựng tuyến dây cáp internet ngầm xuyên biển bởi vì Huawei Marine và các công ty Trung cộng khác buộc phải hợp tác với các cơ quan tình báo và an ninh của Bắc Kinh khi được yêu cầu.

Chính phủ FSM nói với Reuters rằng họ đang thảo luận với các đối tác song phương trong dự án, “một số đã đề cập đến nhu cầu phải đảm bảo tuyến cáp quang Internet ngầm không tác động đến an ninh khu vực.”

Theo Hiệp ước Liên kết Tự do (COFA), một thỏa thuận đã có hàng thập kỷ giữa Hoa Kỳ và các đảo quốc ở Thái Bình Dương trước đây, Washington có trách nhiệm bảo vệ an ninh cho FSM.

Một phát ngôn viên của chính phủ Nauru cho biết các hồ sơ dự thầu đang được kiểm tra và các bên liên quan đang giải quyết “một số vấn đề kỹ thuật và hành chính” để đảm bảo tiến độ dự án”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung cộng Uông Văn Bân nói Hoa Kỳ đang bôi nhọ các công ty Trung cộng.

Quốc đảo thứ ba có liên quan đến dự án, Kiribati, hồi năm ngoái đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan để ủng hộ Trung cộng, và do đó có lập trường thuận lợi nhất đối với Huawei Marine. Chính phủ Kiribati đã không trả lời yêu cầu bình luận của Reuters.

Reuters VOA (19.12.2020)

 

 

Mỹ và Trung cộng có thể đụng độ ở Biển Đông

Karen Leigh, Peter Martin và Andrian Leung

Khánh An dịch

 Có lẽ không nơi nào quân đội Hoa Kỳ và Trung cộng tiến lại gần nhau hơn ở Biển Đông . Và khả năng chiến tranh trên biển có thể gia tăng lên dưới thời Tổng thống đắc cử Joe Biden.  

Khi các nền kinh tế lớn nhất thế giới tập trung vào mọi thứ, từ thương mại đến covid-19, lo ngại đã tăng lên rằng một tính toán sai lầm giữa các tàu chiến có thể châm ngòi cho một cuộc đối đầu quân sự lớn hơn. Mặc dù các quan chức quốc phòng hàng đầu của Mỹ và Trung cộng vẫn duy trì liên lạc ngay cả khi các mối quan hệ rộng lớn hơn đã xấu đi, nhưng chủ nghĩa dân tộc nhiệt thành hơn ở cả hai nước sẽ làm tăng lợi thế chính trị của bất kỳ cuộc khủng hoảng nào.

Chính quyền của Tổng thống Donald Trump đã gia tăng “hoạt động tự do hàng hải” – được gọi là FONOP – ở Biển Đông để thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung cộng. Vòng diễn tập hiện tại, bao gồm các tàu hải quân đi trong giới hạn lãnh thổ của các đối tượng địa lý mà Trung cộng tuyên bố chủ quyền, đã đạt mức cao mới là 10 lượt vào năm ngoái khi chỉ có tổng cộng 5 lần diễn tập trong hai năm cuối của dưới thời Obama hành chíh.

Biden có vẻ sẽ duy trì hoặc thậm chí mở rộng số lượng FONOP. Jake Sullivan người được Biden được chọn làm cố vấn an ninh quốc gia, than thở về việc Mỹ không thể ngăn Trung cộng quân sự hóa các vùng đất nhân tạo ở Biển Đông, đồng thời kêu gọi Mỹ tập trung hơn vào tự do hàng hải.

“Chúng ta nên dành nhiều tài lực và nguồn lực hơn nữa để đảm bảo và củng cố, đồng thời giữ vững quyền tự do hàng hải ở Biển Đông cùng với các đối tác của chúng ta, ”Sullivan nói trên  ChinaTalk, một podcast Jordan Schneider, một thành viên hỗ trợ tại Trung tâm An ninh mới của Mỹ có trụ sở tại Washington tổ chức. “Điều đó đảo ngược tình thế. Trung cộng sau đó phải ngăn chặn chúng ta, điều mà họ sẽ không làm ”.

Mỹ đã đóng vai trò then chốt trong việc duy trì an ninh ở các vùng biển châu Á kể từ Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, việc tăng cường quân sự của Bắc Kinh, kết hợp với các động thái nhằm củng cố việc nắm giữ lãnh thổ tranh chấp ở Biển Đông, đã làm dấy lên lo ngại rằng họ có thể tìm cách từ chối quyền tiếp cận của quân đội Mỹ đối với các vùng biển ngoài khơi bờ biển của Trung cộng. Đổi lại, Mỹ ngày càng tìm cách chứng tỏ quyền đi lại qua những vùng mà họ coi là hải phận và không phận quốc tế.

Điều đó dẫn đến một số các cuộc chạm trán căng thẳng. Năm 2001, một vụ va chạm trên không giữa một máy bay trinh sát của Hải quân Mỹ và một máy bay chiến đấu của Trung cộng đã dẫn đến một sự cố quốc tế, với phi hành đoàn Mỹ bị giữ 10 ngày trên đảo Hải Nam. Trong một lần suýt đụng độ vào năm 2018 giữa tàu khu trục Luyang của Trung cộng và tàu USS Decatur, tàu chiến Trung cộng cảnh báo tàu Mỹ sẽ “gánh chịu hậu quả” nếu không thay đổi hướng đi, theo South China Morning Post.

“Chúng tôi chắc chắn không muốn xảy ra chiến tranh vì mấy đảo đá san hô, nhưng sau đó một lần nữa chúng tôi không muốn để Trung cộng thay đổi các quy tắc với sự hiện diện của họ ”, Joe Felter, cựu Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Nam Á, Đông Nam Á và Châu Đại Dương trong chính quyền Trump tuyên bố. “Họ sẽ đẩy đi xa quá mức.”

Trung cộng tuyên bố chủ quyền hơn 80% Biển Đông, một trong những tuyến đường vận chuyển nhộn nhịp nhất thế giới, dựa trên bản đồ năm 1947 thể hiện những dấu hiệu mơ hồ mà từ đó được gọi là “đường chín đoạn. ” Hoa Kỳ ước tính rằng hơn 30% của thương mại dầu thô hàng hải toàn cầu đi qua vùng biển này.

Ngoài Trung cộng, 5 chính phủ khác cũng tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông: Việt Nam, Phi Luật Tân, Brunei, Mã Lai và Đài Loan. Các nỗ lực giải quyết tranh chấp đã đạt được rất ít tiến bộ: Các cuộc đàm phán với các quốc gia Đông Nam Á về quy tắc ứng xử trên các vùng biển đã kéo dài khoảng hai thập kỷ.

Bắc Kinh cũng đã bác bỏ một cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, được gọi là Unclos. Trong một vụ kiện do Phi Luật Tân đơn phương đưa ra, Tòa Trọng tài Thường trực ở La Hay xét xử vào năm 2016 rằng không có cơ sở pháp lý nào để Trung cộng yêu cầu các quyền lịch sử đối với tài nguyên ở các vùng biển nằm trong đường chín đoạn và các cấu trúc nhân tạo không tạo ra các vùng chủ quyền.

Trong một cuộc chiến quân sự, Trung cộng có thể dễ dàng chiếm lấy các đảo từ tay các bên tranh chấp. Mỹ và Nhật Bản là những quốc gia duy nhất “có cơ hội” chống lại Trung cộng trong khi các quốc gia Đông Nam Á chỉ có thể hy vọng “đánh bại”, Bill Hayton, cộng sự của Chương trình Châu Á – Thái Bình Dương tại Chatham House và là tác giả của sách “ Biển Đông: Cuộc đấu tranh giành quyền lực ở châu Á. ”

“Giờ đây, chúng tôi đang tiến đến một giai đoạn hoàn thiện, ”ông nói. “Mỹ có lợi thế về công nghệ, nhưng Trung cộng càng tiến gần đến việc nghĩ rằng họ có thể sánh ngang với Mỹ thì chúng ta càng tiến gần đến cuộc đối đầu”.

Trong vài thập kỷ qua, tàu Trung cộng đã xung đột với tàu của các bên tranh chấp khác – đặc biệt là Việt Nam và Phi Luật Tân – để ngăn họ khai thác các nguồn tài nguyên đó. Năm 2012, China National Offshore Oil Corp., nhà thám hiểm nước sâu chính của Trung cộng, đã mời các công ty khoan dầu nước ngoài khám phá các lô ngoài khơi Việt Nam mà lãnh đạo Hà Nội đã trao cho các công ty Exxon Mobil Corp và OAO Gazprom thăm dò .

Trung cộng đã được hưởng lợi từ sự thiếu gắn kết giữa các nước Đông Nam Á, làm chochiến lược của họ chỉ tìm kiếm các cuộc đàm phán song phương với mỗi bên tranh chấp để được đền đáp. Trong khi Việt Nam từ chối các cuộc đàm phán với Trung cộng, Phi Luật Tân đã đạt được một thỏa thuận khung với Bắc Kinh để thăm dò chung và dỡ bỏ lệnh cấm hoạt động ở các vùng biển tranh chấp được đưa ra trước khi đệ đơn ra tòa trọng tài.

Trong khi đó, Mỹ đã đưa CNOOC vào danh sách các công ty Trung cộng do quân đội Trung cộng sở hữu hoặc kiểm soát, có khả năng khiến CNOOC phải tuân theo các lệnh trừng phạt có thể làm gián đoạn hoạt động của họ. Vào tháng 7, chính quyền Trump đã chính thức thông qua phán quyết của trọng tài năm 2016 và tuyên bố sẽ chống lại “sự bắt nạt” của Trung cộng.

Thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế hàng hải của mình ”, Ngoại trưởng Michael Pompeo nói vào thời điểm đó. “Mỹ sát cánh với các đồng minh và đối tác Đông Nam Á của chúng tôi trong việc bảo vệ quyền chủ quyền của họ đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi, phù hợp với các quyền và nghĩa vụ của họ theo luật pháp quốc tế”.

Vào tháng 9, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị cho biết Mỹ đang “trở thành lực lượng quân sự hóa lớn nhất” ở vùng biển này.

“Trung cộng hy vọng rằng các quốc gia bên ngoài khu vực, bao gồm cả Hoa Kỳ, sẽ hoàn toàn tôn trọng mong muốn và kỳ vọng của các quốc gia trong khu vực, thay vì tạo ra căng thẳng và tìm kiếm lợi nhuận từ đó ”, Vương Nghị nói với những người đồng cấp xung quanh khu vực tại một cuộc họp thường niên.

Kể từ đó, Trung cộng tiếp tục quân sự hóa lãnh thổ tranh chấp, khi cho rằng các động thái là cần thiết do “áp lực quân sự gia tăng từ các nước ngoài khu vực.” Trên bảy bãi đá ngầm hoặc bãi đá ở quần đảo Trường Sa, Trung cộng đã xây dựng các cảng, hải đăng và đường băng đồng thời lắp đặt các thiết bị quân sự như khẩu đội tên lửa trên khoảng 3.200 mẫu Anh (1.290 ha) đất khai hoang.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào tháng 9 đã đánh dấu kỷ niệm 5 năm lời cam kết của Tập với Obama bằng một tuyên bố có tiêu đề “Những lời hứa suông của Trung cộng ở Biển Đông”. Tuyên bố cho biết Trung cộng đã triển khai tên lửa hành trình chống hạm, mở rộng radar quân sự và tín hiệu tình báo, đồng thời xây dựng đường băng và nhà chứa máy bay chiến đấu.

Theo James Kraska, giáo sư về luật hàng hải quốc tế tại Trung tâm Luật Quốc tế Stockton thuộc Trường Cao đẳng Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ, các đặc điểm đất liền mà Bắc Kinh xây dựng có thể giúp họ phát triển sức mạnh trên Biển Đông.

Trung cộng càng gióng lên hồi chuông cảnh báo vào tháng 8, khi họ điều một loạt tên lửa vào Biển Đông. Các tên lửa đạn đạo tầm trung, bao gồm một tên lửa có khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân, là chìa khóa cho chiến lược ngăn chặn hành động quân sự của Bắc Kinh ở ngoài khơi bờ biển phía đông bằng cách đe dọa phá hủy tàu sân bay và căn cứ – hai nguồn lực chủ chốt của Mỹ.

Liệu Trung cộng có hành động để ngăn chặn hoạt động tự do hàng hải của Mỹ hay không vẫn chưa rõ ràng. Đáp lại một chuyến đi vào tháng 4 của tàu USS Barry gần quần đảo Hoàng Sa, một phát ngôn viên của Bộ chỉ huy Nhà hát phía Nam của PLA nói tàu chiến đã đi vào vùng biển trái phép. Bộ chỉ huy PLA đã triển khai lực lượng không quân và hải quân để giám sát và cảnh báo tàu rời đi, theo báo nhà nước China Daily.

Andrew Chubb, một chuyên gia về chủ nghĩa dân tộc và yêu sách lãnh thổ tại Đại học Lancaster, cho biết: Mặc dù sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và Trung cộng gây bất lợi cho một trong hai bên leo thang bất kỳ sự cố nào, nhưng tính toán đó càng thay đổi khi họ càng xa nhau.

“Ông nói, xác suất xảy ra đụng độ Mỹ-Trung có lẽ đã tăng lên. “Và đồng thời, mức độ nguy hiểm của bất kỳ cuộc đụng độ nào cũng tăng lên — và có khả năng sẽ tăng thêm khi quá trình tách bạch của hai nền kinh tế tiếp tục diễn ra”.

Nguồn: https://www.bloomberg.com/graphics/2020-south-china-sea-miscalculation/

VNTB (19.12.2020)

 

 

Hải quân Mỹ ‘quyết đoán hơn’ trong việc chống lại Trung cộng ở Thái Bình Dương

Ảnh minh họa. Tuần dương hạm USS Chancellorsville tại hong Kong, ngày 21/11/2018. AFP

Hoa Kỳ, vào ngày 17/12, đưa ra lời cảnh báo rằng tàu chiến của quân đội nước này sẽ “quyết liệt” hơn khi phải đáp trả những vi phạm pháp luật quốc tế của Trung cộng trong tham vọng bành trướng tại Biển Đông.

AFP, trong ngày 18/12, dẫn nội dung trong một tài liệu cho thấy Ngũ Giác đài khẳng định rằng Nga và Trung cộng “đang cạnh tranh cân bằng quyền lực ở các khu vực quan trọng cũng như đang làm thay đổi trật tự hiện có của thế giới.

Đây là tài liệu trong đó Quân đội Mỹ đưa ra các ra mục tiêu cho hải quân, thủy quân lục chiến và tuần duyên trong những năm tới. Trong đó chỉ rõ rằng “Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ được triển khai khắp toàn cầu để tác chiến với máy bay và tàu chiến của Trung cộng và Nga hàng ngày”. Hoa Kỳ cho rằng “Sự hung hăng của hai nước đó ngày càng gia tăng” và Trung cộng là “Mối đe dọa chiến lược lâu dài với cấp bách nhất”.

Hoa Kỳ thường xuyên gửi các tàu chiến đến khu vực Biển Đông để đối phó với Trung cộng, mà Hoa Kỳ gọi là thực hiện các hoạt động “tự do hàng hải”. Đồng thời, Hải quân Hoa Kỳ lên kế hoạch hiện đại hóa các tàu nhỏ và nhanh nhẹn hơn, được điều khiển từ xa nhằm duy trì lợi thế chiến lược đối với Hải quân Trung cộng, là lực lượng chiến đấu được tăng gấp 3 lần trong 2 thập niên.

Tài liệu còn cho biết các tàu của Mỹ cũng sẽ „chấp nhận rủi ro về chiến thuật và sẽ quyết đoán hơn trong các hoạt động hàng hải”. Phó Đô đốc Hải quân Jay Bynum giải thích rằng điều này có nghĩa là “phản ứng nhanh hơn, quyết đoán hơn”.

Tài liệu của Ngũ Giác Đài cũng nêu rõ rằng Hải quân Mỹ sẽ hiện diện nhiều hơn ở Thái Bình Dương, đồng thời sẽ „phát hiện và ghi lại các hành động vi phạm luật pháp quốc tế, ăn cắp tài nguyên và xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác“.

Một vụ việc mới nhất xảy ra giữa Hải quân Mỹ và Trung cộng vào cuối tháng 8, khi Bắc Kinh cho biết đã yêu cầu một tàu chiến Mỹ rời khỏi quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp giữa Trung cộng và Việt Nam.

RFA (18.12.2020)

 

 

Mỹ đặt mục tiêu chống Trung cộng ‘quyết đoán hơn’ trên Biển Đông năm 2021

Tàu khu trục tên lửa dẫn đường của Mỹ USS Barry (DDG 52) tiến hành các hoạt động thể hiện quyền tự do hàng hải trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Quân đội Mỹ vừa đưa ra cảnh báo sẽ “quyết đoán hơn” trong việc đáp trả các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, đặc biệt là đối với Trung cộng, quốc gia mà Mỹ cáo buộc có tham vọng bành trướng ở Biển Đông.

Truyền thông quốc tế hôm 18/12 dẫn một tài liệu có nội dung về các mục tiêu đặt ra cho Hải quân, Thủy quân lục chiến và Tuần duyên Hoa Kỳ năm 2021, Ngũ Giác Đài nói rằng một số quốc gia, đặc biệt là Nga và Trung cộng “đang cạnh tranh cân bằng quyền lực ở các khu vực quan trọng và tìm cách phá hoại trật tự thế giới hiện nay”.

Cơ quan này tố cáo Trung cộng “đang áp dụng cách tiếp cận theo chủ nghĩa bành trướng ở Biển Đông và tìm cách thiết lập quyền bá chủ trong khu vực thông qua các chương trình như Sáng kiến Vành đai và Con đường”.

“Các hoạt động và thái độ của Lực lượng Hải quân là sẽ tập trung vào việc chống lại các hành vi xấu của CHND Trung cộng trên toàn cầu, và tăng cường khả năng ngăn chặn ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, tài liệu của quân đội Mỹ nói.

Theo tài liệu này, hải quân của Mỹ trên toàn cầu “tương tác với tàu chiến và máy bay của Trung cộng và Nga hàng ngày”, và lưu ý về “sự hung hăng ngày càng tăng ”của Bắc Kinh và gọi Trung cộng là “mối đe dọa chiến lược lâu dài và cấp bách nhất”.

“Chúng ta phải hoạt động quyết đoán hơn để giành ưu thế trong cuộc cạnh tranh hàng ngày khi duy trì trật tự dựa trên quy tắc và ngăn chặn các đối thủ theo đuổi hành động xâm lược có vũ trang”, tài liệu nói thêm.

Tài liệu được công bố trong bối cảnh căng thẳng giữa Trung cộng và Mỹ đang gia tăng, làm dấy lên mối lo ngại về khả năng nổ ra xung đột vũ trang.

Vụ việc mới nhất giữa hải quân Mỹ và Trung cộng diễn ra vào cuối tháng 8, khi Bắc Kinh tuyên bố đã đuổi một tàu chiến Mỹ ra khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền song trên thực tế do Trung cộng kiểm soát.

Trong thời gian này, Trung cộng liên tục tổ chức tập trận và phóng tên lửa trên Biển Đông, khiến tình hình càng thêm căng thẳng.

Bộ Ngoại giao Việt Nam tại thời điểm đó đã phải lên tiếng yêu cầu Trung cộng huỷ bỏ tập trận, nói rằng hoạt động này “vi phạm chủ quyền của Việt Nam” và “đi ngược lại tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”.

Để chống lại tình trạng “bành trướng” của Trung cộng, Hoa Kỳ thường xuyên điều tàu đến khu vực để thực hiện quyền “Tự do hàng hải”.

Tài liệu của quân đội Mỹ cho biết để có thể duy trì tình trạng “trên cơ” chiến lược so với hải quân Trung cộng (vốn đã tăng gấp 3 về quy mô trong hai thập niên qua), Hải quân Mỹ có kế hoạch hiện đại hóa với các tàu nhỏ hơn, nhanh hơn và thậm chí được điều khiển từ xa.

Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng sẽ xuất hiện nhiều hơn ở Thái Bình Dương, đồng thời “phát hiện và ghi lại các hành động vi phạm luật pháp quốc tế, ăn cắp tài nguyên và xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác”.

Đáp lại các cáo buộc của Mỹ, Bắc Kinh thường xuyên chỉ trích Washington “kích động xung đột trong khu vực”, đồng thời đẩy mạnh nỗ lực ngoại giao nhằm giành thêm sự ủng hộ giữa các quốc gia Đông Nam Á.

VOA (18.12.2020)

 

 

Nam Dương bắt giữ tàu cá Việt Nam tại vùng biển Bắc Natuna

Ảnh minh họa. Lực lượng chức năng Nam Dương và các ngư dân Việt Nam trong vụ bắt giữ được báo cáo ngày 22/8/2020. Courtesy of Tampo.co

Cơ quan An ninh Hàng hải Nam Dương, vào ngày 12/12, bắt giữ một tàu cá của Việt Nam vì nghi ngờ đánh bắt trái phép ở vùng biển Bắc natuna của nước này.

Giám đốc Điều hành Biển Bakamla, Commodore Suwito cho biết theo thông tin điều tra ban đầu thì phát hiện được một tàu cá nước ngoài treo cờ Nam Dương, có biển hiệu BT 95212 TS. Tuy nhiên, trên tàu cá này có 10 thuyền viên người Việt Nam, kể cả thuyền trưởng của tàu.

Ông Commodore Suwito nói rằng tàu cá nước ngoài này đã lừa các nhân viên thực thi pháp luật cua Nam Dương qua việc treo cờ Indo để đánh bắt trái phép trong cùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Nam Dương.

Tờ Compas.id, vào ngày 18/12 cho biết Cơ quan An ninh Hàng hải Nam Dương tiến hành bắt giữ tàu sau một cuộc rượt đuổi. Thủy thủ đoàn và tàu cá không trình đủ giấy tờ và có khoảng 2 tấn cá cùng với nhiều vi cá mập khô được phát hiện trên tàu cá.

Tin cho biết tàu cá Việt Nam và 10 thủy thủ đoàn đã được hộ thống về đến Ranai để điều tra thêm.

Truyền thông Nhà nước Việt Nam, trong cùng ngày 18/12, loan tin Đại sứ Việt Nam tại Nam Dương Phạm Quang Vinh, vào ngày 16/12, đã có buổi làm việc với lãnh đạo Trại tạm giữ Tanjungpinang và thăm lãnh sự trực tuyến ngư dân bị giam giữ ở đây.

Trong buổi làm việc, ông trại phó Andi Setiawan, trại phó Trại tạm giữ Tanjungpinag cam kết với Đại sứ Phạm Quang Vinh rằng sẽ cải thiện điều kiện ăn ở cho các ngư dân trong khả năng của trại và phù hợp với quy định của Nam Dương.

Tin cho biết Đại sứ Phạm Quang Vinh cũng dành thời gian tiếp xúc với ngư dân bị giam giữ trong trại Tanjungpinang, đồng thời thông báo về quy trình thủ tục đưa ngư dân hồi hương.

Kể từ khi dịch COVID-19 bùng phát, Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Dương đã có bốn cuộc thăm viếng lãnh sự trực tuyến các ngư dân và làm việc với các trại tạm giữ ở nước này.

Đại sứ quán Việt Nam cho biết đã đưa được114 ngư dân về nước, từ đầu năm 2020 đến thời điểm hiện tại.

Do tác động của COVID-19, Việt Nam và Nam Dương chưa nối lại các chuyến bay thương mại, do đó việc được ngư dân Việt Nam về nước được cho biết phải chờ theo các đợt được chính phủ phê duyệt.

RFA (18.12.2020)

 

 

Biển Đông : Hải Quân Mỹ sẽ đáp trả thái độ hung hăng của Trung cộng

Ảnh do Hải Quân Mỹ cung cấp : hai tàu sân bay USS Ronald Reagan và USS Nimitz trong lần hoạt động tại Biển Đông hôm 06/07/2020. AP – Petty Officer 3rd Class Jason Tarleton

Quân đội Hoa Kỳ cho biết là các chiến hạm của Mỹ từ nay sẽ phản ứng một cách « mạnh mẽ hơn » đối với những nước vi phạm luật pháp quốc tế, đặc biệt là Trung cộng, đang tranh giành biển đảo với các nước láng giềng ở Biển Đông.

Trong tài liệu về chiến lược mới của Mỹ ở Thái Bình Dương công bố chiều 17/12/2020, ấn định những mục tiêu rõ ràng cho Hải quân, Thủy Quân Lục Chiến và tuần duyên, bộ Quốc Phòng Mỹ gọi đích danh Nga và Trung cộng là hai trong số các nước « muốn làm thay đổi tương quan lực lượng tại nhiều khu vực then chốt để làm suy yếu trật tự quốc tế hiện nay ».

Tài liệu này cho biết Hải quân Mỹ « chạm trán hàng ngày » với chiến hạm, máy bay của Trung cộng và Nga. Tuy nhiên, Trung cộng được mô tả là « mối đe dọa khẩn cấp nhất ».

Theo AFP, sự cố gần nhất là hồi cuối tháng Tám, khi Bắc Kinh loan báo « đuổi » một chiến hạm Mỹ « xâm nhập quần đảo Hoàng Sa, đang bị Trung cộng kiểm soát (từ năm 1974)„.

Đối diện với tham vọng quá đáng của Bắc Kinh, tuyên bố chủ quyền trên hầu hết diện tích Biển Đông, lấn ép bốn nước Đông Nam Á là Việt Nam, Phi Luật Tân,Mã Lai và Brunei, chính quyền Washington thường xuyên điều chiến hạm vào vùng để tiến hành điều mà Mỹ gọi là « chiến dịch bảo đảm  tự do hàng hải ».

Mỹ thú nhận tránh nghênh chiến với Trung cộng những năm qua

Theo chiến lược mới, để duy trì ưu thế trước một đối thủ đã gia tăng sức mạnh hải quân gấp ba lần trong 20 năm qua, Hoa Kỳ quyết định canh tân lực lượng hải thuyền : nhiều hơn, nhỏ hơn nhưng nhanh hơn thậm chí có thể điều khiển từ xa.

Điểm đổi mới thứ hai là chiến hạm Mỹ từ nay « chấp nhận rủi ro chiến thuật có tính toán và sẽ ở thế công trong các hoạt động hàng ngày ».

Bình luận về chiến lược mới, tướng hải quân Jay Bynum cho biết từ nay các chiến hạm Mỹ sẽ « phản ứng mạnh và sẵn sàng đáp trả ». Vị đô đốc này nhìn nhận chiến thuật trước đây là « tìm cách xuống thang, quay thuyền lại và giảm thiểu rủi ro ». Vì thế mà Hải quân Mỹ « dần dần bị thu hẹp vùng kiểm soát ».

Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ cũng hoạt động năng nổ hơn để « phát hiện, ghi nhận những hành động vi phạm luật quốc tế, đánh cắp tài nguyên, xâm phạm chủ quyền các nước láng giềng ».

RFI (18.12.2020)

 

 

Cuộc chiến công hàm và dự đoán tình hình Biển Đông 2021

Nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76) cùng tàu đổ bộ tấn công USS Boxer và các tàu hộ tống diễn tập phối hợp trên Biển Đông ngày 7 tháng 10 năm 2019.  AFP

Cuộc chiến công hàm

Trong năm qua, một vài quốc gia ASEAN và một số quốc gia phương Tây đã gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc (LHQ) phản đối đường lưỡi bò phi pháp của Trung cộng trên Biển Đông. Điều này được cho là giúp Việt Nam tự tin hơn trong cuộc chiến pháp lý của mình dù sau mỗi đệ trình hay công hàm được gửi đi thì Trung cộng lại ra công hàm phản đối.

Nước đầu tiên trong tổ chức ASEAN thực hiện việc này là Mã Lai. Ngày 12/12/2019, Mã Lai đã nộp đệ trình ranh giới thềm lục địa mở rộng của mình trên Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS). Cùng ngày, Trung cộng gửi công hàm CML/14/2019 lên LHQ để phản đối bản đệ trình của Mã Lai.

Ngày 30/3/2020, Phái đoàn thường trực của Việt Nam tại LHQ đã gửi Công hàm số 22/HC-2020 tới Tổng thư ký LHQ để trình bày một cách có hệ thống về lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề pháp lý chính trên Biển Đông..

Tiếp theo, ngày 6/3/2020, Phi Luật Tân gửi lên LHQ công hàm số 000191-2020 phản đối Công hàm số CML/14/2019 của Trung cộng, Phi Luật Tân tuyên bố các yêu sách của Trung cộng không phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

Ngày 14/4/2020, Việt Nam gửi thêm hai công hàm để đáp lại quan điểm của Mã Lai và Phi Luật Tân.

Đáp lại, Trung cộng ra một loạt công hàm phản đối:

Công hàm số CML/14/2019 ngày 12/12/2019 của Trung cộng phản đối bản đệ trình xin công nhận thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý của Mã Lai; Công hàm số CML/11/2020 ngày 23/3/2020 của Trung cộng phản đối tuyên bố của Phi Luật Tân; Công hàm số CML/42/2020 của Trung cộng ngày 17/4/2020 bày tỏ quan điểm về bản đệ trình chung của Mã Lai và Việt Nam xin công nhận thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý.

Ngày 26/5/2020, Phái đoàn thường trực của Nam Dương tại LHQ gửi công hàm 126/POL-703/V/20 đề cập tới quan điểm của Nam Dương với 3 công hàm trên của Trung cộng.

Nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc nhận định rằng, việc hàng loạt các nước mở ra cuộc chiến công hàm phủ nhận đường lưỡi bò của Trung cộng và tố cáo những hành động của Trung cộng trên Biển Đông đã làm cho Việt Nam tự tin hơn trong cuộc chiến pháp lý của mình.  Nhưng ông Đinh Kim Phúc nhấn mạnh rằng, cuộc chiến công hàm không giải quyết được vấn đề Biển Đông mà đây là vấn đề chiến lược toàn cầu. Chỉ khi nào mà Trung cộng không còn đủ sức để cạnh tranh với Mỹ và các nước phương tây nữa thì lúc đó tình hình Biển Đông với có thể yên ắng. Ông đánh giá tình hình Biển Đông trong năm qua:

“Xét về tổng thể tình hình Biển Đông năm 2020 thì Trung cộng vẫn kiên quyết phủ nhận phán quyết của tòa trọng tài và họ ngày càng hung hãn hơn ở Biển Đông. Họ tập trận rồi đưa tàu khảo sát, kể cả tàu cảnh sát biển, tàu tuần duyên…đi sâu vào các khu khai thác dầu khí của Việt Nam, ví dụ như lô 06.1.

Phải nói rằng ai cũng nghĩ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Mỹ vừa qua đã gây sức ép cho Trung cộng góp phần làm cho Trung cộng từ bỏ tham vọng trên Biển Đông. Nhận định như thế là sai.

Bản thân tôi nhận thấy việc Mỹ đưa tàu chiến đi qua eo biển Bashi rồi vào Biển Đông rồi diễn tập …thì cũng chỉ là thực hiện điều 17 của UNCLOS. Tức là thực hiện quyền tự do hàng hải chứ chưa bao giờ các lực lượng vũ trang của hải quân Mỹ áp sát vào khu 12 hải lý hoặc 500 mét của các đảo mà Trung cộng chiếm đóng.”

Ngoài một vài quốc gia ASEAN gửi công hàm lên Tổng thư ký LHQ phản đối chủ quyền phi pháp của Trung cộng ở Biển Đông, một số các quốc gia phương Tây cũng có những động thái tương tự.

Hôm 1/6/2020 Mỹ gửi một công hàm lên LHQ bác bỏ yêu sách của Trung cộng tại Biển Đông với lý do yêu sách của Bắc Kinh không phù hợp với luật pháp quốc tế được phản ánh trong Công ước về Luật Biển năm 1982. Mỹ cũng cho rằng các yêu sách về quyền lợi rộng lớn của Trung cộng trên Biển Đông là nhằm cản trở quyền và tự do hàng hải của Mỹ và tất cả các nước khác.

Úc hôm 23/7/2020 cũng gửi công hàm lên LHQ bác bỏ bất kỳ yêu sách nào của Trung cộng trái với Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982 và thể hiện lập trường ủng hộ Mỹ.

Gần đây nhất là hôm 16/9/2020, Pháp, Đức và Anh đệ trình lên LHQ một công hàm chung bác bỏ “các quyền lịch sử” của Trung cộng ở Biển Đông, lập luận rằng những quyền này không phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Công hàm chung này cũng đề cập đến hàng loạt công hàm Trung cộng đã gửi cho LHQ trước đó.

Qua emai trao đổi với RFA hôm 16/12/2020, Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc nhận định rằng, chủ đề chung trong các đệ trình, công hàm của các nước gởi LHQ suốt năm qua có điểm chung là ủng hộ rõ ràng Công ước LHQ về Luật Biển 1982 và bác bỏ hoàn toàn việc Trung cộng tuyên bố về các quyền lịch sử và nỗ lực coi „Tứ Sa“ (Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa) như các đơn vị riêng biệt bằng cách vẽ các đường cơ sở quanh đó, đồng thời. Ông nói thêm:

“Theo các quy tắc và thủ tục của Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa, không thể chấp thuận yêu sách về thềm lục địa mở rộng của một quốc gia nếu một quốc gia khác phản đối. Việc Trung cộng từ chối đệ trình sơ bộ của Mã Lai không có giá trị về mặt pháp lý.

Công hàm của Hoa Kỳ, Úc và đệ trình chung của Pháp-Đức-Anh đã được gửi cho Tổng thư ký LHQ vì không quốc gia nào trong số này có thể yêu sách thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông. Ngoài ra, Hoa Kỳ không phải là một bên ký kết UNCLOS.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, Tổng thống Rodrigo Duterte phát biểu trước Đại hội đồng LHQ. Ông khẳng định “cam kết của Phi Luật Tân ở Biển Đông phù hợp với UNCLOS và Phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016”. Duterte tuyên bố phán quyết của tòa là một phần của luật pháp quốc tế và Phi Luật Tân kiên quyết từ chối những nỗ lực nhằm phá bỏ việc tuân thủ phán quyết này.

Tóm lại, khi Tòa án quốc tế đã ra phán quyết bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung cộng trên Biển Đông vào năm 2016 thì hầu hết các quốc gia trong vùng tranh chấp đều công nhận hoặc giữ im lặng. Nhưng vào năm 2020, do hành vi của Trung cộng trong bốn năm qua đã tạo cho các quốc gia khác đồng loạt lên tiếng bày tỏ quan điểm rõ rệt ủng hộ Công ước LHQ về Luật Biển và Trung cộng đã bị cô lập về mặt ngoại giao.”

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp thì gọi việc các quốc gia phương Tây lên tiếng là một bước ngoặc, bởi trước đây họ không nói gì cả, họ chỉ nói là phải tôn trọng luật pháp. Dù tất cả những công hàm cũng chỉ dựa trên công ước quốc tế về luật biển chứ không dựa trên một cái gì khác, nhưng điều này rất có lợi cho các nước Đông Nam Á. Tháng 7 năm 2016 Phi Luật Tân được tòa quốc tế đưa ra phán quyết bác bỏ chủ quyền của Trung cộng theo đường lưỡi bò. Năm nay Mỹ và các nước tái khẳng định điều đó. Ông Hà Hoàng Hợp phân tích thêm:

“Nói đến ASEAN là mình chỉ nói đến ba nước (Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai) chứ những nước khác họ sợ Trung cộng. Họ có quyền lợi về kinh tế, văn hóa, lịch sử hoặc sắc tộc liên quan đến Trung cộng. Họ sợ Trung cộng nên họ đưa ra cái luận điểm là không theo bên nào, không đứng về phía bên nào cả. Vừa chiều lòng được Trung cộng vừa chiều lòng Mỹ. Hơn nữa, chính quyền Mỹ dưới thời ông Donald Trump có những hành động và chính sách rất rõ ràng với Trung cộng thì có những nước nể sợ Trung cộng bắt đầu có những hành động phê phán chính quyền của Donald Trump. Đấy là sự thật!”

Tình hình Biển Đông sẽ ra sao?

Bức ảnh này được chụp vào ngày 14 tháng 5 năm 2019, một tàu tuần duyên Phi Luật Tân (R) lướt qua tàu tuần duyên Trung cộng trong cuộc tập trận chung tìm kiếm và cứu nạn giữa lực lượng tuần duyên Phi Luật Tân và Mỹ gần bãi cạn Scarborough, ở Biển Đông. AFP

Chính sách của Trung cộng về biển Đông đã trở nên mạnh mẽ sau khi Tập Cận Bình trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Trung cộng vào tháng 11/2012. Nhưng có lẽ năm 2020 là năm Trung cộng tỏ ra hung hăng hơn khi vào ngày 18/04/2020, Trung cộng thông báo thành lập hai quận thuộc “thành phố Tam Sa”, đó là “quận Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa) và “quận Nam Sa” (tức quần đảo Trường Sa), hai quần đảo mà Hà Nội khẳng định là thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Giáo sư Carl Thayer chia sẻ với RFA đánh giá của ông về tình hình Biển Đông năm 2021:

“Năm 2021, Trung cộng vẫn tiếp tục có những hành động như thường lệ để khẳng định chủ quyền của mình và một số các quốc gia ven biển vẫn giữ thái độ im lặng. Lực lượng Cảnh sát biển, Dân quân biển và đoàn tàu đánh cá của Trung cộng vẫn tiếp tục duy trì sự hiện diện của họ tại các khu vực tranh chấp. Nếu Việt Nam hoặc Mã Lai cố gắng thuê các tàu khảo sát dầu của nước ngoài và tiếp tục thăm dò ở các vùng biển gần Bãi Tư Chính, mỏ dầu khí Lan Đỏ hay Bãi cạn Luconia thì Trung cộng sẽ tập hợp một đội tàu để quấy rối các hoạt động này.Một điểm đáng chú ý là liệu Chủ tịch Trung cộng Tập Cận Bình có bày ra hành động khiêu khích nào để ‘thử’ Chính quyền của ông Biden trước khi ông Biden chính thức nhậm chức năm tới hay không.”

Hôm 13 tháng 7 năm 2020, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Michael Pompeo ra tuyên bố về lập trường của Washington đối với những đòi hỏi chủ quyền hoàn toàn phi pháp của Bắc Kinh trên hầu hết diện tích Biển Đông. Theo Washington, chiến dịch bắt nạt các nước nhỏ nhằm kiểm soát những nguồn tài nguyên đó cũng phi pháp. Hoa Kỳ khẳng định, thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế hàng hải của mình. Hoa Kỳ tìm cách giữ gìn hòa bình và ổn định, duy trì tự do hàng hải trên các vùng biển này phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ những lợi ích cho đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ.

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phiên bản tiếng Anh của Nhân Dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận chính thức của đảng cộng sản Trung cộng sau đó có bài viết nhan đề “Nói vài lời thật lòng với người Việt Nam” của tổng biên tập Hồ Tích Tiến. Tác giả “khuyên” Việt Nam cảnh giác trong mối quan hệ với Hoa Kỳ bởi mục đích lớn nhất của Mỹ khi phát triển quan hệ với Việt Nam là “lợi dụng Việt Nam”, “chia cắt mối quan hệ Việt Nam và Trung cộng”.

Bài báo kết luận rằng, thể chế chính trị Việt Nam khó trường tồn lâu dài nếu chính trị Trung cộng không ổn định.Một số nhà quan sát cho rằng, tình hình Biển Đông đang diễn biến phức tạp do Trung cộng lợi dụng thời kỳ chuyển tiếp tổng thống của Hoa Kỳ, tức từ sau ngày bầu cử đến ngày tổng thống mới tuyên thệ nhậm chức.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nhận định:

“Vì tình hình nước Mỹ hiện nay cho nên Bắc Kinh sẵn sàng lợi dụng tình thế khó khăn của nước Mỹ trong nội bộ để lấn tới. Bây giờ nó đang rất căng thẳng và người Trung cộng có thể dẫn đến chiến tranh bất kỳ lúc nào như tấn công Đài Loan, tấn công Việt Nam ở Trường Sa và tiếp tục quấy rầy cũng như tấn công cả Phi Luật Tân. Nhưng với Mã Lai thì chưa thấy họ làm gì nặng.

Điều này đã được dự báo từ trước rồi. Từ sau bầu cử ở Mỹ cho đến khi có tổng thống mới, tức là từ 3 tháng 11 cho đến 20 tháng 1 có thể sẽ xảy ra rất nhiều chuyện phức tạp.”

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nêu quan điểm của ông:“Cho dù bước vào năm 2021 nước Mỹ có tổng thống mới thì tham vọng của Trung cộng vẫn không dừng lại và việc giằng co trên Biển Đông vẫn tiếp tục như trong thời gian qua.

Việc đầu tiên nước Mỹ cần làm dưới thời tổng thống Joe Biden là phải gây sức ép trên tất cả các mặt trận đối với Trung cộng buộc Trung cộng phải tuân thủ luật pháp quốc tế. Đừng mong gì buộc Trung cộng phải từ bỏ tham vọng trên Biển Đông.”

Theo ông Đinh Kim Phúc, một số nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam từng nhấn mạnh Việt Nam không từ bỏ vấn đề pháp lý, tức là sẽ đưa Trung cộng ra các cơ quan tòa án quốc tế. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam chọn bước đi nào trong vấn đề đấu tranh với Trung cộng trên thực địa khi nguyên thủ Việt Nam vẫn khẳng định tình hữu nghị Việt Trung là dòng chảy chính trong mối quan hệ hai nước?

Nếu năm tới Việt Nam đưa Trung cộng ra tòa án quốc tế thì Việt Nam sẽ chọn nội dung gì, kiện tòa nào và có chắc thắng hay không vì tất cả những vấn đề trong mối quan hệ Việt Trung chưa được giải mã.

“Phải minh bạch hóa hồ sơ Biển Đông thì mới đánh giá được trận chiến này sẽ tiếp diễn như thế nào”, ông Phúc kết luận.

Vào ngày 17 tháng 12 năm 2020, Hoa Kỳ đưa ra cảnh báo rằng tàu chiến của quân đội nước này sẽ “quyết liệt” hơn khi phải đáp trả những vi phạm pháp luật quốc tế của Trung cộng trong tham vọng bành trướng tại Biển Đông.

RFA (18.12.2020)

 

 

Biển Đông: Trung cộng sẽ thôn tính quần đảo Đông Sa do Đài Loan kiểm soát ?

Ảnh tư liệu: Thủy Quân Lục Chiến Đài Loan tập trận bắn đạn thật trên đảo Đông Sa (Pratas) ở Biển Đông ngày 19/09/1996. AFP – TAO-CHUAN YEH

Ngày 16/12/2020, Trung cộng một lần nữa lại cho phi cơ quân sự thâm nhập vùng nhận dạng phòng không phía tây nam của Đài Loan, ở một khu vực nằm giữa hòn đảo và quần đảo Đông Sa (Pratas) ở phía bắc Biển Đông, hiện do Đài Loan kiểm soát.

Bộ Quốc Phòng Đài Loan cho biết đây là một hành động leo thang rõ nét vì lần đầu tiên có đến 4 phi cơ do thám Trung cộng cùng lúc tiến vào khu vực từ đầu tháng 12 đến nay, và đó là lần thứ 11 trong không đầy nửa tháng.

Theo giới chuyên gia phân tích, những động thái hù dọa quân sự ngày càng tăng của Trung cộng đối với Đài Loan có thể là dấu hiệu cho thấy là Bắc Kinh sẵn sàng tung ra một cuộc tấn công, khiến vùng eo biển Đài Loan mất ổn định.

Trên chuyên san Nhật Bản The Diplomat ngày 10/12/2020, giáo sư Yoshiyuki Ogasawara thuộc Khoa Nghiên Cứu Toàn Cầu, Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo cho rằng loại từ ngữ hung hăng mà các phương tiện truyền thông Trung cộng sử dụng hiện nay khi nói đến các biện pháp “trừng phạt Đài Loan” đã làm dấy lên lo ngại về khả năng Trung cộng tiến hành ít ra là một loại hành động quân sự nào đó chống Đài Loan.

Vị trí chiến lược của Đông Sa

Theo nhà nghiên cứu Nhật, vào lúc này, quân đội Trung cộng không thể tung quân đổ bộ đánh chiếm Đài Loan vì không thể bảo đảm được một chiến dịch quân sự thành công với thương vong tối thiểu. Tuy nhiên, Trung cộng có các lựa chọn khác, một trong số đó là gây áp lực hoặc chiếm đóng quần đảo Đông Sa.

Đối với giới quan sát, dù ít được nói tới, quần đảo Đông Sa nhỏ bé ở phía bắc-đông-bắc Biển Đông, cách Hồng Kông 310 km và cách cảng Cao Hùng ở cực nam Đài Loan 430 km về phía nam, có một tầm quan trọng chiến lược đối với Đài Loan, có vị trí lý tưởng để đưa ra cảnh báo sớm cho Đài Loan về bất kỳ cuộc tấn công nào mà Trung cộng có thể thực hiện từ phía nam.

Theo Viện Nghiên Cứu Chính Sách Đối Ngoại FPRI của Mỹ, Đài Loan duy trì trên quần đảo này một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến khoảng 500 người, sống trong một hệ thống boongke ngầm dưới đất. Ngoài ra còn có một số nhân sự của lực lượng Cảnh Sát Biển Đài Loan và các nhà nghiên cứu hoạt động trên đảo.

Một phi đạo dài 1.500 m tại Đông Sa cung cấp cho Đài Loan một cơ sở tốt để tiến hành các nhiệm vụ tác chiến chống tàu ngầm trong trường hợp Trung cộng cố gắng phong tỏa Cao Hùng. Và dĩ nhiên, Đông Sa là gạch nối duy nhất giữa Đài Loan và một tiền đồn khác trên Biển Đông là đảo Ba Bình (tên quốc tế là Itu Aba, tên tiếng Hoa là Thái Bình), cách đấy khoảng 1.175 km về phía nam.

Với những gì đang diễn ra tại Biển Đông và tại vùng eo biển Đài Loan, với tầm quan trọng của Biển Đông ngày càng tăng, giá trị chiến lược của quần đảo Đông Sa cũng tăng lên. Theo chuyên gia Ogasawara, nếu bị Trung cộng kiểm soát, quần đảo này có thể đóng vai trò một lính canh giám sát tàu và máy bay của Mỹ và các quốc gia khác đi vào Biển Đông từ Thái Bình Dương.

Kể từ tháng 8, quân đội Trung cộng đã liên tục tập trận trong khu vực, phi cơ Trung cộng tuần tra gần như hàng ngày trong một nỗ lực rõ ràng nhằm cắt đứt đường tiếp tế giữa quần đảo Pratas và đảo Đài Loan.

Vào tháng 10, một phi cơ Đài Loan bay từ Cao Hùng chở hàng tiếp tế đến quần đảo Pratas đã bị kiểm soát không lưu Hồng Kông cảnh báo là không được vào không phận do Hồng Kông quản lý và phải quay trở lại Đài Loan.

Lợi ích đối với Trung cộng khi kiểm soát Đông Sa

Theo giáo sư Ogasawara, những vụ việc này cho thấy Trung cộng có thể nắm quyền kiểm soát quần đảo Đông Sa bất cứ lúc nào họ muốn, và điều đó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Trung cộng.

(1) Chứng tỏ quyết tâm và năng lực của Trung cộng đối với Đài Loan và các nước láng giềng khác.

(2) Trung cộng có thể quân sự hóa hòn đảo này như là một phần trong kế hoạch biến toàn bộ Biển Đông thành vùng « nội thủy » của họ.

(3) Phá hoại những ngày đầu của chính quyền Biden bằng cách giành lại quyền chủ động ​​từ Hoa Kỳ sau bốn năm phải chịu đựng dưới thời tổng thống Donald Trump.

(4) Tập Cận Bình đã tại vị được tám năm, nhưng việc thống nhất Đài Loan vẫn xa vời. Việc đánh chiếm quần đảo Pratas có thể nhằm che đậy “sự thật phiền phức” đó, và có thể được sử dụng để kích động cuộc chiến tuyên truyền rằng triển vọng “thống nhất đất nước đang đến gần” ở cả trong và ngoài nước.

Đối với việc giành quyền kiểm soát quần đảo Pratas, Trung cộng có rất nhiều lựa chọn.

Họ có thể tiến hành một cuộc đổ bộ bất ngờ, buộc các đơn vị đồn trú của Đài Loan phải đầu hàng. Họ có thể phong tỏa các đảo bằng đường hàng không và đường biển, khiến binh lính Đài Loan bị kiệt quệ. Ngoài ra, họ có thể chỉ cần tuyên bố giáo đầu về một cuộc tấn công hoặc phong tỏa, để buộc các đơn vị đồn trú của Đài Loan phải rút lui.

Trong một cách tiếp cận lâu dài hơn, Trung cộng có thể sử dụng các hành vi can thiệp ngầm nhằm vào tàu và máy bay Đài Loan để làm tê liệt đường tiếp tế. Hoặc có thể bình thường hóa các cuộc tập trận quanh các đảo để tạo áp lực tâm lý lên người dân Đài Loan.

Đối với ông Tập, người sẽ chủ trì lễ kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng Sản Trung cộng vào năm 2021, Đại Hội Đảng lần thứ XX vào năm 2022, và dự kiến ​​kéo dài nhiệm kỳ của mình, điều mong muốn và thậm chí cần thiết là thể hiện một số “tiến bộ” về sự thống nhất Đài Loan.

Các cuộc thăm dò dư luận ​​gần đây cho thấy tâm lý chống Trung cộng gia tăng ở Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước dân chủ khác. Bất kỳ cuộc tấn công nào vào Đài Loan vào lúc này chắc chắn sẽ bị phản đối kịch liệt. Ông Tập chắc chắn nhận thức được thiệt hại về uy tín của Trung cộng mà hành động quân sự sẽ gây ra.

Nhưng về quần đảo Đông Sa, tình hình có thể khác vì rất ít người bên ngoài khu vực biết đến các đảo này. Giới lãnh đạo Trung cộng có thể tính toán rằng phản ứng quốc tế đối với việc chiếm Đông Sa sẽ không dữ dội như phản ứng chắc chắn xảy ra sau một cuộc tấn công vào chính Đài Loan.

Hơn nữa, Trung cộng có thể thử nghiệm các phương án khác nhau đã nêu ở trên. Ví dụ, trong khi theo dõi phản ứng ở Washington, Trung cộng có thể bắt đầu tăng cường các cuộc tập trận, trước khi chuyển sang việc gián đoạn đường tiếp tế.

Nếu chỉ gặp phản ứng im lặng từ chính quyền Biden, Trung cộng có thể leo thang. Nếu phản ứng của Hoa Kỳ mạnh mẽ hơn, Trung cộng có thể tránh leo thang và tiếp tục gây áp lực lên Đài Loan bằng việc can thiệp vào đường tiếp tế.

Việc chiếm được quần đảo Pratas, đối với Trung cộng quả là „nhất cử tam tứ tiện„. Nếu thành công, điều đó có thể giúp ông Tập Cận Bình siết chặt quyền khống chế đối với đảng Cộng Sản Trung cộng. Chính vì vậy mà quần đảo này là một điểm nóng tiềm tàng mà Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước dân chủ khác phải chú ý theo dõi.

RFI (17.12.2020)

 

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen