Lời Nhà Xuất Bản

 

Trong những huyền thoạì về người Việt đi học ở Pháp thì hai câu chuyện nổi tiếng nhất có thể nói là hai trường hợp Nguyễn Mạnh Tường và Trần Đức Thảo. Một người thi lấy hai bằng tiến sĩ (văn chương và luật học) ở tuổi 23, còn người kia thì nổi tiếng là học giỏi, giỏi về một ngành ít ai ở Việt nam theo học, triết học phương Tây mà lạị còn là triết học của Đức (Hegel, Marx, Husserl…) giỏi tới mức có lúc tranh cãi với Jean-Paul Sartre ồ Pháp trên tạp chí Les Temps Modemes mà còn được xem là thắng thế.

Thế rồi hai cuộc sống lại là hai thảm kịch thuộc vào hàng lớn nhất của người trí thức Việt nam trọng thời cận hiện đại. Đi theo kháng chiến (chống Pháp), cả hai đã được mời làm giáo sư Đại học, thậm, chỉ cả khoa trưởng Luật trong trường hợp ông Tường, nhưng chẳng bao lâu, sự độc lập tư tưởng của họ đã đưa họ đến chỗ đối đầu với chế độ toàn trị đang phủ trùm xuống miền Bắc. Trần Đức Thảo tham gia vào phong trào đòi dân chủ, tự do cho các văn nghệ sĩ và trí thức bằng một bài viết trên tờ Giai Phẩm mùa Đông (Tập I năm 1956) chỉ trích các “bệnh nặng nề: quan liêu, mệnh lệnh. giáo điều, bè phái, sùng bái cá nhân” và một trên báo Nhân Văn số 3 (ra ngày 15-10-1956) khẳng định: “Người trí thức hoạt động văn hoá cần tự do như khí trời để thở”.

Còn Nguyễn Mạnh Tường làm lịch sử bằng một bài phát biểu này lửa trước Mặt trận Tổ Quốc vào ngày 30-10-1956 mang tên “Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”. Với bài này dám đòi “xây dựng” cả lãnh đạo nên bị coi là phạm thượng, ông đa bị sa thải khỏi Đại học và thẩy mất hết các chức tước, địa vị để cuối đời phải than trong sách Un Excommuniéi (“Kẻ bị khai trừ”) do nhà sách Quê Mẹ in ra ở Pháp năm 1992 là ông và gia đình ông đói triền miên mấy chục năm trời cho đến gần ngày chết.

Trong những lựa chọn của người miền Bắc suốt thời gian đất nước bị phân chia (1954-1975), một trong những điều bi đát nhất là do chính sách bít bùng thông tin của chế độ người dân, và đặc biệt các trí thức và văn nghệ sĩ, đã như bị thuốc nên tin tưởng mù quáng vào chế độ, để đến khi vỡ mộng, nhìn ra sự thật thì đã hàng triệu người ngã xuống.

Người nhìn ra được cái dối trá của chế độ không nhiều. Hay có nhìn ra thì cũng không có cách vùng vẫy ra khỏi sự kiềm toả của nó. Liều mạng bơi qua sông Bến Hải như Vũ Anh Khanh thì bị bắn chết, may mắn lắm thì mới tìm được đường băng rừng đỉ qua Lào như cựu Dân biểu Nguyễn Văn Kim, nhà văn Song Nhị hay cựu nữ sinh viên Hà nội Tô Bạch Tuyết… Chỗ cỏn lại chỉ biết cắn răng mà chịu đựng! Chọn ở lại như nhà thơ Quang Dũng cũng không yên, cũng chết đói.

Hiếm có người nhìn ra được miền Nam như một lối thoát Nguyễn Hữu Đang, sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, có tính đi vào Nam những bất thành. Nguyễn Chí Thiện giữ được sự cân bằng trong tư tưởng vì còn giữ được niềm tin vào miền Nam (“Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan / Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn”). Đâu phải vì miền Nam là một thiên đường mà chỉ vì miền Nam là một “alternative”, một hướng có thể nhìn tới khi mọi hướng khác đều bít lối. Đó chính là nỗi đau của cả một nửa dân tộc trong một thời gian dài…

Trường hợp Trần Đức Thảo khác hẳn những trường hợp nêu trên. Nếu Nguyễn Mạnh Tường đã về nước được cả 20 năm trước khi Việt Minh lên cầm quyền thì Trần Đức Thảo lại từ Pháp xin về để phục vụ “cách mạng” (1951). Ông về trong tin tưởng là cách mạng Việt nam có thể khác được các cách mạng Cộng sản đàn anh của nó. Ông về với lòng tin trong sáng là Marx đúng, chỉ những người đem chủ thuyết của Marx ra thực hiện là đã sai: những bi kịch của cách mạng Nga, cách mạng Tàu bị xem là những sai lầm khủng khiếp của Stalin, Mao…. Ông về với ảo tưởng là ông có thể đem những hiểu biết “đứng” của ông về chủ thuyết Marx góp ý cho lãnh đạo Việt Nam tránh được những sai lầm tai hoạ kia.

Nhưng ngay từ đầu ông đã bị gạt sang bên lề. “Ông cụ” không cần đến những đóng góp của ông, “Ông Cụ”, chỉ dùng ông như một thứ trang trí cho chế độ, cùng lắm là một thứ bẫy để thu phục những trí thức khác ở nước ngoài về.

Nhưng rồi ông vẫn bám lấy ảo ảnh là sự hiện diện của ông không, phải là thừa. Nếu người ta không để cho ông đóng góp thì sự thật từ miệng ông ra vẫn không phải là vô ích. Và sự có mặt của ông ở Việt nam, ở trong kháng chiến, theo ông tự nhủ, là để trải nghiệm sự thực về đất nước. Chữ “trải nghiệm” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong những phát biểu của ông, thậm chí thành lý do biện hộ cho tất cả những nhục nhằn, đau khổ, không trừ cái đói khát mà ông đã phái hứng chịu để mài dũa sự hiểu biết của ông về Marx và chủ thuyết Marx.

Cũng như Marx nhấn mạnh vào Praxis, “sự cần thiết phê bình xã hội không khoan nhượng”, và cũng như trường phái Praxis của những năm 1960 ở Nam Tư kêu gọi “trở về Marx đích thực chống lại cái Marx bị xuyên tạc như nhau bởi bọn xã hội dân chủ ở bên hữu và bọn Stalinit ở bên tả” (Tựa Erich Fromm viết cho cuốn Từ dư dật đến Praxis của Mihailo Markovič), Trần Đức Thảo tin rằng: cái Marx như ông hiểu, cộng với trải nghiệm của cách mạng Việt Nam (học chính từ những đau thương ghê gớm của đất nước), sẽ giúp cho ta tìm ra một xã hội lý tưởng, hài hoà và hoà bình, làm mẫu mực cho thế giới.

Quyển sách mà độc giả cầm trong tay là những ghi chép trung thực của tác giả Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê từ những trao đổi gần như hàng tuần mà ông và một vài người bạn của ồng đã có với triết gia Trần Đức Thảo trong sáu tháng cuối đời của ông. Trong giai đoạn này, Trần Đức Thảo như chạy đua với thời gian để mong hoàn tất một cuốn “summum opus”, một cuốn sách để đời chắt lọc hết những suy nghiệm một đời của ông. Nhưng Trời đã không cho ông cái duyên may đó. Bởi vậy mà cuốn sách này phải thay chỗ cho những lời trối trăng của một triết gia hàng đầu của Việt nam trong thế kỷ 20.

Ông phải? Ông trái? Điều đó không quan trọng bằng những suy tư thật sâu sắc của một bộ óc triết gia được huấn luyện chính quy về một đất nước lắm khổ đau là Việt nam của tất cả chúng ta.

Tải bản PDF Những lời trăng trối ở đây

Phan Thanh Tâm: Những lời trăng trối 

 

2Ðã có nhiều tác giả tây ta viết về nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) riêng cuốn Trần Ðức Thảo Những Lời Trãng Trối là cuốn rất ðặc biệt vì sách ðã “phân tích sư thật về những hành ðộng khủng khiếp” của họ Hồ bởi một triết gia “lỗi lạc của Việt Nam và thế giới”. Nãm 1951 ông bỏ Paris về bưng, qua ngả Mạc Tư Khoa, tham gia kháng chiến chống Pháp; ðã từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 nãm. Nhà triết học họ Trần trước khi mất ðã khẳng ðịnh, Marx ðã gây ra mọi sai lầm và tội ác. Ông còn nói, chính “cuồng vọng lãnh tụ” ðã khiến “ông cụ” là một con người “cực kỳ vị kỷ, bất chấp những chuẩn mực của lương tri, của ðạo lý”. Theo ông, ðây là “một Tào Tháo muôn mặt của muôn ðời” và “là một con khủng long ba ðầu, chin ðuôi”.

Lời trối trãng của nhà triết học Trần Ðức Thảo cho biết, “nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của “ông cụ”, không dám ðưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra ðược tình trạng bế tắc chính trị ðộc hại như hiện nay ở nước ta”. Theo ông, quá khứ cách mạng của Viêt Nam ðã tích tụ quá nặng ðầy những di sản xấu. Quyển sách dày 427 trang là những lời tâm sự sống ðộng của một nhà tư tưởng giúp ðộc giả hiểu rõ nguồn gốc của thảm kịch ðang bao phủ lên thân phận dân tộc, lên ðất nước ta. Ông cảnh báo xã hội Việt Nam “ðang bị ung thối bởi cãn bệnh xảo trá, cãn bệnh thủ ðoạn của ðảng”. Ông bị tống ði ra khỏi quê hương vĩnh viễn với cái vé ði một chiều, bị ðuổi khỏi Saigon, buộc phải ði Pháp, không ðược trở về Hà nôi.

Trong cuốn sách, nhà triết học Trần Ðức Thảo (1917-1993) ðã vạch ra rằng, về lâu về dài, càng thấy ba chọn lựa của “cụ Hồ” mang tính sinh tử với ðất nước và dân tộc, ðã ðể lại di sản vô cùng trầm trọng: “chọn chủ nghĩa xã hội của Marx ðể xây dưng chế ðộ, chọn chiến tranh xoá hiệp ðịnh hòa bình ðể bành trướng xã hội chủ nghĩa và thống nhất ðất nước, chọn Mao và ðảng Cộng sản Trung Quốc làm ðồng minh, ðồng chí”. Sách có 16 chương, một chương chỉ ðể giải mã lãnh tụ; nhưng ở chương nào HCM cũng ðược ðề cập tới. Ông xác nhận, hễ nói tới thảm kịch VN thì “không thể không nhãc tới ông cụ”. Cố giáo sư quả quyết, ‘phải nói thẳng ra là Mao ðã trực tiếp bẻ lái “ông cụ”; và “Trung Quốc muốn nhuộm ðỏ Việt Nam theo ðúng màu ðỏ ðậm của Trung Quốc”.

Đãi ngộ hay bạc đãi

Triết gia Trần Ðức Thảo (TÐT), nổi tiếng về hiện tượng luận, từng tranh cãi với Jean-Paul Sartre ðược ðảng Cọng Sản Pháp vận ðộng ðể ðược cho về xứ nhằm phục vụ cách mạng vì “tôi có những nghiên cưú sâu rộng cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga và có vốn hiểu biết vững chắc tư tưởng của Karl Marx”. Khi về tới quê hương “tôi bị vỡ mặt và vỡ mộng”; bị nghi là “siêu gián ðiệp trí thức”. Tên tuổi ông, một thời danh tiếng trời Âu chìm hẳn. Nãm 1991 ông “bị ðẩy trở lại Paris”. Thế nhưng, sau khi qua ðời ngày 24/4/1993, nhà cầm quyền Hà nội lại truy tặng ông huy chưong Ðộc Lập; ca tụng ông là nhà triết học lớn của thế kỷ. Họ còn cho rằng “”tư tưởng HCM” ðã có ảnh hưởng với nhà triết học số một Việt Nam và lúc sinh thời ðảng, nhả nước rất mực trọng ðãi ông.

Có thật thế không? Trong chương Ðãi ngộ hay bạc ðãi, ông nói, những chức vị mà người ta ban cho, “che dấu một ðối xử nghiệt ngã và tồi tệ”. Ông cho biết, sự có mặt của ông trong một số sinh hoạt chỉ là “bù nhìn ðứng giữa ruộng dưa”. Sự thật “họ chỉ ðể cho sống; cho tôi khỏi chết ðói; chỉ toàn là bạc ðãi”. Nhà triết học phân trần, chúng bắt “tôi phải gắng mà học tập nhân dân nghĩa là phải cúi ðầu tuyệt ðối vâng, nghe lời ðảng”. Ông tiết lộ, tuy có chức phó giám ðốc trường Ðại Học Vãn Khoa Sư Phạm nhưng “chưa hề ðược tham dự bàn bạc gì vào việc tổ chức, ðiều khiển, ngay cả ý kiến giảng dạy cũng không hề có”. Sự có mặt của ông trong các buổi họp hay ði theo các phái ðoàn thanh tra là chỉ ðể “giới thiệu có thạc sĩ triết bên tây về ủng hộ cách mạng”.

Những ðiều nói ðó phù hợp với bài báo của nhà thơ Phùng Quán Chuyện vui về triết gia Trần Ðức Thảo ðãng trên báo Tiền phong ngày 11/5/1993: nhờ cái chết của nhà tư tưởng lớn này qua các báo mà rất nhiều người trong nước ðược biết rằng ðất nước chúng ta ðã từng sinh ra một triết gia tầm cỡ quốc tế. Ông ta sang tận bên Tây mà chết. Khi sống ở trong nước thì lôi thôi nhếch nhác hơn cả mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su ðứt quai, ðầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe ðạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà ðồng nát cũng chê. Thật ðúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, ðạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người”.

Mưu thần chước quỷ

Nhiều người tự hỏi bị ðối xử cay ðắng như vậy sao “bác Thảo lại hay có lúc bật cười như ðiên”; và bị chung quanh chê bai, chế giễu “bác là người khùng”? TÐT cho hay, ông bắt ðầu “hết cười rồi lại khóc” sau khi tham gia ðợt thì hành cải cách ruộng ðất ở huyện Chuyên Hóa, tỉnh Tuyên Quang nãm 1953. Lương tri trỗi dậy khi thấy lãnh ðạo “chọn con ðường hành ðộng nặng tính cuồng tín, dã man”. Ông nói, “chẳng thà là thằng khùng hơn làm thằng ðểu, thằng ác, thằng lưu manh”. Về giai thoại TÐT ði chãn bò, theo ông, ðó là một sự xấu hổ cho cả nước. Làm nhục một trí thức là lối hành xử của một chính quyền man rợ, bị ảnh hưởng Trung Quốc, buộc họ phải học thuộc lòng câu “trí thức không bằng cục phân” của Mao.

Nhà tư tưởng họ Trần nhận xét, Cộng Sản Việt Nam rất sùng bái Trung Quốc, ‘cứ như là con ðẻ của ðảng Cộng sản Trung Quốc”. Là một nhà triết học, có thói quen tìm hiểu, ðánh giá lại, ông thấy “nước ta trồng cây tư tưởng của Marx, cho tới nay cây ðó chỉ cho toàn quả ðắng”. Chính “cái thực tại tàn nhẫn khi chứng kiến sự ðau khổ của con người bị kềm kẹp bởi ý thức hệ” khiến ông muốn “ðặt lại vấn ðề từ học thuyết”. Triết gia TÐT nói, nhiều lãnh tụ “từ lầu ðài tư tưởng Marx bước ra ðã trở thành những ác quỉ”. Theo ông, “quỉ ấy là ý thức ðấu tranh giai cấp”; là thứ “vi rut” tư tưởng ðộc hại vô cùng; nó phá hoại xã hội, nó thúc ðẩy con người ðam mê tìm thắng lợi, bằng ðủ thứ quỉ kế, ðể mưu ðồ củng cố cho chế ðộ ðộc tài, ðộc ðảng.

Theo nhà triết học số một của Việt Nam, “ông cụ” là một nhà ảo thuật chính trị ðại tài: lúc thì biến có thành không, lúc thì biến không thành có”. Ðúng là “mưu thần chước quỉ” chuyên hành ðộng muôn hướng, muôn mặt, “trí trá còn hơn huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!” Bác Hồ ðánh lừa dư luận Âu Mỹ, khi chép lời nói ðầu bản tuyên bố ðộc lập của Mỹ; ðánh lừa các ðảng trong nước khi thành lập chính phủ ðại ðoàn kết và mời cựu hoàng Bảo Ðại làm cố vấn. Vài tháng sau, Võ Nguyên Giáp dẹp bỏ; coi họ là phản ðộng; ðẩy Bảo Ðại sang Côn Minh. “Ông cụ” còn ðược triết gia TÐT gọi là một nhà chính trị “thần sầu quỉ khốc” khi “ông cụ” khôn khéo mưu tìm sự tiến cử của Mao ðể ðược ðưa về xứ làm lãnh ðạo duy nhất phong trào cách mạng Việt Nam.

Cố Giáo sư TÐT kể lại rằng, biết mình bị Ðệ Tam Quốc Tế tức Liên Sô loại ðuổi khéo về Viễn Ðông và biết Mao là thủ lãnh các phong trào cộng sản ở Châu Á, “ông cụ” vào làm việc cho Bát Lộ Quân, tuyên thệ gia nhập ðảng Cộng sản Trung Quốc; ðược Mao rất ưu ái. Nhờ vậy, “ông cụ” từng bước loại bỏ tất cả ðối thủ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn vãn Cừ… ðể rồi vươn lên làm Tổng Bí Thư kiêm chủ tịch nước nãm 1945. Dù sự tấn phong “ông cụ” ở các ðại hội Ma Cao và Hồng Kông bị phản ứng của các khu uỷ, xử uỷ và của “Ðê Tam” nhưng nhờ Mao dàn xếp nên ðã qua mặt những sự phản ðối này vì họ là những kẻ ðã từng nhận ðược sự nâng ðỡ của cộng sản Trung Quốc. Triết gia họ Trần nói thêm, “ông cụ” luôn luôn là người biết chụp bắt cơ hội”.

Huyền thoại “bác Hồ”

Vẫn theo nhà tư tưởng TÐT, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về HCM họ bị chói lòa bởi những huyền thoại về “ông cụ” của bộ máy tuyên truyền; họ xử dụng sản phẩm chính thống của ðảng thì làm sao họ hiểu hết ðược mặt thật của họ Hồ. Ông nói, có một thứ tư liệu rất chính gốc, bộc lộ rõ cái cuồng vọng lãnh tụ của “ông cụ”; nó chi phối từ nội tâm. Ðó là những tên giả chính “cụ Hồ” ðã tự ðặt cho mình. Muốn tìm hiểu cặn kẻ, phải phân tách những chuyện biến tư tưởng qua từng giai ðoạn ðổi tên, ðổi họ; từ những cái tên “Tất Thành”, rồi “Vương”, rồi là “Ái Quốc”, chót hết là “Chí Minh”. Ðấy là những biểu hiện của một thứ bệnh tâm thần, khao khát danh vọng. HCM chỉ thành lãnh tụ cách mạng sau khi không ðược cho vào học Trường Thuộc Ðịa ðể ra là quan.

Nhà triết học nói thêm rằng, một người tự viết sách ðề cao mình, như cuốn “Những mẩu chuyện về cuộc ðời hoạt ðộng của Hồ chủ tịch” và “Vừa ði ðường vừa kể chuyện” thì không thể là một người vì nước vì dân ðược. “Ông cụ” ðã tạo ra một thời chính trị ðiên ðảo. Ngoài ra, ðám quần thần chung quanh “ông cụ”, không tha thứ cho ai dám tỏ ra ngang hàng với “Người”. Họ tôn vinh “ông cụ” làm bác, làm cha dân tộc. Tạ Thu Thâu chết mất xác vì câu nói “ngoài bắc có cụ, trong nam có tôi”. TÐT cho biết, nãm 1946 gặp “ông cụ” trong một buổi chiêu ðãi ở Paris, ông ðã bất ngờ trước lời khước từ: “cách mạng chưa cần tới chú ðâu” của HCM; khi ông tự ý nắm tay “ông cụ” ngỏ lời: “Tôi muốn về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt ðẹp tại quê hương”.

Dù thế, triết gia vẫn nhờ bạn bè phương tây giúp ông ðược vể nước tham gia kháng chiến. Nhờ vậy, ông có cơ hội quan sát một Hà nội và Saigon ðang bị lột xác theo sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Một giai cấp thống trị mới ðang hình thành. Càng quan sát nhà tư tưởng TÐT càng thấy huyền thoại về “bác Hồ” là tác phẩm của “cả một công trình nghệ thuật hoá trang cao ðộ”. Cái gì có giá trị là của bác, của ðảng. Họ công kênh “ông cụ” lên làm bậc thần, bậc thánh. Theo TÐT, “phải hít thở cái không khí” thờ kính, phục tùng lãnh tụ mới có thể hiểu phần nào những “phương pháp tâm lý tinh vi” tôn sùng HCM. Ông nhấn mạnh, “bác Hồ” chỉ có thể coi như mẫu mực thành ðạt về chính trị; “không thể nào là mẫu mực về mặt ðạo ðức”; vì cách sống muôn mặt của bác ðâu phải là gương sáng.

Nhà triết học bị kết tội “cầm ðầu âm mưu chống ðảng” vì hai bài viết trên Nhân Vãn Giai Phẩm (NVGP), do một số anh em vãn nghệ trẻ chủ xướng. Ông cho biết, nếu không có mấy nhà trí thức Pháp ðứng ðầu là Sartre “tận tình quan tâm, chãm sóc” ðến ông thì với mấy tội: tự ý nắm tay bác nãm 1946 ðòi cùng về nước làm cách mạng; từ chối lên án bố mẹ khi khai lý lịch; muốn ðấu lý với cố vấn Trung Quốc lúc làm ðội viên cải cách ruông ðất và vụ NVGP, ông có thể “dễ chết`như chơi”. Nãm 1952 triết gia ðược dẫn ði chào “Bác”. Ban lễ tân dặn ông bốn ðiều cần nhớ: phải ðứng xa “Người” ba mét, chỉ lại gần khi “Người” ra lệnh; không ðược nói leo, chỉ trả lời câu hỏi; không ðược chào trước; không ðược nói tôi phải xưng bằng cháu, gọi “Người” bằng “bác.

Chư hầu ngoan ngoãn

Theo sự chiêm nghiệm của triết gia TÐT thì HCM chưa ðọc kỹ học thuyết sách vở của Marx, “tư duy sổi nên chưa tiêu hóa ðược”; nhưng lại “ðọc thuộc lòng cuốn “Le Prince” của Machiavel”, cuốn chỉ bày tận dụng mọi thứ ðể người ta sùng bái. “Ông cụ” luôn luôn chứng tỏ một bề ngoài nặng lý trí ðến vô cảm; không thiết tha với gia ðình; không có bạn hữu thân tình. “Ông cụ” rất ghét cánh Tây học. Trong vòng thân cận, chỉ có toàn hầu cận ít học ðược ”ông cụ” ðào tạo ðể phục tùng; rồi sau ðề bạt lên làm lớn. “Ông cụ” làm thơ là “do cuồng vọng chính trị”, là ðể “ca ngợi mình” và “hô hào quyết chiến”. Nhà triết học này còn cho rằng, trên thân phận HCM có một bóng ma quái nó ðè. Ðó là “ bóng ma ðế quốc bành trướng vô cùng ðộc ðoán, lấn át của Mao.”

Vẫn theo TÐT, ý thức hệ xã hội chủ nghĩa chỉ là một phương cách giam hãm các dân tộc chư hầu với cái tên ðẹp “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em” nhưng thực chất là một ðế quốc ðỏ; nó kềm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó. Ðó “chỉ là thứ liên minh ma quái, quỉ quyệt, giả dối”; muốn biến “nước ta thành một chư hầu ngoan ngoãn”. “Ông cụ” vì tham vọng quyền lực từ ý chí muốn học ra làm quan nhưng không ðược nên ðã lấy học thuyết “giai cấp ðấu tranh” làm kim chỉ nam ðể tạo cơ hội thành danh, thành lãnh tụ. Nhà triết học nói, ðể nắm vững quyền lực “ông cụ” phải thủ vai ông thánh, ông thần”, từ bỏ cả vợ con, mất ði tính người, thẳng tay tiêu diệt những kẻ có tài. Lại thêm, Mao ðã cài chung quanh “ông cụ” một ðám cực kỳ cuồng tín.

Trong chương “Hai chuyến di chuyển ðổi ðời” của cuốn sách, nhà triết học họ Trần cho biết, ông ðược rời cảnh “sống như bị giam lỏng ở Hà nội” ðể vào Saigon ở là nhờ sự vận ðộng của một số ðồng chí trí thức Nam Bộ. “Saigon ðã làm tôi bàng hoàng tới cùng cực. Khang trang và hiện ðại; ðâu có ðói khổ vì bị Mỹ Ngụy kềm kẹp. Miền Nam ðã có một mức ðộ dân chủ rõ rệt. Miền bắc bị tư tưởng Mac-Lenine làm nẩy sinh những chính sách ðầy sai lầm. Sĩ quan của “bộ ðội cụ Hồ” ðã có “thái ðộ thô bạo, ứng xử thô bỉ” khi nhục mạ, gọi Dương vãn Minh là mày, và bắt cả nhóm phải ðứng cúi ðầu.” Ðấy là những lời thố lộ của TDT mà nhà vãn Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ðã viết lại qua các cuốn bãng thu những ðiều ông tâm sự với một số bạn trong sáu tháng cuối ðời ông ở Paris.

Nhà triết học còn thú nhận Trần Dần và Trịnh Công Sơn là hai người ðã thúc ðẩy ông phải thoát khỏi thái ðộ hèn nhát ðã ngự trị trong ðầu óc trí thức và vãn nghệ sĩ Hà nội; giới này ðã ứng xử ðồng lõa với tội ác của cách mạng. Người thứ nhất là Trần Dần lúc ông ta mời viết cho NVGP. Người thứ hai là các bài hát của họ Trịnh. Ngoài ra, những ai từng sống ở Saigon sau 1975, nếu ðọc chương “Vẫn chưa ðược giải phóng” ðều nhận thấy những mô tả của triết gia về Hà nội nãm 1954 rất giống Saigon sau 30/4/75: “cả con người và xã hội ở ðây ðã không hề ðược giải phóng” và thật là “vô lý và nhục nhã” khi so sánh với chế ðộ cũ. Ông nhận xét: tư hữu kiểu cũ do làm cần cù, tích lũy mà có ðược; tư hữu kiểu mới do chiếm ðoạt bằng chữ ký và quyền lực.

Cao vọng hơn “bác Hồ”

Ðược gợi hứng bởi môi trường miền Nam, trong vòng 10 ngày TÐT hoàn thành một tập sách nhỏ “Con người và chủ nghĩa lý luận không có con người”. Ðây là vãn bản phản bác giáo ðiều, ðược ðón nhận như một bông hoa lạ. Chẳng bao lâu sách bị cấm phổ biến. Giới cựu kháng chiến và nhiều trí thức khác còn ở lại trong nước tấp nập tới làm quen với nhà triết học ðể nghe những “lời tiên tri” là “cách mạng ðã biến chất ðể tư bản man rợ tràn ngập”. Trung Ương thấy số người “phức tạp” ðến gặp “bác Thảo” càng ngày càng ðông, nên Ðảng ðã quyết ðịnh “anh phải ra ði”. Nhà triết học than “thôi thì ðành mang thân xác ra xứ người”. Qua Pháp, tuy ðã một thời vang danh ở Paris, ông vẫn “lâm cảnh sống nay lo mai”, và còn bị Toà ðại sứ theo dõi kiểm soát chặt chẽ.

Trong cài xui có cái may. Nhà vãn Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê nhờ những lúc nhà triết học bán chữ ðể kiếm sống qua các buổi thuyết trình ở kinh ðô ánh sáng mà ðã làm quen thân với ông, ðược nghe ông tâm sự. Quyển sách ghi lại nỗi hối hận ðã thiêu ðốt ông vào lúc hoàng hôn của cuộc ðời. Nhà vãn cho hay ông “sẵn sàng trao mấy cuốn bãng cho những ai muốn nghiên cứu về TÐT”. Trong sách nhà triết học có lần ðã khẳng ðịnh: “tôi có tham vọng cao hơn của “bác Hồ” nhiều lắm”. Ðấy là xây dựng “một lâu ðài tư tưởng trong ðó toàn thể nhân loại ðều thể hiện rõ quyền sống của mình, quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình”. Nhưng mộng ðó không thành, triết gia lừng danh một thời trời Âu bị ðột tử. Chúng ta mất ði “một kho tàng trải nghiệm về chiến tranh, về cách mạng”.

Người chủ trương Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết việc tái bản cuốn sách là ðể phục hồi danh dự một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Trong lời bạt ông viết, “cuộc ðời TÐT xem như cuộc ðời tan nát vì “cách mạng” mà ông chọn phục vụ vào nãm 1951 nên mọi sự trở nên vỡ lở. Cuộc ðời ðó có thể xem như một bài học –“an object lesson”- với những ai ðể cho tình cảm, lý tưởng che mờ ði lý trí, kinh nghiệm. Không những ông mất vợ, không có ðời sống gia ðình, không có tự do trong bóng tối làm những việc ông muốn làm cho quê hương ðất nước của ông. Sự nghiệp triết học của ông là một sự nghiệp dang dở.” Sách ðược xuất bản lần ðầu với số lượng ít; tên gốc là Nỗi hối hận lúc hoàng hôn chỉ ðể thãm dò ý kiến thân hữu.

Những ai yêu “bác Hồ”, những ai coi HCM là tên tội ðồ hay các nhà khoa bảng, các học giả, các ông bà phản chiến và những ai còn nghĩ ðến nước Việt nên ðọc cuốn này. Cho tới nay chưa có tác giả nào trên thế giới – ngoại trừ triết gia TÐT- nêu ra ðược, thật sáng tỏ, những ðiều vô cùng bi thảm trong thời cách mạng; vì ông ðã trải nghiệm 40 nãm trong cuộc. Ngoài ra, ông bà nào giỏi tiếng Tây tiếng Mỹ nên dịch sách ra cho thế giới biết thêm về HCM, kẻ ðã lừa mọi người từ Âu sang Á; khiến nhà tư tưởng số một Việt Nam TÐT phải nói thẳng rằng, Napoléon, Hitler cũng có tâm thức tự cao tự ðại nhưng “không gian trá ðến mức tinh quái” ðể có những “hành ðộng muôn hướng, muôn mặt, trí trá còn hơn cả huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!”.

Phan Thanh Tâm

Saint Paul, 6/2014

 

 

BBC: Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?

 

BBC

Triết gia Trần Đức Thảo (1917-1993) nói trong hồi ký rằng cả Triều Tiên và Việt Nam đều là nạn nhân của các đế quốc như Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc.

đào tẩu, Bắc Hàn, Hàn Quốc

GETTY IMAGES Biên giới Nam và Bắc Hàn là vết cắt ngang bán đảo Triều Tiên từ 1953

Cuối hồi ký ‚Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối‘ do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê biên soạn ghi lại các tâm sự của ông Trần Đức Thảo sau khi ông trở lại Pháp đầu thập niên 1990.

Nhân sự kiện Hội nghị thượng đỉnh liên Triều diễn ra chỉ vài ngày trước kỷ niệm 30/04, BBC Tiếng Việt trích đăng một số đoạn ghi lại lời ông Trần Đức Thảo:

Từ Marx đến Lenin và Liên Xô, ai là nạn nhân?

„Nay chúng ta phải sáng suốt mà phân tích, mà suy nghĩ về hoàn cảnh và các yếu tố chia cắt; chia rẽ này, để thấy rõ chúng ta chỉ là những nạn nhân, đau đớn của những kẻ có trách nhiệm làm lịch sử. Có thể nói họ đã làm hỏng lịch sử. Họ đây chính là lãnh đạo.

Xét riêng về cái ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, do Lenin tuỳ tiện khai triển tư tưởng Marx, chẳng qua đó cũng chỉ là phương cách để duy trì, để tham lam nắm lại toàn bộ di sản đế quốc do thời Sa hoàng để lại, để lại giam hãm các dân tộc chư hầu của thời Sa hoàng vào trong một gông cùm kiểu mới, với cái tên đẹp hơn: „khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em“.

Bây giờ thì mọi người đều thấy cái khối Liên Xô ấy, thực chất là một đế quốc đỏ, nó kìm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó…“

Trung Quốc và các dân tộc châu Á

„Chính Liên Xô cũng đã từng đụng độ với một đế quốc đỏ khác là Trung Quốc, chỉ vì quyền lợi quốc gia hẹp hòi, để bành trướng đế quốc.

Và Bắc Kinh cũng đối xử với Tây Tạng, với Triều Tiên, với cả ta, theo tâm thức bành trướng đế quốc như thế, cũng dưới chiêu bài „khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em“, giữa hai „láng giềng hữu hảo, môi hở răng lạnh“!

Thực tế là đã hơn một lần, Liên Xô và Trung Quốc đụng độ nhau bằng quân sự…“

„Tôi còn nhớ rõ hồi đấu thập niên 60, nhân dịp được tham gia phái đoàn sang thăm Bắc Kinh, nên đã được nghe Mao Chủ tịch cam kết „năm trăm triệu dân Hoa Nam sẽ là hậu phương lớn để giúp các đồng chí tới khi chiến thắng“.

Mọi người mừng rỡ vỗ tay. Riêng tôi khi nghe lời cam kết ấy mà cảm thấy rợn tóc gáy. Bởi tôi không bao giờ quên chỉ vài tháng sau khi chiếm được quyền hành ở Bắc Kinh, Mao đã vội vã xua quân qua chiếm Tây Tạng. Chọn Mao làm đồng chí, làm đồng minh thì tôi lo lắm…“

Quê Từ Sơn, Bắc Ninh, sinh năm 1917, ông Trần Đức Thảo sang Pháp du học năm 1936, và đỗ vào trường École Normale Supérieure (Paris) ba năm sau.

Trần Đức Thảo nổi tiếng qua cuộc tranh luận triết học với Jean-Paul Sartre khi còn trẻ ở Paris.

Năm 1952, ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Nhưng theo cuối hồi ký, ông không được trọng dụng, thậm chí bị nghi ngờ, theo dõi, giám sát.

„Tôi đã bị gạt ra bên lề sinh hoạt chính trị ngay từ đầu. Chỉ mới viết hai bài báo đề cập khái quát tới dân chủ thôi, mà đã bị chúng nó xúm vào đấu tố tưởng đã mất mạng. Thế nên mọi suy tư, trải nghiệm là phải giấu kỹ trong đầu.

Mà những gì tôi làm trong đầu, đều toàn là những nghiên cứu dựa trên thực tại thật là sống động, thật là độc lập về mặt triết học thực nghiệm, để hướng về tương lai.

Đây là một công trình nghiên cứu rất cơ bản, rất thực tế. Nếu nói về ảnh hưởng thì có lẽ tôi cũng đã đóng góp được phần nào khi gián tiếp chỉ ra cho chung quanh thấy một số sai trái rất nghiêm trọng, cho họ hiểu là nếu, không chịu thay đổi hẳn tư duy, thấy đổi toàn diện chính sách thì cả nước sẽ không thoát ra được tình trạng bế tắc tư tưởng, hỗn loạn xã hội, phải sống túng thiếu, đói khổ triền miên.

Nhất là từ sau ngày 30 tháng tư 1975. Cái mốc thời gian ấy đã dánh dấu lúc toàn khối xã hội chủ nghĩa, vốn đã rệu rã, đã khánh kiệt, nay đang bắt đầu bước dần tới nguy cơ tan rã.“

Trần Đức Thảo nêu ra suy nghĩ rằng khối Đông Âu bắt đầu rạn nứt sau ngày 30/04/1975 ở Việt Nam:

„Bởi sau ngày 30 tháng tư, 1975 đó, Liên Xô và cả khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa không còn cái chiêu bài chính đáng để bắt dân chúng phải tiếp tục hi sinh, thắt lưng buộc bụng nhằm chi viện cho các công cuộc cách mạng đánh đổ đế quốc Mỹ nữa.

Sinh hoạt tại Đại học Berkeley trong lưu bút 1980 của tác giả. Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn

BÙI VĂN PHÚ Sinh hoạt tại Đại học Berkeley ‚Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn‘ năm 1980. Việt Nam luôn sống với ước mơ thống nhất đất nước về lãnh thổ và lòng người.

Dân chúng bắt đầu bạo dạn và cương quyết xuống đường đòi tự do và bánh mì. Tình trạng khủng hoảng tư tưởng trầm trọng này bắt đầu đưa tới hỗn loạn ở Đông Âu, Hồng quân đã phải trực tiếp nhảy vào can thiệp băng vũ lực, dẫn tới lúc bức tường Bá Linh sụp đổ, đưa tới kết thúc các cuộc cách mạng theo tư tưởng Mác-Lê…

Chính những sự hỗn loạn ấy đã làm cho khối Liên Xô suy sụp ngay từ bên trong. Không phải ngẫu nhiên mà Đặng Tiểu Bình đã dứt khoát ngả sang phía tư bản.

Ngay cả ở nước ta, nếu không sớm cố vận động, cố chấp nhận mọi điều kiện điều đình, để Mỹ bỏ cấm vận, thì ta cũng sẽ rơi vào hỗn loạn và cùng lắm thì cũng sẽ vẫn cố định trong tình trạng trì trệ, đói khổ, bế tắc xã hội như ở Bắc Triều Tiên hay Cuba thôi.“

Không chỉ đánh giá các vấn đề quốc tế, Trần Đức Thảo còn nói vì sao ông từ Paris về Việt Bắc chịu cực khổ, quyết định mà đến lúc chết ông không hối hận:

„…Về quê hương để hiểu rõ thực tại, không được nhìn thẳng vào sự thật, không sống trong sự thật của cuộc cách mạng đầy mâu thuẫn, đầy sai lầm ấy, thì làm sao nhận hiểu ra những sai lầm cơ bản của chính tôi.

Bức tường Berlin đã bị kéo đổ hồi năm 1989

TOBIAS SCHWARZ/AFP/GETTY IMAGES Bức tường Berlin đã bị kéo đổ hồi năm 1989

Và cả khi phải ra đi như lần này [sang lại Pháp năm 1991]. Nếu không chấp nhận ra đi, thì tôi không thể đạt tới trình độ tư duy để đạt tới thành quả về mặt triết học như hiện nay.

Những trải nghiệm xuyên qua kiểm nghiệm phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ kháng chiến và xây dựng cách mạng ở quê nhà đã tạo cơ hội cho tôi dầu dần thấy rõ sai trái bắt đầu từ học thuyết, từ ý thức.

Sự bế tắc của cách mạng và của chính tôi là do ý thức giải phóng con người.“

Vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh, ông Trần Đức Thảo nói đến các bàn tay đại cường chia cắt nhiều quốc gia, dân tộc và gây khổ đau dài lâu cho họ:

„Sự chia cắt tàn nhẫn này là một thứ tập tục áp đặt có tính quốc tế, đã có từ lâu trong lịch sử. Chỉ tính từ sau Đệ nhị Thế chiến, thì đã có sự chia cắt vô cùng tàn nhẫn các vùng lãnh thổ, như ở Cận Đông, nó đã gây ra thảm họa Israel-Palestine, như ở vùng Balkan, ở các vùng biên giới giữa Balan và Đức, giữa Balan và Nga, rồi là sự phân chia lãnh thổ của Đông và Tây Đức, sự phân chia đã cấu tạo rất gượng ép các phần lãnh thổ của nước Nam Tư, rồi sự cắt lãnh thổ thành hai ở Triều Tiên, rồi tới quyết định chia cắt lãnh thổ nước ta cũng vậy…

Tất cả những chia cắt trắng trợn ấy, đều có hậu quả lâu dài, cả trăm năm sau nó vẫn còn tác hại, dù nói chỉ là tạm thời! Đấy là những dàn xếp tàn nhẫn, do chủ mưu, mặc cả, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng giữa các nước lớn với nhau, để áp đặt, bất chấp nguyện vọng của các dân tộc trong các vùng, tại các nước bị chia cắt.

Các nước lớn đã chơi trò dựng lên những ý thức, những lý tưởng, những tâm lý phân biệt hệ chính trị, phân biệt biên giới địa lý, đi duy trì sự chia rẽ trong đầu thằng dân nhược tiểu một cách lâu dài, để phe này kiên trì cầm súng bắn giết phe kia, để nuôi dưỡng chiến tranh cục bộ.

Bức tường tâm lý có ảnh hưởng sâu rộng và mạnh mẽ nhất chính là bức tường ý thức hệ. Bức tường này đã chia hai thế giới: một bên là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, lấy nguyên tắc mác-xít đấu tranh giai cấp làm động lực, bên kia là ý thức tư sản, tư bản, lấy lý tưởng tự do dân chủ làm động lực.

Hình ảnh hôm 27/4 tại Bàn Môn Điếm

EPA Hình ảnh hôm 27/4 tại Bàn Môn Điếm: lãnh đạo Nam và Bắc Hàn nói về ‚một dân tộc‘ và lên kế hoạch chấm dứt ‚mọi hoạt động thù địch‘

Tất cả các lãnh thổ bị chia cắt, các dân tộc bị chia rẽ đều do các nước lớn vũ trang, bằng cả tinh thần lẫn vật chất, để trở thành những ngòi nổ của các cuộc chiến tranh cục bộ, thường là rất đẫm máu.“

Thế mà lãnh đạo mỗi phe, của mỗi phần lãnh thổ bị chia cắt ấy, cử khoe tài, khoe trí, cam kết sẽ „đưa dân tộc, đất nước tới chiến thẳng!“ Đau đớn và mỉa mai nhất là trong lúc các nước nhỏ diễn trò anh em bắn giết nhau, thì lãnh đạo các nước lớn vui vẻ thăm viếng nhau, mở yến tiệc khoản đãi nhau, để tìm cách thông cảm nhau, tránh trực tiếp đụng độ nhau.

Đồng thời họ tiếp tục tuôn vũ khí vào các nước nhỏ để nuôi chiến tranh. Là một nhà triết học như tôi, thì phải tìm hiểu để biết nhìn sâu và xa hơn qua những cuộc chiến tranh cục bộ, huynh đệ như thế. Vì sau khi đã chiến thắng, thì còn lại biết bao đau thương mà người dân, ở cả hai bên chiến tuyến, phải gánh chịu.“

Xuất thân là một nhà Marxist, ông Trần Đức Thảo đã đi đến chỗ bác bỏ chủ thuyết cách mạng không tưởng:

„Đấy là một mô hình cách mạng không tưởng, không nền tảng duy vật sử quan!… Không tưởng vì cả tin vào sự đam mê cuồng tín, cả tin vào khả năng giải phóng bằng bạo lực của hận thù.

Cho tới khi bị coi như là một kẻ phản động, bị nghi là „kẻ do địch cài vào hàng ngũ cách mạng“ thì từ đó tôi mới nhận ra sự bế tắc ấy là do ý thức, do thái độ cảnh giác, do chính sách thù hận mù quáng của quyền lực chuyên chính.

Sự chuyên chính ấy đã đóng kín mọi chân trời, đã không ngừng đẩy những con người chân thật, không chấp nhận dối trá, sang phía thù địch. Và từ đó tôi nhận ra đấy là những sai lầm tai hại, bế tắc của chính tôi.

Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp

TRAN DUC THAO Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp

Nhờ được chứng kiến, được sống sát cánh với những con người đau khổ không có ai, không có gì bảo vệ, như đã thấy trong cuồng phong cải cách ruộng đất…

Từ đó, tôi bắt đầu nhận thức rằng giá trị một ý thức hệ không thể so sánh với mạng sống của con người, nhất là đối với con người bị oan ức, con người bị trù dập, bị bóc lột, hoàn toàn bất lực, vô phương tự vệ.

Một ý thức hệ, dù thế nào thì nó chỉ có giá trị của một dụng cụ. Một dụng cụ làm sao nó có thể so sánh với giá trị của một mạng sống? Nhất là một mạng sống trong oan ức, đau khổ? Vì vậy mà tôi thấy là không thể hi sinh con người cho bất cứ một thứ ý thức hệ nào.

Trước nỗi đau của con người tuyệt vọng vì ý thức hệ, thì chính cái ý thức hệ ấy cũng cần phải được rà xét lại, để cải đổi hoặc để đào thải.

Nhờ sự tỉnh thức như vậy, mà bây giờ tôi đã tìm thấy được con đường đưa tới gần chân lý.

Chính những sai lầm cơ bản về tư duy đã đưa tới những hành động gây đau khổ cho con người, đã dẫn tới sự sụp đổ của ý thức hệ, rồi là của khối xã hội chủ nghĩa…“

Ông Trần Đức Thảo qua đời tại Pháp năm 1993. Trong bài tưởng niệm ‚Tran Duc Thao, 76, Vietnamese Thinker‘, trang New York Times nhắc lại cuộc tranh luận nổi tiếng của ông với triết gia hàng đầu của Pháp và châu Âu, Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh. Các báo Pháp và Mỹ năm 1993 đều nói ông bị cấm dạy học và xuất bản ở Việt Nam cho đến năm 1987. Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp.

Trần Đức Thảo và đêm ả đào chui năm ấy

 

TRẦN ĐỨC THẢO VÀ ĐÊM Ả ĐÀO CHUI Ở ATK NĂM ẤY
 
Thời gian sống ở ATK (An Toàn Khu), tôi (Trần Đức Thảo) bị sai khiến làm mấy việc vơ vẩn như ngồi dịch những tài liệu cũ kỹ, mà rồi sau chẳng dùng được vào việc gì! Hoặc là theo chân mấy phái đoàn Trung ương đi thanh tra này nọ với vai trò của một cây cảnh: đi tới đâu cũng được giới thiệu là trí thức ở bên Tây mới về tham gia cách mạng! Rồi được vỗ tay, hoan hô. Chứ chẳng làm được một việc gì hữu ích cả!
.
– Sống như thế thì tẻ nhạt quá, làm sao bác chịu nổi?
.
– Ấy trong quãng thời gian sống ở bên lề chính trị như thế không hẳn là tẻ nhạt đâu. Thỉnh thoảng cũng có những giây phút rất thú vị, rất vui. Bởi sống ở hậu phương thời kháng chiến, luôn luôn được chứng kiến những ngang trái xảy ra thật là bất ngờ, làm bật cười, cười đến chảy nước mắt. Trong cách mạng mà cũng có lúc ăn chơi lén lút, đáng ghi nhớ về cái “thời bao cấp” ấy. Những thú vui chui lén như vậy cũng làm cho mình phải suy nghĩ, tìm hiểu hiện tượng cách mạng và những khát vọng của con người…
.
– Thú vui lén lút đáng nhớ ấy là gì?
.
Bác Thảo kể có một lần, “không thể nào quên được”. Đó là lần được nhà văn Nguyễn Tuân mời đi ăn một bữa cơm Tây, tại một xóm dân Hà Nội tản cư về sống gần ATK. Khi vào tới xóm ấy, là phải chui qua mấy hàng giây thép, trên phơi đầy quần áo màu mẻ sặc sỡ khác hẳn với quần áo nâu sồng của nông thôn, được giặt để cất đi, ở sân sâu bên trong một căn nhà cổ, để tới cái quán ăn chui lậu hiếm hoi ở hậu phương. Chủ nhân tự khoe mình từng là đầu bếp của cựu thống sứ Bắc kỳ Graffeuil! Bữa ăn hôm ấy có cả món thịt bò.
.
Chateaubriand, có cả rượu vang Bordeaux. Thịt tươi là do cánh công an vừa săn được một con nai! Còn rượu cũng là do cánh công an mang từ Hà Nội ra! Ăn xong, Tuân chửi vui: “Sư bố chúng nó! Tàn dư phong kiến, thực dân mà sướng thế đấy!”. Thảo ngơ ngác không biết Tuân chửi ai? Ăn uống ngon lành thế sao lại chửi?
.
Sau bữa ăn, Tuân còn cao hứng dẫn Thảo đi hát “cô đầu”! Dĩ nhiên cũng là hát chui, hát lậu. Địa điểm là một căn nhà chòi có cót che kín mít, dùng để chứa nông cụ thúng, mẹt, cày bừa… ở ngay giữa một cánh đồng lớn mới gặt xong. Thảo được đưa tới chờ ở đó, nên rất lấy làm lạ. Ngồi một mình ngắm trăng mười sáu sáng ngời, chung quanh là một cánh ruộng bàng bạc màu vàng khô khốc của những gốc rạ mới gặt xong, xa xa là những luỹ tre xanh vi vu gió thổi. Cảnh thật đẹp và buồn.
.
Mãi sau, Tuân trở lại lố nhố với năm, sáu người lạ mặt, trong đó có một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi tuổi, mỗi người ôm một cái túi khá lớn. Họ vào trong căn chòi rồi cài cài mấy tấm cót cho kín đáo. Một ngọn đèn dầu hoả được thắp lên cho vừa đủ sáng để thấy tỏ mặt nhau. Họ mở túi lấy ra, người thì một cái trống nhỏ, người thì một cây đàn Đáy. Chị phụ nữ cũng lấy ra hai que gỗ và một cái phách. Tuân nói thật trịnh trọng:
.
– Hôm nay tôi lén tổ chức chầu hát này là để đãi ông bạn trí thức ở tận bên tây mới về. Yêu cầu em Đức hát cho thật đạt chỉ tiêu đấy nhé!
.
Cô ca nương nhìn Thảo rồi đáp:
.
– Anh Tuân ơi! Anh ép, thì vì nể anh em cũng cố mà ra đây hát thôi. Bởi em đã giải nghệ từ mấy năm nay rồi. Nêu công an mà biết thì em sẽ bị đi tù mất. Hát ả đào bây giờ bị coi là thứ nhạc sa đọạ của thời phong kiến, nó đã bị khai tử từ lâu rồi!
.
– Không sao đâu, anh đã lo lót hết rồi. Tuân này bảo đảm mà!
– Cứ hát đi, đã có ông chủ tịch xã kiêm trưởng công an ngồi nghe đây thì còn sợ gì!
– Thôi đừng khách sáo nữa! Ta bắt đầu đi, kẻo đã quá canh khuya rồi. Đàn lên! Xin mời quan viên giữ trống ra tay! Bắt đầu “Hồng, Hồng, Tuyết Tuyết” đi em!
.
Vài tiếng đàn chậm rãi vẳng lên, trầm bổng, thánh thót day dứt trong đêm khuya thanh vắng. Rồi một giọng ca trong vắt, ngân nga, luyến láy vang lên giữa cánh đồng vằng vặc ánh trăng.
.
Rồi tiếng trống vào nhịp:
– Tom! Chát! Chát! Tom!
– Hồng, hồng, tuyết, tuyết ứ ư ừ mới ư ừ ngày nào chửa… ư biết cái chi chi…
– Tom, tom, chát…
Tiếng hát, tiếng đàn nhịp trống bỗng đưa mọi người nhập vào một thứ nghi lễ tôn giáo linh thiêng… gợi cảm, trữ tình của nghệ thuật!
.
Bác Thảo vui vẻ, thích thú kể lại thật chi tiết về một chầu hát ca trù lén lút vô cùng cảm xúc, trong đêm khuya ấy, giữa một cánh đồng khô, trong lúc tình hình chiến tranh sôi động, mọi người lo âu, bồn chồn không biết ngày mai sẽ ra sao!
.
Bởi đấy là lần đầu tiên trong đời bác Thảo được nghe tiếng hát “trong như pha-lê, luyến láy ngân nga, thấm nhập tâm can, làm rung động toàn thân xác.,.”. Bác say sưa khen:
.
– Ôi! Lúc ấy, tiếng đàn, tiếng hát, sao có thể thuần khiết, âm vang sâu thẳm đến thế! Tiếng trống bắt nhịp thật lịch duyệt, như thúc dục, như khuyến khích ca nương!
Bài ca vừa chấm đứt, Thảo không nhịn được phản ứng ngạc nhiên, nên hỏi:
.
– Sao thứ ca dân gian này có thể nghệ thuật đến thế! Hay như vậy sao lại cấm? Trong đời tôi, tuy đã từng biết thưởng thức những tiếng đào, lời ca cổ điển vô cùng nghệ thuật của lối hát đại nhạc (opéra) phương Tây, nhưng đây là lần đầu tiên tôi khám phá ra một lối ca nghệ thuật tuyệt kỹ, vừa trữ tình, vừa huyền bí, thiêng liêng như của một tôn giáo, nghe mà rợn cả người, cứ y như bỗng mình được lạc vào cõi Thiên Thai. Một thứ nghệ thuật truyền thống quý như vậy, sao lại bắt nó phải chết?
.
– Tại vì xưa kia nó phục vụ giới quan lại, phú hộ thời phong kiến! – Tuân giải thích – Thôi bây giờ thì ca tiếp đi chứ!
.
Người nghệ sĩ chơi đàn, người “quan viên” giữ nhịp trống điều khiển, rồi ca nương, tất cả đều đắm say diễn tả, như hoà tâm hồn vào mấy bài hát nói danh tiếng của mấy nhà thơ trứ danh thời trước. Tay đàn, tay trống và ca nương, tất cả đều biểu diễn, với tất cả sở trường, y như đang làm sống dậy giây phút thanh bình của đất Hà thành thanh lịch xa xưa!
Thảo giải thích thêm với chúng tôi:
.
– Tiếng hát ả đào đúng là hợp với tâm tư, hoàn cảnh của từng người lúc ấy. Ai ai cũng đang mang nặng một tâm tư u buồn, nên mới hát được như thế, mới nghe thấu được nỗi niềm của giọng hát, lời ca. Tôi đã từng biết lối hát đại nhạc (opéra) của phương Tây. Lối hát ấy là dùng sức buồng phổi đẩy làn hơi qua thanh quản để đưa nốt nhạc vọt lên chói vót như thi tài với tiếng đàn. Nhưng lối hát ả đào thì tế nhị hơn, vì ca nương phải kiềm chế làn hơi, rồi từ từ vừa đẩy, vừa níu lại làn hơi qua họng, để uốn nắn âm thanh qua thanh quản, làm nó uyển chuyển, luyến láy, nghẹn ngào; như than van, nức nở, để bầy tỏ nỗi niềm… Nghệ thuật hát ả đào, do đó tinh vi, truyền cảm tình tiết cao siêu, sâu sắc, huyền bí hơn hẳn đại nhạc phương Tây. Tôi không hiểu sao một nghệ thuật tuyệt vời như thế mà lại nỡ lòng mang vứt bỏ nó đi! Một dân tộc có một nền văn minh cao độ mới có thể có một lối hát nghệ thuật đậm tính văn hoá dân tộc đến thế, sao lại chê bai, kết tội nó!
.
– Ôi dào! Bây giờ thì cái gì của thời cũ đều bị phá đi, vứt bỏ hết! Bây giờ người ta tính áp dụng lối tiêu thổ kháng chiến ở Liên Xô, phá sập, dẹp hết, đốt hết, san thành bình địa ráo, để địch không thể xâm chiếm được. Nơi nào có tinh thần kháng chiến cao như vùng Vinh, Thanh Hoá, Nghệ An thì đã bắt đầu có lệnh thi hành chính sách “tiêu thổ”. Với hô hào “tất cả cho kháng chiến”. Tiếc gì cái lối đa truyền cảm, trữ tình, nay bị coi là truỵ lạc, là sa đoạ này!
.
Chầu hát ả đào dần tới hồi kết thúc. Quan viên cầm trống bỗng đứng dậy, bước tới trước mặt nhà văn Nguyên Tuân, nghiêm chỉnh cúi đầu nói:
.
– Xin kính mời quan bác! Quan bác là người đã nổi tiếng là tài danh cầm chầu là tài tử lịch duyệt của ca trù, đệ xin trả lại ngôi quan viên cho quan bác, để quan bác giữ nhịp cho bài ca cuối cùng của chầu hát chui này. Đệ chọn bài “Tỳ bà hành” để kết thúc, y như trong các buổi ca trù của các nhà hát trứ danh của Hà thành thanh lịch thủa xa xưa.
.
Nguyễn Tuân nghiêm nghị đón nhận chiếc trống nhỏ, sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, đặt trống xuống đúng tầm tay, đưa roi trống lên cao, rồi nhìn tay đàn và ca nương, đúng cách quan viên sành điệu, như vị nhạc trưởng của ban đại hợp tấu, chuẩn bị phát lệnh trên một chiếu hát. Mọi người chờ tiếng trống phát ra. Nhưng Nguyễn Tuân lại đặt nhẹ rồi trống xuống và nói với giọng trầm buồn:
.
– Này em Đức ơi! Anh biết em từng là ngôi sao ca nương sáng chói của lò hát bà Đốc Sao ở Hà Nội. Xưa kia thì phải là cỡ Tuần phủ, Tri huyện trở lên tới Tổng đốc mới được nghe tiếng em ca. Thế rồi cách mạng về thì nhà bà Đốc Sao biến đâu mất tích. Nay được tin em trôi dạt về đây, anh đã phải bịa chuyện xin đi công tác phương này, cốt là để tìm em, để được nghe em hát thêm một lần, cho dù mai sau có chết vì bom đạn thì anh cũng mãn nguyện là đã tận hưởng cuộc đời. Bởi hôm nay đây, cái cánh đồng khô giữa vùng đất núi rừng Tuyên Quang này bỗng trở thành một bến Tầm Dương! Và em Đức sẽ là người đưa tiễn anh với anh Thảo đây, đều là những Tư mã của thời đại, đang bị thời thế lưu đày về cái đất Giang Châu của Tuyên Quang này… Em hãy ca thật hay lên, để tiễn đưa chúng anh ngày mai lại lên ứ… ư đường! Chỉ tiếc ở đây không có rượu ngon để anh ngâm mấy câu thơ cổ:
 
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!
(Thơ Vương Hàn, Lương Châu từ, Trung Quốc)
.
Rồi Nguyễn Tuân cao hứng, đằng hắng, lấy giọng ngâm thật thống thiết tiếp:
Rượu ngon thơm ngát chén ngà
Chén chưa kịp cạn, tỳ bà thúc đi
Sa trường say, cười mà chi
Xưa nay chinh chiến, mấy ai trở về!
(Người dịch khuyết danh)
.
Cây roi giơ lên phát lệnh bắt đầu bài hát:
– Tom! Tom! Chát!
 
Nhưng tất cả ngạc nhiên vì ca nương không cất tiếng hát mà lại ôm mặt khóc nức nở! Thảo ngồi đấy cũng long lanh nước mắt. Vì trong lòng cũng cảm thấy một nỗi u buồn thấm thía khó tả, chẳng rõ vì sao. Nức nở, sụt sùi một hồi, ca nương lấy lại bình tĩnh nói:
.
– Em xin lỗi! Em xin lỗi! Vì nhìn mấy anh ăn mặc nâu sồng vất vả, mặt mày hốc hác, em thấy thương mấy anh quá! Mà em cũng khóc cả cho thân phận em! Thôi để em hát, để tiễn đưa các anh, và cũng là đưa em nữa, vì mai đây gia đình em sẽ tìm đường về xuôi, vì cái bến Tầm Dương của em là bên quê ngoại ở mãi vùng Thái Bình cơ!
 
– Thôi nín đi em! Hát đi em!
.
Nguyên Tuân lại nổi trống giục:
– Tom! Tom! Tom! Chát!
Ca nương bắt đầu lên giọng ngân nga, luyến láy não lòng:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lạch đìu hiu
Dời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui
Nghe não nuột mấy dây buồn bực
Dường than niềm tấm tức bấy lâu
Mày chau tay gẩy khúc sầu
Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn
Thuyền không, đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi, lạnh lùng
Nghe não ruột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Lệ ai chan chứa hơn người
Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh…
(Trích thơ Bạch Cư Dị, Phan Huy Vịnh dịch)
.
– Tom! Chát! Chát! Tom!
Tiếng trống vang lên như để khen “Thật tuyệt vời!”, tiếng đàn cùng tiếng hát ngưng bặt. Cả cái chòi cót giữa cánh đồng không ấy bỗng im lặng hoàn toàn. Chỉ còn tiếng gió, xào xạc, qua một bụi tre, vọng lại từ xa.
.
Trong chòi, mọi người, như chết lặng vì quá cảm xúc. Tất cả êm thấm đứng dậy, chậm rãi thu xếp trống, đàn, từ từ rút lui. Tất cả họ bùi ngùi, câm nín, ra về trong sợ sệt, nhìn trước, ngó sau, lắng tai, phóng mắt ra khắp phía xa chung quanh, không ai nói với ai nửa lời. Mỗi người mỗi nặng một tâm tư luyến tiếc, lo âu, sợ hãi…
.
Nguyên Tuân ghé tai Thảo:
– Này ông bạn trí thức của tôi ơi, nhớ cho kỹ là đừng cho ai biết là tôi đãi ông chầu hát ca trù này đấy nhé! Phải “bem” (giữ bí mật) kẻo lại bị ngồi viết kiểm điểm thì mệt lắm đấy!
– Thú thật là ngồi nghe, tuy không hiểu hết ca từ, nhưng tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống y như mình cũng đang khóc cho nỗi niềm u uất của chính mình. Không thể ngờ là lối ca này nó thấm thía vào tim gan đến thế!
– Anh có biết tại sao ca trù nó thấm thía vào tâm hồn mọi người không? Tại vì đây là một lối ca trữ tình. Bởi lời ca toàn là những bài thơ, bài hát nói của một nền văn chương quý phái đã lâu đời. Cách diễn tả lại càng trữ tình hơn. Vì làn hơi bị ức chế trong lồng ngực để rồi được đẩy ra thành tiếng luyến láy nghẹn ngào, nức nở, để bầy tỏ những tình cảm uất ức khó diễn tả, nên ca mà cứ như nấc nghẹn, muốn than van, nuối tiếc, khóc thương một thời hạnh phúc đã mất… Ai mà có nỗi niềm trong lòng thì mới thưởng thức hết được cảm xúc sâu thẳm của ca trù. Tôi biết anh cũng đang có nhiều nỗi niềm bị ức chế ở trong lòng nên tôi mới mời anh đi hát hôm nay. Có đúng như vậy không nào?
.
Thảo nhìn Tuân chằm chằm, rồi ngần ngừ nói:
– Anh hỏi tôi câu ấy làm tôi chột dạ. Cố phải anh là môn đệ của Freud đã nhìn thấy tâm can tôi không? Hay anh là cán bộ của “cụ Hồ” đang gài bẫy để bắt quả tang lập trường chao đảo của tôi đây?
– Tôi chưa hề đọc Freud. Và anh cũng đã mắc cái bệnh cảnh giác nặng rồi đấy. Nhưng cứ yên tâm, vì thằng Nguyễn Tuân này dù thế nào thì cũng không thể hèn mạt đến nỗi bán rẻ tình bạn cho cách mạng đâu. Anh cứ bình tĩnh mà chịu đựng và chờ đợi, chờ thời… Tôi hỏi thật, anh có hiểu tại sao ca trù nó lại thấm thấu tâm can chúng ta như vậy không?
– Tại sao vậy anh?
– Tại vì ca trù toàn chuyên chở âm điệu những nuối tiếc, những tình hận, những chí cả sinh bất phùng thời của những kẻ bất mãn, bất đắc chí như anh đấy!
– Sao anh thấy được tận đáy lòng tôi như thế? Xin cảm ơn anh! Nhưng cũng xin anh đừng làm tôi sợ vì đúng là anh đã bắt quả tang tôi đang chao đảo lập trường đối với cách mạng!
– Anh đừng lo. Tôi hiểu anh vì tôi hiểu tôi. Bởi chúng ta chỉ là bọn Giang Châu Tư mã đang bị giông bão thời cuộc đánh trôi dạt về cái bên Tầm Dương rừng rú này. Buồn lắm! Thảm lắm anh ơi! Với anh tôi mới dám thổ lộ tâm sự u buồn của tôi. Bởi tôi biết sợ cũng như anh biết sợ…
.
Rồi bác Thảo còn cho biết sau khi về tiếp thu Hà Nội, Nguyễn Tuân còn mời bác đi nghe hát ca trù chui lậu thêm hai lần nữa, nhưng những lần sau này thì không còn xúc động mạnh như lần đầu, trong cái chòi tranh thô kệch nghèo nàn ở giữa cái cánh ruộng khô, đêm trăng ấy nữa.
 
Trích “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối”,
 
Phan Ngọc Khuê ghi.
FB Nguyễn Xuân Diện
 
 

Bàn thêm về hát ả đào hay ca trù

Với định kiến xướng ca vô loài, ca trù bị gọi nôm na là hát “ả đào” và nghệ sĩ ngâm ca gọi là “cô đầu”.  Thật ra “ca trù” là quốc túy của dân tộc.  Muốn biết được đặc điểm này xin hãy tự hỏi : ai đã làm ra những bài thơ tuyệt tác cho những nghệ sĩ tài hoa đó hát.  Thưa đó là những nhà trí thức, những nhà thơ danh vọng như Nguyễn Du, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Tú Xương…tác giả của những áng văn thơ giá trị đã được ghi vào chương trình giáo dục nước nhà.

Chính ở ca trù chúng đã thấy được cái tài dung hợp để Việt hóa nào Đường thi, nào từ, nào phú, nào song thất, nào lục bát…để phong phú hóa nền văn học của tổ quốc.  Cũng như ca dao tục ngũ ca trù là quốc hồn, là những thứ do cái “hồn chung”của đất nước tự nhiên sản xuất ra, cho nên nếu biết giữ gìn kho báu đó thì văn hóa của đất nước mới phong phú được.

Ngày xưa nghe hát ả đào là lối sinh hoạt quan trọng nhất để thưởng thức ca trù. Ả  đào là những ca nương hát hay, giỏi ngâm vịnh và thêm vào đó còn là những giai nhân tuyệt sắc.  Các cụ ta xưa mô tả sắc đẹp của ca nương bằng những lời khen tặng tưởng chừng như chỉ có thể thấy từ trong mộng.

Dân gian truyền tụng như sau : Năm trăm năm về trước, tại đình làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm , Hà Nội đã diễn ra một lễ  hội đầu xuân cầu phúc.  Trong không khí trang nghiêm của lễ hội, một văn nhân hay chữ trong làng tên Lê Đức Mạo (1463-1529) đã thay mặt tám giáp, viết lên một bài thơ khen thưởng các cô hát ả đào.  Dó là bài “Đại Nghĩa Bát Giáp Thưởng Đào Giải Văn”, tài liệu sớm nhất mang hai chữ “ca trù”.  Ca trù từ đấy  đã được đưa vào văn học viết, xác nhận đã hiện diện trong văn hóa Việt Nam từ thế kỷ 15.

Trong cuộc trình diễn của ả đào có tục cầm chầu.  Cầm chầu là đánh trống nhỏ để khen tặng ca nương hát hay hoặc chê bai cô nào hát dở.  Việc cầm chầu thường do một quan viên hay chữ phụ trách.  Quan viên phải là người am hiểu về văn chương và âm luật.  Phải khen thưởng công minh thì mới được thính giả mến phục.

Thưởng thức ca trù gọi là nghe hát.  Ca nương chỉ ngồi yên trên chiếc chiếu cạp điều với diện mạo đoạn trang bình thản, chỉ có một cỗ phách tre trước mặt và giao lưu với khách bằng giọng hát và ánh mắt đưa tình.

Chỉ có thế thôi mà nghệ thuật đã góp cho nền văn chương hàng ngàn bài thơ viết bằng chữ nôm chứa nhiều tâm trạng lãng mạn, nhiều biến thái phong phú của tâm hồn Việt Nam qua nhiều thế kỷ.  Bằng chứng là ta đã thấy xuất hiện những tài danh tiêu biểu như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Tự Nhu, Chu Mạnh Trinh, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Bùi Kỷ, Nguyễn Khắc Hiếu…

Trong kho tàng văn chương ca trù, các bài hát hay nhất vẫn là những bài thơ lãng mạn ghi lại kỳ niệm yêu đương giữa văn nhân và đào hát.  Mỗi bài là một câu chuyên riêng tư thi vị, tuy được sáng tác trong hoàn cảnh ngẫu hứng của ly trà chén rượu, nhưng vẫn tồn tại như là những tuyệt phẩm của nền văn học nước nhà.

Quan hệ giữa văn nhân và ca nữ dường như chỉ có  Tạo Hóa mới bao tặng được.  Chính vì thế mà mối tình giữa văn nhân và ca nữ mới tồn tại lâu dài trong trí nhớ của mọi người.  Chính vì thế mà những mối quan hệ này đã được lưu trữ trong văn chương nói nhiều hơn là trong văn chương viết của văn hóa Việt Nam.

*

Để kết thúc bài viết này xin phép được có vài dòng tưởng niệm ca nương Hồ Điệp của làng ca trù nước ta trước 1975.  Hồ Điệp là bạn qúy của những tài danh như Vũ Hoàng Chương, Định Hùng.  Cô tên thật là Nguyễn Thị Tý, tự là Nhu, sinh ngày 5/5/1930 trong một gia đình nghệ sĩ tại làng Hiệp Lộc tỉnh Sơn Tây.

Nghệ danh Hồ Điệp là do thi sĩ Đinh Hùng đặt cho cô trong chương trình thi ca Tao Đàn của đài phát thanh quốc gia từ 1954.  Cô đã vĩnh viễn ra đi trong một hành trình rời xa tổ quốc để lánh nạn cộng sản nhưng hình ảnh người hoa khôi đó của nghệ thuật ca trù Việt Nam với giọng ngâm vàng ngọc sẽ còn ở lại trong tâm tư người Việt như một nghệ nhân có giọng ca muôn thuở.

Hồ Điệp là một nữ nhân rất xinh đẹp, có giọng cười như suối và đôi mắt hấp dẫn tuyệt vời.  Trong những buổi đi trình diễn cô hay đeo kiềng vàng, mặc áo nhung đen và đi hài cong như kiểu các thục nữ đất Bắc Hà thời hưng thịnh.

Hiện tại di ảnh của cô được thờ tại chùa An Lạc, Đường Phạm Ngũ Lão, Saigon.  Trên di ảnh đề ngày mất là ngày 15/5/1988.  Đúng ra ngày đó là ngày cô ra đi tìm tự do rồi mất tích.  Hồ Điệp được thờ ở đấy là do một thính giả say mê giọng hát của cô, đã làm một việc có nhiều ý nghĩa./.

Trần Quang Hải

Nguyễn Văn Lục – TRẦN ĐỨC THẢO SỐNG VÀ CHẾT NHƯ THẾ NÀO?

 September 11, 2014
 

 

        Viết cho Nguyễn Xuân Hoàng – người bạn đã một thời cùng chung dưới mái trường của Platon, hiện đang ở bên bờ tử sinh.

 

Nguyễn Văn Lục

nhung-loi-trang-troi

 

Tôi đã đọc Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối qua lời ghi chép lại của Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê với nhiều trăn trở, nhiều đêm mất ngủ, buồn cũng có và thương tiếc cũng có và cuối cùng chỉ còn biết thở dài với một thứ triết lý bi quan: Quả đúng là một kiếp người-. Quả đúng là một hành trình chữ nghĩa đầy gian lao và khổ cực phải đối đầu với nỗi sợ thường trực hầu như suốt đời. Cái đói no vốn là thiết thân với sự sinh tồn của con người, vậy mà so với nỗi sợ hãi bị theo dõi và ám hại xem ra còn nhẹ nhàng hơn nhiều.

Đọc từng đoạn, từng trang. Mỗi trang mỗi đoạn là mỗi vấn đề-vấn đề của vấn đề- mà rất khó để tổng kết lại.

Cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo là khổ lụy trăm chiều. Vẫn biết rằng người ta ai cũng khổ, làm sao tránh được. Nhưng nỗi khổ của Trần Đức Thảo là những cặp đối kháng như đen với trắng, giữa lý tưởng và thực tế, giữa nhân cách và quyền lực, giữa bản năng sinh tồn và lý trí, giữa điều thiện và tội ác, giữa dối trá và sự thật, giữa ta và người. Và cuối cùng giữa mình và chính mình. 

Cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo phải nói là đầy những năm tháng khốn cùng. Sự khốn cùng ấy bắt  đầu từ chính cái nhân cách con người ông. Nếu ông là hạng  người chịu uốn lưng, chịu cúi  đầu, chịu quỳ gối, chịu uốn lưỡi thì cái khổ chỉ có một phần. Nhưng chết nỗi ông sống thẳng, sống trung thực giữa một xã hội của bầy thú, gian manh, dối trá, lừa bịp, tàn bạo, bất nhân, ác độc, kìm kẹp nên nó đã nghiền nát  ông.

Nó không để cho ông có cơ hội làm người sống trung thực. Nhiều lúc, ông cũng đã bị buộc phải nói tiếng nói của người phi nhân cách, phi ngã. (Impersonnalité).

Ở đây, tôi chỉ xin đưa ra một nhận xét của ông Hoàng Hoa Khôi phản ánh đúng con người Trần Đức Thảo, trước đó cũng ở trong nhóm Trôskyt vào những năm 1944-1946 khi ông Thảo còn ngụ ở nhà số 10 Sorbonne, quận 5, Paris, ông Khôi viết:

Những ai quen biết ông đều biết ông là người ‘kiêu hãnh’(fier), tự tin, tự trọng. Ông không kiêng sợ ai và không ai làm ông phải khâm phục. Con người ngang tàng và thông minh ấy đã bị bộ máy Stalinien bẻ gẫy, nghiền nát. Con người ấy đã phải sống khuất phục hàng chục năm, dưới một chế độ đầy quyền lực, tôn ti trật tự, sùng bái lãnh tụ’.[1]

Chính cái cá tính con người Trần Đức Thảo đã là nguyên cớ cho những hệ lụy cuộc đời ông. Và đó cũng là cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ của riêng ông với chế độ để sống còn.

 Và cuối cùng vào lúc cuối đời, vào lúc mọi hy vọng đều tắc nghẽn, ông đã vượt thắng được tất cả, vật ngã kẻ thù- vật ngã cái trục của điều xấu. Ông đã hối hận vì đã sai lầm, vì đã đồng lõa với điều xấu trong nhiều năm.

Và để chuộc lỗi lầm, ông đã dùng sự thông minh, tài nhận xét, sự lý luận để xô ngã được thần tượng Hồ Chí Minh và chà đạp dưới chân ông chủ nghĩa Mác xít mà ông từng đeo đuổi trong suốt cuộc hành trình chữ nghĩa của ông.

Cuộc sống của ông ngoài chuyện cầm bút,  có thể chưa chắc ông đã làm được điều gì ích lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình. Nhưng chết, ông đã chết xứng đáng, để lại cho đời sau một thông điệp rất rõ ràng: Hồ Chí Minh là một tên đại bịp như Tào Tháo và chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa phi nhân, không có con người.

Theo tôi, chừng đó đủ rồi. Đừng đòi hỏi thêm nữa.

 Nhưng nhiều lúc tôi tự hỏi một người thông minh trác tuyệt như ông, phải đợi đến cuối đời mới nhận ra mình sai lầm? Ông có bằng một tên thợ nề vô học không? Tôi còn nhớ bản thân tôi khi di cư vào miền Nam, tôi mới chập chững bước vào trung học. Chẳng bị ai tuyên truyền, chẳng bị ai xúi giục, chẳng tôn giáo nào rỉ tai vô Nam.. Vậy mà như một sự thúc đẩy bên trong- không phải bằng sự thông minh- mà bằng một bản năng sinh tồn- thúc dục phải đi thôi. Đi bằng mọi giá. Thầy tôi do dự không muốn đi có thể vì tiếc của. Phần tôi nhủ thầm, nếu gia đình không đi thì tôi sẽ một mình ra đi một mình.

Điều gì khác biệt giữa một trí thức cỡ Trần Đức Thảo và một thằng nhỏ 12-13 tuổi đầu như tôi. Ai là người sáng suốt, ai là người chọn đúng con đường phải đi?

Vào những năm 1950 sống ở bên Tây, lẽ nào ông không biết đến những biến cố chính trị xảy ra giữa Đông Đức- Tây Đức?[2]

Cho đến bây giờ, những câu hỏi ngờ vực này vẫn lẩn quẩn trong đầu chưa có một lời giải đáp thỏa đáng. Phải chăng ông sinh ra nhầm thời đại và chọn nhầm chỗ cư ngụ, nhầm chế độ? Nhiều người cũng hỏi giống như tôi. Tác giả Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê cũng hỏi bác Thảo một câu tương tự. Câu trả lời của ông Thảo thật đơn giản: vì tôi có một lý tường muốn về để phục vụ đất nước.

Đã bao nhiêu trí thức, nhân tài của đất nước hy sinh và chết cả cuộc đời vì hai chữ yêu nước ?

 Nói cho cùng, đó là cái dại của ông- chỗ đáng sống ông không chọn như Paris hay Saigon- lại chọn Hà Nội. Chọn Hà Nội là tự chọn vào cái chỗ chết.

Đúng như bố của ông than thở: Về như vậy là mày tự giết mày rồi! Mà cũng là giết cả mẹ mày và tao nữa. Thảo ơi! Phải chi mà mày học được cái nghề như thợ nề, thợ máy, thợ mộc gì.. thì đỡ khổ cho tao biết mấy…(..) Chúng nó đã xúi mày đi vào chỗ chết. Có là điên mới đi theo chúng nó. Mày về đây là mày giết mày giết cả tao đấy Thảo ơi là Thảo ơi![3]

Chính cái mà ông gọi là lý tưởng đã hại chẳng những mình ông mà hại cả trăm, cả ngàn, cả vạn  người sau này. Họ đã viết lên những lời tự thú tội mà danh sách những người này mỗi ngày mỗi dài. Người chót trong danh sách ấy hiện nay là một ông già 85 tuổi tên Trần Đĩnh trong cuốn Đèn Cù.[4]

 Giả như ông cứ ở Paris hay về Sài Gòn thì cuộc sống và tương lai chữ nghĩa của ông sẽ như thế nào? Sẽ có 10 cuốn Phénoménologie thay vì chỉ có một cuốn.

Nếu ông ở lại bên Pháp, ông sẽ được chào đón bởi  những người trí thức hàng đầu của Pháp về triết học như J.P Sartre và nhóm Les Temps modernes, hay nhóm chủ thuyết Hiện tượng luận như Merleau Ponty hay nhóm cộng sản trong Les enjeux, Révolution và nhất là người học trò đã nhận ông là bậc thầy duy nhất về triết thuyết cộng sản Althusser.

Chữ nếu ấy đã không bao giờ xảy ra mà chỉ vì lòng thương tiếc ông mà ta tự đặt ra thôi.

Và nếu ông về Sài gòn thì sao?  Lại nếu. Thật là quá trễ để nói về điều ấy. Nhưng qua vài dòng ông thố lộ sau đây cho thấy Sài Gòn vẫn là mảnh đất dung thân cho đủ loại trí thức của dòng chảy di cư sau 1954.

 Thật vậy, khi được Trần văn Giàu và Trần bạch Đằng thu xếp vận động cho ông Thảo vào sống ở Sài Gòn. Ông đã ngạc nhiên không ít khi nhìn thấy Sài Gòn lần đầu- một Sài gòn đã bị bần cùng hóa và tha hóa sau 1975- mà cái ông nhận ra chỉ là những rớt lại như những mảnh ván trôi bập bềnh trên biển sau khi con thuyền đã chìm:

Mới đặt chân xuống cái thủ đô của miền Nam này, mọi sự đã làm tôi kinh ngạc. Qua bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ mà sao Sài Gòn nó lại khang trang hiện đại như vậy? Tôi cứ ngỡ cả miền Nam đói khổ vì bị Mỹ-Ngụy bóc lột đến nỗi miền Bắc đã phải ‘cắn hạt gạo làm tư’ để cứu giúp miền Nam cơ mà.. Và mọi người ở đây nói năng cởi mở thoải mái như vậy? Ngay những cán bộ Đảng ở đây cũng có thái độ tự do quá. Họ đãi đằng, giễu cợt tôi, coi tôi cứ như anh mán, anh mường ở rừng mới được về thành phố. Phải nói thẳng ra là có một điều của Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực. Đó là những bài hát của một anh chàng nhạc sĩ trẻ của miền Nam, nói đúng ra là của Mỹ-Ngụy chứ không phải của Đảng. Tên anh ta là Trịnh Công Sơn. Các bài hát của anh ta mang nỗi niềm day dứt, oán trách chiến tranh. Cứ như anh ta khóc than thay cho cả dân tộc ở cả hai miền Nam Bắc. Giữa những năm tháng chiến tranh một mất một còn ác liệt như thế mà sao anh ta dám cất lên tiếng kêu than như vậy. Những lời ca của những bản nhạc đã làm tôi xúc động bồi hồi không cầm được nước mắt. [5].

Cả một đất nước, cả một dân tộc đã bị nhiễm độc vì những lời tuyên truyền dối trá như thế- trước đây và bây giờ vẫn tiếp tục.- Tội cho con người, tội cho thế hệ mai sau mà chưa biết đến lúc nào, đến bao giờ chúng ta giải trừ được cái nọc độc ấy.

Có thể nói trong toàn bộ  cuốn Những lời trăn trối, đây là lần đầu và cũng là lần  duy nhất chỉ một lần thôi, Trần Đức Thảo có những lời khen trân trọng với niềm xúc động đối với miền Nam Việt Nam!!

 Miền bắc cộng sản trong toàn bộ cuốn sách hầu như tuyệt đối không có trong mắt của Trần Đức Thảo.

 Và nếu sự việc xảy ra chỉ khác một chút thôi- cái giây phút chóng vánh gặp Hồ Chí Minh- nếu ông đã nhận ra được cái dã tâm của con người ấy trong lần tiếp xúc đầu tiên- may ra ông sẽ tránh được những nghịch cảnh đau lòng sau này.

 Làm gì sau này ông phải sống cái cảnh giữa chuột và Người. Cả một đàn chuộc đủ loại con lớn con nhỏ đã rúc rỉa ông, sói mòn ông sống như thằng điên, thằng khùng, tiêu tan sự nghiệp, mất cả vợ vào tay ngưới khác.

 Ông nhớ lại như một hồi ức đau thương ở Hà Nội vào những năm ấy, họ nhất loạt tố cáo ông như trường hợp Phạm Huy Thông với bài:  Mặt thật của Trần Đức Thảo.

Ông Trần Đức Thảo với nhân cách cao vời đã không chấp đám học trò. Nhưng được cật vấn về trường hợp Phạm Huy Thông, ông bất đắc dĩ bày tỏ như sau:

Anh chàng ấy hồi ở Pháp thì tôi có biết, nhưng không thân..Sau này nhân vụ đấu tố nhóm Nhân Văn Giai Phẩm thì Phạm Huy Thông đã ngả theo phe Tố Hữu để tố khổ tôi một cách hằn học thật là tồi tệ bất ngờ. Cách thức tố cáo, buộc tội tôi như thế đã làm cho y sau này bị xấu mặt cả đám văn nghệ sĩ cán bộ. Bởi lúc ấy, những gì mà mỗi trí thức đã viết ra, thì đều phơi bầy cái mặt trái, mặt thật xấu xa, hèn kém của họ’.[6]

Hay bội bạc hơn nữa, cảnh trò tố cáo thầy như trường hợp nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến.[7] Nguyễn Đình Chú. Và chua chát nhất là bài của của một môn sinh phản thày: ông Khắc Thành trong bài Quét sạch nọc độc Trần Đức Thảo trong việc giảng dạy triết học.

Cảnh chuột và Người chỉ có thể xảy ra ở Hà Nội. Và chỉ ở Hà NộiAi là chuột ai là Người trong những tên tuổi sau đây trong giai đoạn đấu tố Trần Đức Thảo:

Có cả một chiến dịch nhằm đánh phá vào một mình ông với các tên tuổi như: Bác sĩ Hồ Đắc Di, giáo sư Phạm Hữu Tước, giáo sư Nguyễn Lân, giáo sư Nguyên Hoán. Trường Giang, Thiều Quang, Ngô Vi Luật, Chu Thiên, Lê Dân.

 Cả một danh sách dài biên niên mà Lại Nguyên Ân đã ghi lại[8]. Nay thì những đàn chuột ấy ở đâu?

Đấy là món nợ của trí thức Hà Nội mà không một ai trả nổi dù đây đó đã gióng lên những lời xin lỗi. Bởi vì ai là kẻ gây ra món nợ này? Cứ hỏi và cứ hỏi đi và câu hỏi cứ ‘ trèo “ lên cao mãi, phải chăng là Tố Hữu? Cũng không phải, Trường Chinh cũng không nốt mà trèo lên đến đỉnh điểm thì còn trơ trọi có một người. Người đó là Hồ Chí Minh- Đẹp mãi tên Người-. Chính con người ấy mới là thủ phạm chính- thủ phạm trù dập Trần Đức Thảo đến tận đất đen-. Hồ Chí Minh có thể tha tội chết cho ông, chứ không tha tội sống. Cũng chính Hồ Chí Minh là người đã dẫn đưa đất nước đến hố sâu của sự bần cùng và tụt hậu, phá sập trật tự pháp luật, trật tự xã hội và trật tự đạo đức như hiện nay. Sau này, muốn khôi phục lại có thể mất hàng thế kỷ vị tất đã xong.

Trần Đức Thảo là người đã nhân danh con người tố cáo và vạch trần thủ phạm Hồ Chí Minh ngày hôm nay.

Vì thế nay chính quyền cộng sản muốn trả món nợ ấy cho Trần Đức Thảo thì thật không đơn giản và nhẹ nhàng thoải mái như khi trả nợ cho Lê Đạt, Trần Dần, ngay cả Nguyễn Hữu Đang hay bất cứ ai khác. Với Lê Đạt, Trần Dần,  có khi chỉ cần cho họ trở lại biên chế, trả lương bổng, cấp cho vài cái bằng khen và cho phép cầm bút trở lại thì họ đủ bằng lòng và xóa nợ tất cả.

Nhưng đối với Trần Đức Thảo khi ông đã nhiều lần gọi tất cả lãnh đạo cộng sản là chúng nó- chúng nó tính từ Hồ Chí Minh trở xuống đến Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn- thì những nhân sĩ, trí thức, nhà văn miền Bắc lấy tư cách gì mà đòi trả nợ cho Trần Đức Thảo? Cho dù nay ông còn sống, ông cũng không cần ai trả vì theo ông những kẻ tố cáo ông thì tự họ làm xấu mặt họ..

 Kẻ tố cáo bỗng nhiên trở thành kẻ bị cáo.

Nhưng đối với ông chết là để sống trung thực. Và ông đã làm được điều ấy. Vậy thì có đáng gì một cái huân chương để trên nắp quan tài nhà triết học? Một thứ nghi lễ trang trí, dối trá và bịp bợm. Một thứ văn hóa cộng sản theo nghĩa hôm nay nó giết mình, mai nó cho người mang vòng hoa đến phùng điếu!! Hãy đọc đoạn văn sau đây  của nhà văn Phùng Quán về tính bi hài kịch của thứ văn hóa cộng sản. Bài viết với nhan đề: Hành trình cuối cùng của một triết gia.

Lần này triết gia trở về Tổ Quốc trong khoang hành lý máy bay, chiếm một chỗ hết sức khiêm nhường. Triết gia đã hóa thân thành tro nằm trong cái bình bằng kim loại sơn mầu xanh thẫm hơi giống một chiếc cúp bóng đa và cũng to bằng cỡ đó…(..). Về đến Hà Nội vì không có gia đình vợ con, không có cơ quan nào nhận để thờ, hoặc để quàn… nên triết gia phải tạm trú dưới cái gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố 125 , đường Phùng Hưng Hà Nội

 Tôi được biết triết gia là người chiếm kỷ lục thời gian tạm trú ở đây. Năm mươi ngày đêm.Và mỗi ngày đêm tiền thuê phòng là 5000 đồng. Nhưng Trần Đức Thảo thuê phòng mà diện tích tranh thủ chưa đầy một mét vuông. Khách thuê phòng này lại không dùng đến giường, đệm, chăn màn, tivi, tủ lạnh, điện thoại riêng, máy điều hòa nhiệt độ, toa lét, nhân viên phục vụ.. tính chi li theo tôi còn đắt hơn cả khách sạn 5 sao.

Triết gia phải tạm trú lâu như vậy là phải chờ quyết định trên, có được đưa vào Mai Dịch hay phải về Văn Điển..

Sau 50 ngày chờ đợi, tốn mất 250 ngàn tiền phòng, triết gia đã được trên quy định đưa về mai táng tại khu A Văn Điển, khu vĩnh viễn hưởng thụ đúng tiêu chuẩn quy định.

Mộ của ông khá đặc biệt. Bình tro được đặt trong tiểu sành, tiểu sành được đặt dưới khuôn huyệt bên trên có nắp bê tông đậy kín. Như vậy là ông được mai táng theo quy cách các nhà giàu cổ xưa: trong quan ngoài quách.

Đây có lẽ là sự xa xỉ độc nhất trong cuộc đời triết gia quá ư thanh bạch của ông, mà nếu biết được, tôi tin chắc ông sẽ kịch liệt phản đối.[9]

Đoạn văn trên của Phùng Quán nói đến hành trình cuối cùng của triết gia- một hành trình được diễn ra với kịch tính, thô bỉ và không thiếu sự đểu cáng.

Nhưng sau đây là Hành Trình khởi đầu cho một cuộc đời bất hạnh với đầy gian khổ.

 Con đường Paris-Luân Đôn-Praha-Moscou-Bắc Kinh- Việt bắc là con đường không bằng phẳng-chông gai, gập ghềnh ngay từ đầu- mà Trần Đức Thảo đã tự chọn. Hồ Chí Minh đã từ chối không cho ông về. Ông phải cậy cục đảng cộng sản Pháp đến cả lãnh đạo Liên Xô để được về chiến khu Việt Bắc. Đây là khúc nhạc khởi đầu cho một liên khúc kéo dài trong suốt 40 năm. Chọn ai không chọn lại chọn một người mà sau này chính ông gọi là một thứ gian hùng chẳng khác gì Tào Tháo..

Ông đã sống như thế- sống vất vưởng, tủi nhục- vì chính những chọn lựa của mình. Khó mà trách ai được. Nhiều lúc tưởng ông như một người đi trên mây, dở khùng, dở dại. Nhiều lúc tưởng chừng bộ máy nghiền cộng sản đã bẻ gẫy ông. Trong vụ Nhân Văn Giai phẩm, rõ ràng đảng sai ông đúng. Vậy mà ông cũng đã có lần cúi đầu thú tội: Ông đã xin lỗi trước đảng và trước nhân dân. Ông cũng đã thú nhận là trong nhiều lần học tập, ông cũng đã phải dơ tay như mọi người hô: Nhất trí, nhất trí.

Ông cũng biết nhẫn nhục, cũng biết sợ chết và hầu như cả đời ông bị ám ảnh về nỗi sợ hãi bị ám sát.

 Nhưng khi chết, ông đã để lại một di sản tinh thần vô cùng quý báu- không phải những sách như Phénoménologie et matérialisme dialectique(1951)- Sách này đã làm nên danh phận ông- mặc dầu vậy nó có cũng được không có cũng không sao.

 Bời vì, thứ chủ nghĩa mà ông đeo đẳng gần như suốt cả cuộc đời nay ông đã rũ sạch. Nó chỉ còn là một món hàng bị phá sản mà chính chủ nhân của nó đã tìm cách bán tống bán táng đi rồi.

Cuối cùng một điều tối quan trọng. Sống có thể ông không làm được gì-.

Ông  đã tỏ ra ‘vô ích” khi còn sống.

Nhưng cái chết của ông chỉ đến lúc ông nằm xuống, người ta mới biết được tất cả sự thật. Đảng tưởng rằng đã loại trừ được một tên cộng sản quấy rầy- un communiste dérangeant. -Đảng mới bật ngửa ra là đã không khai trừ nổi được ông.

 Lúc ông chết  mới thật sự là lúc ông sống thật với ván bài lật ngửa.

Ông đã có thể thất bại suốt cuộc đời dù rất có thể, ngay cả cái cái chết của ông đã bị nghi ngờ là người ta đã ám toán ông bằng thuốc độc.  Cứ như đọc diễn tiến mấy ngày cuối đời trong Những lời trăng trối của ông thì phải đi đến kết luận là ông đã bị đầu độc đến thượng thổ, hạ tả và khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu thì ngày hôm sau, ông đã tắt thở.[10]

Mặc dầu vậy, vượt mọi toan tính đê tiện của những kẻ thù, ông đã để lại được chúc thư cuối đời qua cuốn Những lời trăng trối.

Đây là sự bất ngờ vượt mọi dự đoán của kẻ thù ông. Ông đã đánh lừa được tất cả mọi người. Đánh lừa bằng cách gỉả điên, giả ngu ngơ, giả khờ dại, giả câm điếc. Từ những kẻ muốn ám hại ông đến những người quý mến ông, những trí thức ở Paris đều tưởng ông đã hết thời, đã ăn nói lẩm cẩm.

Nhưng mọi người có thể đã lầm. Ông đóng kịch khéo quá, khéo đến như thật.

Nay tất cả mọi người đều ngỡ ngàng về tập sách Những lời trăng trối…

Ngỡ ngàng là phải, vì những lời trăng trối chết người này; những lời tâm huyết có thể quyết định sinh mạng Trần Đức Thảo và cũng có thể trở thành lưỡi liềm phạt cỏ dưới chân của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản.

 Đáng nhẽ, những lời trăng trối này phải được trao cho những trí thức thiên tả như Nguyễn Ngọc Giao mới phải. Nguyễn Ngọc Giao là người đã giúp đỡ ông nhiều trong thời gian trước đây ở Sài gòn trong việc in sách. Nguyễn Ngọc Giao cũng là người đã tìm nơi ăn chốn ở và tiền tài trợ mỗi tháng 10.000 fr cho Trần Đức Thảo- một mối giao tình vừa là tình bạn vừa theo nghĩa ‘đồng chí’. Hoặc chị X, cũng thuộc cánh trí thức tả thường đến thăm ông thường xuyên tại phố Le Verrier..

Tôi tự hỏi tại sao ông không chia sẻ tâm sự với các đồng chí của ông?

Không!! Trần Đức Thảo không tin ai cả, nhất là những thành phần cùng phe phái như cánh tả, dù có liên hệ bạn bè. Ông sợ họ và sợ lây lan đến những kẻ cầm quyển.

Trớ trêu và oái ăm thay! Ông lại tin và trút hết tâm sự cho hai người xa lạ, một người kể như chưa hề quen biết ông. Đó là giáo sư Canh và Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê.(Tôi không được rõ Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê là hai người hay một người)

Tôi đã tìm được câu trả lời. Với thói quen quán tính, cả đời ông chỉ gặp những kẻ  thù lúc nào cũng sẵn sàng rình mò để sẵn sàng tố cáo ông.

Còn hai người khách lạ này đến với ông bằng một tấm lòng. Và nhất là họ là người Sài Gòn- người quốc gia-.Xin đọc:

 ‘Canh và tôi –(một người gốc gác ở Quy Nhơn, một người ở  Sài Gòn)-đều rất xúc động khi phải chứng kiến cảnh một vị giáo sư từng một thời vang danh ở Paris, mà nay phải hạ mình bàn cách bán tiếng nói, bán chữ để kiếm sống qua ngày(…)Canh cũng bỏ vào túi áo nhà triết học một chút tiền. Chúng tôi rất ngạc nhiên và cũng rất ái ngại khi nhìn thái độ ngượng ngùng của bác Thảo khi tiếp nhận sự trợ giúp ấy. Phải cố cầm nước mắt, để gượng cười với nhau. Những tâm sự u buồn ấy đã làm chúng tôi im lặng khá lâu khi cùng nhau đi ra xe.[11]

 Ở một chỗ khác, ‘Bác Thảo lắc đầu mỉm cười tê tái, mắt ngấn lệ. Chúng tôi nhìn bác thấy thảm thương quá, không cười theo được.[12]

Chính ở những tình tự con người xuất phát từ những con tim mà có tương giao con người mà có chia xẻ, có tín cẩn và có chỗ giãi bầy tâm sự mà cả cuộc đời 40 năm ở xã hội cộng sản, bác chưa hề một lần bắt gặp.

Cũng chính ở chỗ đó mà có được tập sách này. Xin cám ơn con người. Cám ơn tác giả gốc gác miền Nam.

Trong khi đó, phần đông trí thức thiên tả ở Paris chỉ muốn tìm lại ở Trần Đức Thảo – một cái hào quang quá khứ như chỗ dựa cho sự suy tàn của cánh tả- hoặc tìm lại một con người thông minh sắc sảo của thập niên 1950 như một đồng chí, như một niềm vinh hạnh.[13] Nhưng Trần Đức Thảo đã làm họ thất vọng. Họ lẳng lặng bỏ rơi ông như một thứ món hàng  bị phế thải. Sau khi nghe ông Thảo thuyết trình về Triết học của Staline ở trường đại học Denis Diderot thì mọi người đều thất vọng. Ông Lê Thành Khôi bỏ về nửa chừng. Nguyễn Ngọc Giao, một người có lòng muốn giúp đỡ ông Thảo nhiều trong việc tìm chỗ ăn, chỗ ở cho ông Thảo than:

‘Ông trình bày xong thì tôi ra về, không ở lại nghe phần hỏi đáp..(…) Nghe ông nói bữa ấy, tôi buồn quá. Dường như tôi không phải là người duy nhất cảm thấy buồn..[14].

Nay nếu có dịp đọc tập sách Những lời trăng trối thì Nguyễn Ngọc Giao sẽ buồn hay vui?

Bẽ bàng hơn cả có thể là viên Đại sứ Trịnh Ngọc Thái ở Pháp đã bị Trần Đức Thảo qua mặt sau cái chết có thể do chính y đạo diễn..tưởng rằng đã tịch thu được mọi tài liệu tại ngôi nhà số 2 Le Verrier ngay sau khi ông Thảo chết vào 2 giờ sáng ngày 24 tháng tư năm 1993.[15]

Y đã nhầm và tính sai một nước cờ. Nước cờ của ông Trần Đức Thảo đi xuất phát từ lòng nhân ái mà y không thể tiên đoán trước được. Y quen thủ đoạn, y quen lừa lọc nên không hiểu thế nào là tình con người.

Và tại Sài gòn, một nhân vật quyền thế nắm sinh mạng Trần Đức Thảo là Sông Trường, y chính là người đã trục xuất Trần Đức Thảo ra khỏi Việt Nam với một vé máy bay có đi mà không có về. Y bị Trần Đức Thảo lừa một cách tủi nhục. Hãy nghe y nói với Trần Đức Thảo:

‘Chúng tôi đã bố trí, đã chuẩn bị cho anh một lối thoát vừa danh dự vừa lý tưởng. Vì anh chưa nghĩ thấu đáo đấy thôi. Tất cả đã sẵn sàng rồi! Nhất định là anh không thể lưu lại cái đất Sài Gòn này như vậy nữa đâu! Đảng đã quyết định, nhất định là anh sẽ phải ra đi thôi!!![16]

Sự thật theo lời ghi lại của ông Trần Đức Thảo thì ông đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam như một thứ vật dư thừa, thứ đồ phế thải.

Nhưng họ lại gọi đây là một chuyến đi công tác.

Vì thế, mới có bài viết: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo  tháng 3- năm 1991- 24 tháng 4 năm 1993 của ông Cù Huy Chử và Cù Huy Song Hà.[17] Chuyến đi công tác này có nhiệm vụ đi giải độc về những gì Georges Boudarel được coi là đã viết sai về Nhân Văn Giai Phẩm tại Việt Nam. Từ ông Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Văn Linh và ông Hồng Hà đều bằng lòng bố trí cho Trần Đức Thảo sang Paris.  Chính ông Hồng Hà đã ký công văn số 624-CV-TU cử giáo sư Trần Đức Thảo sang Pháp để nghiên cứu khoa học. Sau đó ông Thảo đã được cấp vé máy bay và ăn ở tại Paris trong thời gian 6 tháng..

Đọc những thông cáo chính thức trên cho thấy tính cách bịp bợm của lãnh đạo cộng sản. Một mặt gọi là chuyến công tác giải độc những điều viết sai trái của G. Boudarel. Nhưng trong công văn chính thức lại ghi là đi nghiên cứu khoa học!!

Khôi hài. Ông Trần Đức Thảo là triết gia biết gì về lãnh vực khoa học- khoa học gì mới được- mà nghiên cứu?

Phần Đức Thảo khi được hỏi về vấn đề này đã giải thích như sau:

–         Thế bác không lo làm công tác vận độn sự ủng hộ cho chính sách của đảng và nhà nước à?

–         Lúc mới qua thì buộc lòng phải nói thế thôi! Chứ có vận động khỉ gì đâu, Hôm ấy cứ bị chất vấn: vận động cái gì, vận động như thế nào, vận động những ai… làm tôi bối rối.(..). Chẳng lẽ lại nói tôi trở qua Paris là không có mục đích gì sao? Hoặc nói là qua đây để ngồi viết sách, để người ta cười cho à?[18] oặc nói qua đây

Ông tiến sĩ Cù Huy Chử- một cánh tay của đảng-. Ông tự cho mình là người được ông Trần Đức Thảo  tín nhiệm và đã trao hết di sản tinh thần cho ông nắm giữ. Và mới đây, vì chưa có cơ hội đọc cuốn Những lời trăng trối, ông đã tổ chức vinh danh Trần Đức Thảo theo kiểu ‘nhổ ra rồi lại liếm’.

Cho đến ngày hôm nay, cuốn sách của ông Trần Đức Thảo gây được tiếng vang lớn trên thế giới thì ở bên nhà, ông Cù Huy Chữ vẫn giữ im lặng.

Nội dung cuốn sách Những lời trăng trối bàng bạc từng chi tiết, từng sự việc, dù là chuyện lớn, chuyện nhỏ, dù là chuyện liên quan đến Trần Đức Thảo hay không chỉ tóm tắt vào hai chủ đề lớn: Hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh bằng chứng minh, bằng lý luận, bằng những nhận xét sâu sắc để vạch trần bộ mặt thật của Hồ Chí Minh.

Về điểm này, từ xưa đến nay, chưa ai có đủ tư cách cũng như can đảm làm được như ông.

Điểm thứ hai, ông chứng minh và cho thấy rằng Marx sai lầm. Staline sai lầm và trong chuỗi lý luận ấy Hồ Chí Minh chỉ là kẻ ăn theo hiển nhiên là sai lầm.

Theo tôi, cho dù có theo đuổi chủ thuyết Mác Xít thì qua những trải nghiệm đau thương về Cải cách ruộng đất, về Nhân Văn Giai Phẩm, Trần Đức Thảo nói cho cùng là một triết gia gia Mác Xít nhân bản( Humanisme Marxiste) theo như một số nhận định của nhiều người.

Với quan điểm nhìn ấy, dù ông không còn nữa, ông đã xóa sổ đảng cộng sản Việt Nam!!

Nói cho cùng sự trả giá của ông không phải là vô ích.

Phần một:                 Giải mã bộ mặt thật của Hồ Chí Minh

Ngày 5 tháng sáu, năm 1946 đánh dấu lần đầu tiên ông Trần Đức Thảo được gặp Hồ Chí Minh tại Paris. Trong buổi chiêu đãi ‘phái bộ cụ Hồ’, ông Thảo đã hồn nhiên vội vã thân mật ra nắm chặt tay Hồ chủ tịch và nói:’ Tôi rất hân hạnh gặp cụ chủ tịch.  Cụ Hồ cũng vui vẻ đáp: Chào chú Thảo.. Vào cuối bữa ăn, Hồ chủ tịch kêu gọi anh em Việt kiều về nước tham gia kháng chiến. Trần Đức Thảo hăng hái nhận lời ngay và nói ông Hồ: Tôi rất mong ước được về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp tại quê hương ta. Và để đáp lại lời ông Thảo: ông cụ lúc ấy chỉ mỉm cười nhạt, nhưng nét mặt thì vẫn lạnh lùng khi nhìn tôi. Tới lúc Hồ chủ tịch lần lượt bắt tay từ biệt mọi người. Khi bắt tay tôi thì ông cụ nói với tôi một cách nghiêm nghị:

-Còn chú Thảo này thì cách mạng chưa cần tới chú lúc này đâu. Chú cứ ở lại Paris thì có lợi cho cách mạng và cho chú hơn.[19]

Và kết quả là có bốn Việt kiều cùng về với ông Hồ là: ba kỹ sư Phạm Quang Lể, Võ Quý  Huân, Võ Đình Quỳnh và bác sĩ Trần Hữu Tước.

Sự loại trừ ông Trần Đức Thảo của ông Hồ rõ ràng đến như thế mà xem ra ông Thảo vẫn không nhận ra.

Hồ Chí Minh khi sang Pháp hẳn đã nắm hồ sơ Trần Đức Thảo trong việc ông cộng tác với nhóm Troskyt để thành lập Ủy ban Đại diện Việt kiều( Delégation Générale des Indochinois en France), đại diện cho 20.000 Việt kiều ở Pháp..Và năm 1946, ông cũng là người tuyên bố công khai bất đồng ý kiến với Hiệp Định sơ bộ mà ông Hồ ký,[20]

Số phận ông Thảo không giống số phận của Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu thuộc nhóm cộng sản đệ tứ được kể là điều may rồi. Tạ Thu Thâu còn dại dột vì câu nói: Ngoài bắc có cụ trong Nam có tôi. Trần Đức Thảo cũng dại dột không kém khi nói với Hồ Chí Minh: Tôi rất mong về nước để cùng cụ xây dựng thành công.

 Nói như thế là tự cho là ngang hàng với Hồ Chí Minh, một xúc phạm đến lãnh tụ đến không tha thứ được. Anh là cái thá gì mà đòi cộng tác, cùng cụ xây dựng!!

Ông Thảo cũng đã thừa nhận rằng, ông cụ phải là trên tất cả và không cho phép ai tỏ ra ngang hàng với Người.

Trong khi đó TS Cù Huy Chữ đã viết lại kỷ niệm ngày 27-7-1946 trong buổi gặp gỡ giữa ông Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng có phần khác hẳn.[21]  Ông không có dù một chữ nói về cuộc gặp vắn vỏi giửa Hồ Chí Minh và Trần Đức Thảo.

Sự che dấu ấy nay trở thành sự thật lộ liễu quá. Điều gì các ông ấy không nói ra, điều đó mới là sự thật.

Sự thật như Trần Đức Thảo tiết lộ là Hồ Chí Minh đã có ác cảm với ông ngay từ buổi gặp gỡ lần đầu tiên với Việt Kiều tại nhà ông Raymond Obrac, người đã có nhã ý cho mượn nhà để làm buổi tiếp tân.

Trần Đức Thảo cảm thức được rằng kể từ nay, thân phận người trí thức như ông sẽ bị bóng ma Bác Hồ phủ lên. Từ đó, Trần Đức Thảo suy luận thêm rằng trên bác Hồ có bóng ma của Mao Trạch Đông, trên Mao Trạch Đông có bóng ma của cụ tổ Marx.

Và dân chúng ở ngoài bắc cùng một lúc chịu bị đè bởi hai bóng ma: Bóng ma Liên Xô và bóng maTrung Quốc. Đấy là thảm cảnh đi căng giây cũng là thảm cảnh của cả dân tộc.

 Trần Đức Thảo nói thêm: Vậy mà ông cụ cứ tưởng mình tài giỏi, cứ tưởng mình đã tạo ra những trang sử oai hùng cho dân tộc, cứ tưởng mình có tài khuynh đảo các nước lớn, tưởng mình xoay vần được lịch sử… theo ý mình, nhưng cuối cùng mới nhận ra là nước mình vẫn nằm trong vòng cương tỏa của mấy thế lực nước lớn.[22]

Mặc dù cả đời Trần Đức Thảo, ông chỉ được gặp Hồ Chí Minh một vài lần. Nhưng ông là một trong những người hiếm hoi nhận ra con người thực của Hồ Chí Minh. Chỉ cần một chút quan sát, một chút trải nghiệm, Trần Đức Thảo đã nhìn ra nhiều mặt trái của con người ấy. Đó là một con người tự tôn mình, tự coi là trên hết biến sự sùng bái cá nhân như một thứ giáo điều. Từ cách ăn mặc theo kiểu lãnh tụ áo bốn túi, có cổ, cái mũ đội đầu, chòm râu, cái gậy chống, phong cách đi đứng, nói cười giả lả bề ngoài, mặc cái áo mưa, cách xưng hô bác cháu, cách phát biểu, ngay cả cái phong cách bề ngoài xem ra bình dân đều là có chủ đích, có tính toán rất kỹ càng. Trần Đức Thảo kể lại trong lần gặp ra mắt Hồ Chủ tịch, cán bộ nghi lễ đã dặn kỹ ông, phải đứng cách xa bác ba thước, không được nói, khi nào Bác hỏi mới được nói. Phải xưng hô bác, bác, cháu cháu. Lê Duẩn có thể còn hơn tuổi Hồ Chí Minh cũng không ra ngoại lệ nói chi đến những Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp.

Đó là cả một màn kịch mà đạo diễn chính là Hồ Chí Minh.

Ông tạo ra một phong cách của một lãnh tụ duy nhất, không giống ai và ở trên mọi người. Mọi quyết định lớn nhỏ đều do ông cả. Một việc nhỏ như kê khai lý lịch của Trần Đức Thảo, dưới không dám quyết định cũng phải trình lên lãnh tụ. Kiếm một việc làm cho Trần Đức Thảo, người nọ đùn người kia đến Phạm Văn Đồng cũng phải hỏi ý kiến Bác. Một chân thư ký cho Trần Đức Thảo cũng bị Hồ Chí Minh bác không cho. Cứ để cho nó đói rã họng mới hết kiêu căng. Việc cải cách ruộng đất làm chết hàng vạn người cũng do Hồ Chí Minh quyết định cả. Theo Trần Đức Thảo, Hồ Chí Minh đã che bộ râu, giả dạng làm người dân thường và đi dự những buổi đấu tố để xem xét và đưa những chỉ thị cần thiết như chỉ đấu tố vào ban đêm dưới ánh lửa bập bùng tạo ra không khí huyền bí, sợ hãi, gây được sự căm thù giai cấp, biến những nông dân hiền lành chất phác thành thứ côn đồ của đảng. Cho nên việc bắn một người phụ nữ có công với cách mạng như bà Nguyễn Thị Năm không thể không có sự đồng ý của Hồ Chí Minh. Chính Hồ Chí Minh quyết định giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng sau này cứ đổ thừa cho Tầu cộng sản.

Về điều này, ông Trần Đĩnh trong Đèn cũ cũng đã nói rõ.

Dự những cảnh đấu tố hãi hùng với tiếng hò hét của đám đông, ánh lửa bập bùng, thân người quằn quại sau một loạt súng cộng với tiếng kêu khóc, tiếng cầu kinh, tiếng than van của nạn nhân, Trần Đức Thảo rụng rời tay chân: Bỗng thân xác Thảo run lên lên lập cập vì xúc động, như một cơn sốt rét mãn tính bất ngờ ập tới, mồ hôi lạnh toát ra từ trán tới chân, nước mắt tuôn trào, hàm răng run lập cập..(…) Thật ra thì những tiếng súng chát chúa hạ sát mấy thân xác đồng bào tội nhân ấy đã như bắn vào chính thân xác Thảo, đã vĩnh viễn đập tan tành giấc mộng trở về góp công sức xây dựng một mô hình cách mạng mà nhân loại trông chờ.[23]        

Nhưng mọi việc làm của Hồ Chí Minh đều được che đậy và nếu cần đổ trách nhiệm cho người khác. Bác đóng vai một người nhân từ, đóng vai một lãnh tụ hết lòng với đất nước. Bác chơi gái như mọi người- chơi nhiều gái mà phải là gái còn trẻ- nhưng vẫn đóng kịch là Cha già dân tộc, hy sinh cả đời, không vợ con. Đám cận thần từ một tên bảo vệ đến ông Tổng bí thư đều biết rõ con người thật của Bác: Một thứ gian manh, quỷ quyệt, độc ác, mất nhân tính. Nhưng bác vẫn dặn đám bầy tôi phải làm thế này, thế kia. Còn Bác làm cái gì thì kệ Bác.

 Rồi tiếp theo từ cách tự đặt tên minh với những ý đồ đầy cao vọng như : Ái Quốc, Tất Thành, Chí Minhvv đến tự viết Hồi ký khen tặng chính mình là một thứ cao ngạo, giả dối cao độ. Khát vọng quyền lực, khát vọng một lãnh tụ được tôn sùng tuyệt đối là có thật noi con người Hồ Chí Minh. Và ông dùng mọi thủ đoạn, nếu cần, để đạt được. Di chúc viết ra thì như thể Bác không muốn bày vẽ tốn kém, xuềnh soàng cho xong. Nhưng trong bụng Bác thì biết rằng chúng nó sẽ làm cho long trọng, ướp xác để đời đời nhân dân nhớ ơn Bác.

Từng chi tiết một, từng lời ăn tiếng nói, từng việc làm, từng lời tuyên bố của Hồ Chí Minh đã bị Trần Đức Thảo bóc trần. Có thể nói, từ trước tới nay, chưa một ai dám viết lột tả hết mọi mọi điều gian dối, nói lên hết những thối tha, những bi kịch làm người như dưới ngòi bút của Trần Đức Thảo. Người đọc chia xẻ ngầm với những con chữ ấy, cho dù đó là một câu chuyện rất bình thường có thể chẳng liên quan gì đến Hồ Chí Minh như sau đây:

Thảo đứng nhìn bữa cơm chỉ có một đĩa rau muống duy nhất, bên cạnh nồi cơm trơ trọi y như bơ vơ, như thiếu vắng, nhớ tiếc một cái gì vừa mất. Y như Hà Nội đang nhớ tiếc một thời chưa xa, nhưng nay không còn nữa! Thảo lớn tiếng:

–         Mời bố mẹ dạy xơi cơm.. Ông bố vẫn nằm im không trả lời. Nằm im lặng thêm một lúc, không biết nghĩ sao, ông bố ngồi dậy, từ từ đi sang một góc chiếu trõng che rồi nói:

–         Mẹ ăn cháo chứ chưa ăn được cơm. Lát nữa bố sẽ nấu cháo cho mẹ.[24]

Câu chuyện bữa cơm trong một gia đình trung lưu như gia đình Trần Đức Thảo, chỉ bằng một vài việc phác họa đã là một lời tố cáo chế độ bất nhân không có cách gì bào chữa được.

Và để chấm dứt phần này, xin trích một đoạn mô tả cái thực trạng miền Bắc những năm sau 54 và ngày nay còn tồi tệ gấp bội phần. Nơi ấy, không còn ai dám nói tới nhân phẩm, đạo đức nữa. Cứ như thể cả một nền văn hóa đểu giả càng ngày càng phát triển đã tạo ra một xã hội tàn nhẫn đến mức thô bạo mà một Hà Nội mới với cảnh vừa bán, vừa chửi, vừa bán vừa xua đuổi khách hàng. Nói năng thô lỗ, giọng ba que xỏ lá:

– Chỉ có vậy thôi, mua thì mua không mua thì cút.

– Ông cút thì ông ‘đ’ mua!

– Mày về mà ‘đ’ mẹ mày ấy..

Đọc đoạn này không khỏi sót sa cho ông. Trần Đức Thảo không còn là một triết gia nữa mà là một nhà văn hiện thực phê phán như một Nam Cao!!

Phần hai: xoá bỏ chủ nghĩa Mac-Xít- Staline

Cái éo le nhất của cuộc đời cầm bút của Trần Đức Thảo là ông được nhìn nhận nơi xứ người như một nhà tư tưởng lớn. J.P. Sartre coi ông là một trong số hiếm hoi những người Mác Xít không chìm đắm trong tụng niệm mà dám xông pha- một thứ Marxiste combattant- để làm thế nào cuộc đời nhất quán với triết lý. Đem triết lý vào hành động như một thứ dấn thân của một người Mác Xít lý tưởng.

Paul Mus, trong Sociologie d’une guerre viết: Ngay từ 1946, không một ai nói hay hơn nhà tư tưởng có tương lai lớn này..(..) mà những phân tích tâm lý của ông trong những bài đăng trong Les temps modernes, dưới mắt tôi, là một thu hoạch hoàn tất.[25]

Sự trở về Việt Nam của ông nằm trong ý nghĩa đó, đem cái hiểu biết, đem cái lý thuyết Mac Xít về áp dụng vào thực tế Việt Nam.

Nhưng tiếc thay, ông đã không được bất cứ lãnh đạo cộng sản cao cấp nào đón nhận vì nhiều lý do, trong đó có lý do trình độ quá thấp kém của họ. May ra có một người là cụ Cao Xuân Huy có thể chia xẻ về những quan điểm về Hiện tượng học Husserl- một chuyên ngành của Trần Đức Thảo- trong một chương nhan đề: Do lai của ý thức.[26].

Mặc dầu vậy, tôi khó chia xẻ với những thuật ngữ triết học có tinh chuyên ngành mà cụ dịch và xử dụng như vật thể kiên xác ( Solides), vật tự nó (en soi), có chỗ cụ dùng vật tự thân, nội chấp (Intentionnel)vv Những thuật ngữ này ở miền Nam trước 1975 hầu hết đã trở thành những chuẩn ngữ quen dùng cũa những người dạy và học triết ở miền Nam.

Thật khó cho Trần Đức Thảo có thể gieo trồng một cây triết học dù là triết học Mác Xít ở một vùng đất mà phần đông giới lãnh đạo đều vừa qua bậc tiểu học.

Ngay như có đủ vốn triết học và thông thạo tiếng Pháp, vị tất đọc đã hiểu được triết học. Tôi chỉ lấy trường hợp triết gia hàng đầu về chủ thuyết Mác Xít ở Paris như một thí dụ,- ông Louis Althusser tự thú như sau, xin lược dịch: Tôi có đọc chút ít về Hégel, đọc chút ít về Aristote. Kant thì không. Còn những Spinoza, Heidegger, Husserl; tôi đã chẳng hiểu họ viết gì. Freud cũng thế cũng như phần đông độc giả của ông ta. Nếu tôi biết chút ít là do suy đoán, tệ hơn nữa cứ nhận đại là mình biết đi.

Trần Đức Thảo lạc lõng giữa đám người ít học ấy. Ngay cả khi ngồi trước đám môn sinh sau 1954 ở Hà Nội, liệu có ai hiểu được ông thày muốn nói gì?

Tuy nhiên, cái khó khăn của Trần Đức Thảo không phải chỉ nằm ở chỗ đọc hiểu hay không hiểu. Một khó khăn đặt ra bây giờ và những thế hệ sau này muốn đọc là ông xử dụng hai thứ tiếng để biểu đạt tư tưởng của mình: Tiếng Pháp và tiếng Việt.

 Chính ở chỗ này, cần phân biệt có hai Trần Đức Thảo.

 Có một con người Trần Đức Thảo viết tiếng Pháp suôi chảy và con người viết tiếng Việt còn thiếu bộ danh từ triết học. Đã thế viết tiếng Việt lại phải qua hàng rào kiểm duyệt. Viết cây dừa có dấu huyền mà nó bỏ dấu huyền thành cây dưa là đời đi đoong rồi. Lại nữa chỗ nào ông viết thật, chỗ nào ông viết nịnh bợ?

 Hai con người ấy phơi bầy hai lối nhìn, nhiều khi hai tư cách trái ngược nhau.

Viết tiếng Việt, có thể Trần Đức Thảo phải viết theo đơn đặt hàng hoặc viết sao để vừa lòng chế độ như các bài  về: Tìm Hiểu giá trị văn chương cũ hay Nội dung xã hội truyện kiều. Cái gọi là Tấm biển chỉ đường của Trí tuệ..Bài Hịch Tướng sĩ của Trần Hưng Đạo và xã hội Việt Nam trong thời kỳ thịnh của chế độ phong kiến.

Đặc biệt trong đó có bài viết về Thằng Bờm trong Tìm hiểu giá trị văn chương cũ mà ông yêu cầu mọi người từ nay phải gọi Bờm là anh Bờm. Vì Bờm biểu tượng cho giai cấp nông dân chống lại địa chủ phong kiến. Hóa ra tranh đấu giai cấp đã có từ thời thượng cổ thì cần gì đến ông thầy Mác?

Đọc bài này của ông mà muốn chửi thề!! Hình như đây không phải là Trần Đức Thảo mà là bóng ma Hồ Chí Minh nhập vào Trần Đức Thảo.

Tuy nhiên, số lượng bài viết này không nhiều, cũng chẳng đáng nói tới so với số lượng các đề tài liên quan đến lãnh vực triết học mà ông để lại.

Một cái tuy nhiên nữa là trong số những tài liệu tiếng Việt ấy có cuốn Vấn đề con người và Chủ nghĩa ‘Lý luận không có con người’ được in và xuất bản khi ông vào ở trong Nam. Cuốn sách mỏng chỉ khoảng 140 trang này có thể được xuất bản là nhờ cái không khí chính trị miền Nam tương đối khoáng đạt hơn miền Bắc và nhờ có sự yểm trợ tinh thần của những người như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng. Vậy mà sau này nó cũng bị Hà Nội ra lệnh tịch thu.[27]

Về phần triết học Tây Phương của Trần Đức Thảo, tôi chỉ xin trích dẫn ý kiến của giáo sư H.L Van Breda, người có trách nhiệm bảo quản các tài liệu của nhà Hiện tượng học Husserl ở đại học Louvain bên Bỉ.[28]. Husserl  là người Đức, gốc Do Thái nên ông phải tẩu tán tài liệu của ông sang Bỉ khi Hitler lên nắm quyền. Có bốn  trí thức ở Paris có quan tâm đến triết học Hiện tượng luận là Merleau-Ponty, J.Hyppolite, Lm Geigner và Trần Đức Thảo vào những năm 1942-1946. Vì thế, họ phải liên lạc với giáo sư H.L Van Breda để tiếp cận tài liệu Husserl. Chính vì thế mà Trần Đức Thảo mới có điều kiện viết cuốn triết học làm ông  nổi tiếng. Đó là cuốn La Phénoménologie et le Matérialisme dialectique.( (Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng)[29].

Nội dung cuốn sách này là Trần Đức Thảo có tham vọng muốn trình bày thuyết Hiện tượng luận đem áp dụng vào chủ nghĩa duy vật biện chứng. Tham vọng này cũng giống như J.P Sartre muốn đem triết thuyết hiện sinh vào thuyết Mác Xít. Và đây cũng là đầu mối việc J.P Sartre mời Trần Đức Thảo trao đổi với J.P Sartre trong năm buổi trao đổi. Việc trao đổi này sau ở miền Bắc nhiều người phóng lên rằng J.P Sartre đã thua Trần Đức Thảo. Đã có mấy ai đủ trình độ và có tài liệu để nói đến chuyện thua được. Vả lại, trao đổi triết học mà nói đến thua được là trẻ con, chưa hiểu gì về tính chất của triết học.

Theo phần đông các triết gia Pháp cho rằng ông Thảo là người  hiểu và trình bầy một cách sâu sắc và tương đối dễ hiểu về Hiện tượng luận hay phương pháp hiện tượng luận của Husserl.

Tuy nhiên phần hai của cuốn sách- phần áp dụng Hiện tượng luận vào chủ thuyết biện chứng duy vật biện chứng thì thật bất xứng với ông(indigne de lui), Có thể phần hai ông Thảo đã triển khai chưa đúng mức và có phần vội vã.[30].

Tôi chỉ trích dẫn lại ý kiến của các nhà triết học mà về phần tôi, chưa đủ trình độ để hiểu được đến nơi đến chốn.

Theo ý kiến thô thiển của tôi trong cái hiểu biết có giới hạn về Trần Đức Thảo, tôi vẫn cảm thấy gần gũi với ông mỗi khi ông cho rằng triết học dù là Mác Xít-Lênin đi nữa thì vẫn là thứ triết học về con người và lấy con người làm đối trọng.

Đây là một điều mà tôi cho là đáng trân quý nhất so với những luận thuyết trừu tượng với những thuật ngữ quá chuyên biệt ngoài tầm tay của mình.

Có muốn dựa cột mà nghe cũng không được.

Và phải chăng tôi tự hỏi vì thế ông viết cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người, trong đó ông phê phán nặng nề Louis Althusser. Althusser là một trong những triết gia, nhà tư tưởng cộng sản hàng đầu của Paris vào các năm từ 1965-1980.[31]

Tôi gọi cái phần ưu vượt của triết lý Trần Đức Thảo là một thứ chủ nghĩa nhân bản Mác Xít( Un humanisme marxiste). Một thứ chủ nghĩa hầu như xa lạ và đối nghịch  với Staline, với Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh.

Tôi cũng cảm nhận ông có một bước tới gần với các triết gia nhân bản xã hội Âu Châu mặc dầu còn rất nhiều khoảng cách giữa họ.

Nhưng tôi cũng không thể đồng tình với tác giả Cù Huy Chử trong một bài viết Tư Duy triết học Trần Đức Thảo và tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.[32]

Đây là một gán ghép có tính áp đặt. Cho đến nay, chưa mấy ai có thể chỉ ra chỗ nào là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh nếu có chỉ là tư tưởng thuộc loại Luân lý Giáo Khoa thư hay tư tưởng công dân giáo dục dạy cho học sinh trong các trường trung-tiểu học.

Xin Tiến sĩ Cù Huy Chử nên từ bỏ những điều nghiên cứu ngoài lãnh vực của ông để xứng danh với danh xưng tiến sĩ của ông. Xin tha cho làm phước.

Nhưng nếu căn cứ vào cuốn sách Những lời trăng trối của ông, tôi nhận thấy Trần Đức Thảo muốn vứt bỏ hầu như toàn cái gia tài triết học của ông- gia tài sùng bái chủ nghĩa Mác Xít. Và Về phần này, xin nhường để ông hiển lộ tất cả những sâu kín đã chôn chặt, đã dấu kín và nỗi lòng của ông. Ông thố lộ :

‘ Từ lúc tôi khám phá ra là tôi đã sai lầm, đã một thời đứng trong hàng ngũ tội ác, đã mù quáng cả tin vào ý thức đấu tranh giai cấp của Marx, thì sự tỉnh thức ấy làm tôi sung sướng. Bởi như thế là tôi đã tự giải thoát chính tôi, đã tự giải phóng chính tôi. Tôi đã trở thành con người tự do! Tôi đã đạt tới tâm trí thanh thản trong sáng của con người tự do, tư tưởng không còn bị gông cùm của ý thức hệ.

Và nay dĩ nhiên là tôi phải phủ nhận tất cả những gì đã viết lúc đang sùng bái Marx..

Xin tiếp tục đọc những lời trăng trối của ông :

Những gì đã viết mà dựa vào Marx thì vẫn bao hàm một định kiến, một ngộ nhận,một căn bản không tưởng, từ đó có thể dẫn đến những sai lầm khác, có thể phạm vào tội ác. Bởi vì một phần tư tưởng tranh đấu của Marx, lúc nào cũng như cái bóng ma quái, muốn thúc đẩy con người lao vào các hành động quá trớn, quá khích, do hận thù và bạo lực cách mạng, để giải quyết các vấn đề cơ bản của xã hội, của con người.

 Thật sự là trong chiều dài lịch sử nhân loại, bạo lực cách mạng xã hội chủ nghĩa đã không hề giải quyết được vấn đề bất công trong xã hỗi loài người.

 Và cũng chưa hề giải phóng ai![33]

 Ông Trần Đức Thảo vốn là một người cầm bút cẩn thận. Đọc một vài trang bản thảo của ông, tôi thấy ông xóa gạch, sửa nhiều chỗ, thêm bớt từng chữ một. Vậy mà trong những dòng tâm sự cuối đời này, giọng văn như vỡ ra, tuôn trào, không kềm giữ được.. Hình như bao nhiêu nỗi oan ức, nỗi buồn, sự câm nín bấy lâu nay giống như một cái cửa đập nước được mở ra. Nó tuôn trào như một dòng thác nước!! Đúng như nhận xét của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê viết :

 Nói tới đó, rồi bác Thảo im lặng hồi lâu. Lúc này, chúng tôi thấy bác Thảo nổi bật như một người, lúc cuối đời, đầu óc nặng trĩu tâm tư, đầy ân hận, hối hận rất u buồn, đau đớn, và đang tìm cách gì đó để giải tỏa thảm kịch của chính mình.[34]

 Rải rác đó đây trong sách, người đọc thấy đầy những giọng điệu bi phẫn như thế!  

 Không phải tôi đa mang đâu, sự thật là mình đã tự thân bước vào con đường của sai lầm, bế tắc. Nỗi khổ tâm là mình cũng đã làm cho nhiều người cùng với mình sa vào sai lầm và bế tắc. Nay mình đã tìm ra được lối thoát nên rất ân hận, phải sám hối, phải chuộc tội bằng hành động. Vào lúc hoàng hôn, thấy một ngày bị lãng phí là đáng tiếc, đáng buồn, huống chi bây giờ là hoàng hôn của cả một cuộc đời đã bị lảng phí. Nỗi ân hận, hối hận đang ngùn ngụt thiêu đốt tâm trí tôi… Bây giờ tôi chỉ thấy tội lỗi của cái thời câm nín của mình, đã biến thành một tên trí thức đồng lõa khốn nạn, đáng nguyền rủa..[35]

 Còn tôi, đã bao phen biết mình phải nói một câu trái với lương tâm, làm một cử chỉ a dua, ca ngợi tội ác, lúc đó tôi đã ý thức ngay là mình phạm tội, tội giả dối, tội a dua, hoan hô cái xấu, cái ác, tội hèn nhát đã phản bội lý tưởng của mình, phản bội chính mình. Đã biết là tội như vậy mà vẫn cứ nói, cứ làm..[36]

  Tôi đã chấp nhận ra đi, lúc tuổi già sức yếu, để có cơ hội thét lớn cùng thế giới rằng : Thủ phạm gây ra đại bi kịch này cho nhân loại, chính là Marx.

 Tất cả là do đám trí thức hèn như tôi. Buồn lắm! Hèn lắm! Nhục lắm! Đau lòng lắm.

 Phần tôi, xin được chấm dứt bài viết ở đây. Bài viết của tôi mang tínhcách tìm hiểu về một Con người, một tưởng niệm hơn là nhận thức. Điều mà tôi tâm đắc nhất khi viết về triết gia này, chính là tính cách nhân bản của ông. Ông đã sống xứng đáng một con người có nhân cách và trách nhiệm của một người trí thức.

 Ông sống khổ mà chết đẹp và đã để lại cho mọi người một sứ điệp: chế độ cộng sản và Hồ Chí Minh đã tạo ra một thảm cảnh bất hạnh cho Việt Nam.

 Ta phải tiêu diệt cả hai. Tiêu diệt cách nào? Đó không phải là công việc của Trần Đức Thảo mà của những người hiện nay đang sống dưới chế độ bất nhân và vô đạo ấy!!

 Nguyễn Văn Lục

  


[1] Hoàng Hoa Khôi, Một nhận định về Trần Đức Thảo, Paris, tháng 8.1993, Thông Luận 64, tháng 10.93

[2] Vào những năm 1950, có  khoảng ba triệu người Đông Đức bỏ trốn sang Tây Đức. Bỏ trốn bằng mọi cách như nhảy lầu, chui đường ống cống, đào đường hầm, chui qua hàng rào thép gai. Chả nhẽ Trần Đức Thảo chỉ chúi đầu vào sách?

[3] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 160

[4]  Trích Trần Đĩnh,  Đèn Cù: Một hôm Trần Đức Thảo được thư ký của Lê Duẩn là Nguyễn Đức Bình đến đón, bằng xe hơi, trong khi nhà triết học đang sống trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu, bị cả bạn bè bỏ rơi vì đã tham dự nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, viết những điều ngược lại với chủ trương văn hóa của Đảng. Nguyễn Đức Bình nói ông tổng bí thư muốn đọc cho giáo sư nghe để xin ông góp ý kiến về một bài đang viết: “Đề cương về vấn đề con người.” Ngồi trong phòng khách, chỉ có ba người, Lê Duẩn độc thoại được mấy phút thì Nguyễn Đức Bình nhắc Trần Đức Thảo hãy ghi những lời ông tổng bí thư nói. Trần Đĩnh cho biết một thói quen của các quan chức, cán bộ là khi nghe cấp trên nói gì thì họ cũng ghi chép chăm chú những lời vàng ngọc, chứng tỏ lòng kính cẩn và trung thành. Thấy triết gia cứ ngồi im, Bình chạy đi lấy giấy, bút đến đặt trước mặt. Triết gia vẫn không ghi chép gì cả. Khi Duẩn ngưng, Nguyễn Đức Bình nhắc: “Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến.” Trần Đức Thảo ngơ ngác một lát, rồi thú thật: “Tôi không hiểu gì cả.”

 Ngay lập tức ông tổng bí thư chạy ra đằng sau Trần Đức Thảo, hay tay quàng ôm lấy ngực triết gia, xốc lên, dội xuống mấy lần, rồi “buông thịch” xuống một cái cho ông giáo sư rơi xuống ghế ngồi. Lê Duẩn bỏ đi vào phòng trong. Bình trách mắng ông giáo sư tại sao “nói không hiểu gì cả,” rồi cũng đi vào. Trần Đức Thảo còn một mình, không biết lối ra, phải hỏi mấy người hầu trong nhà đường nào đi ra cổng, rồi về nhà mình.

Trần Đức Thảo nói thật lòng. Ông không hiểu Lê Duẩn nói cái gì. Trần Đĩnh hỏi tại sao không hiểu. Triết gia trả lời: “Khái niệm không chuẩn gì cả!”

 [5] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối, trang 210

[6] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối, trang 346, Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ.

[7] Hoàng Ngọc Hiến, trong bài viết Cách cho của giáo sư Trần Đức Thảo, phần chót của bài viết, ông thú nhận:Năm 1958, trong đợt  đấu tranh tư tưởng ở trường Đại Học Tổng Hợp, tôi đã phê phán Trần Đức Thảo hết sức gay gắt trong một bài tham luận. Cũng như mọi triết gia, ông Trần Đức Thảo là người độ lượng. Ở nhà trí thức lỗi lạc này, tôi còn cảm nhận một điều gì đó lớn hơn sự độ lượng. Trích trong báo Văn Nghệ, số 1, Bộ mới, tháng 7-1993, trang 2

[8] Lại Nguyên Ân, Món nợ với giáo sư Trần Đức Thảo, 5-5-2013

[9] Bút ký của Phùng Quán, Hành trình cuối cùng của một triêt gia, báo Người Hà Nội, trang 1-2 số 32 ( 332), ngày 8-8 đến ngày 14-8-1993.

[10] Ông Hoàng Hoa khôi viết :Theo lời kể lại của những bạn bè xung quanh ông Thảo, đảng vẫn cảnh giác đề phòng những việc ông làm, những bài ông viết tại quán trọ LeVerrier. Thậm chí nhiều người còn đặt nghi vấn về cái chết bất ngờ và nhanh chóng của ông. Ibid, Thông Luận 64

[11]  Trần Đức Thảo Ibid, trang 38-40 

[12] Trần Đức Thảo, Ibid, trang 195

[13] Đám trí thức thiên tả này đã chót bám theo Đảng. Nay biết rõ bộ mặt thật thối tha của Đảng. Bỏ thì không nỡ, chống thì chống nửa vời thành ra một đám người lạc loài, một loại trí thức ‘cánh tả Caviar’ con nhà giàu ngồi nói thánh nói tướng, bất kế thực tại đất nước bên nhà ra sao..

[14] Nguyễn Ngọc Giao, Với Trần Đức Thảo, một chút duyên nợ, Diễn Đàn Xuân Tân Mão

[15] Trong bài Mort d’un philosophe militant, Jean-Paul Jouary tiết lộ cho biết Thảo đã kín đáo chuồn tất cả tài liệu viết bằng tiếng Pháp cho họ mà nay chưa có điều kiện để đăng lại tất cả.

[16] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 236

[17] Cù Huy Chử, Cù Huy Song Hà: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo( tháng 3 năm 1991- 24 tháng tư năm 1993). Viet- Studies ngày 18-9-11.

[18]Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 31

[19] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê,  Trần Đức Thảo, Ibid, trang 280

[20] Xem Hoàng Khoa Khôi,  Một nhận định về Trần Đức Thảo IBId

[21] TS Cù Huy Chữ: Về mối quan hệ giữa giáo sư Trần Đức Thảo với ông Phạm Văn Đồng, một vài nét chấm phá.

[22] Trần Đức Thảo IBID, trang 350-352

[23]  Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê, Trần Đứ cThảo, Ibid, trang 142

[24]  Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 162

[25] Paul Mus: Sociologie d’une guerre, nxb Seuil, Paris, 1951, trang 185.

[26] Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông, Gợi những điểm nhìn tham chiếu, do Nguyễn Huệ Chi soạn và giới thiệu, nxb văn học từ trang 147-174

[27] Trần Văn Giàu: Trần Đức Thảo, nhà triết học, tạp chí Văn Nghệ nguyệt san, số 1, bộ mới, trang 2

[28] H.L Van Breda, Maurice Merleau Ponty et les archives de Husserl à Louvain, Revue de Métaphysique et de  morale, 1962

[29] Trần Đức Thảo La phénomologie et le materialisme dialectique, Minh Tan, Paris, 1951

[30] Nguyễn Văn Trung, đôi điều ghi nhận về ông Trần Đức Thảo.

[31] Althusser đã giết vợ là Helene bằng cách bóp cổ vào năm 1980. Ong là tiêu biểu thứ tận cùng của thứ điên loạn triết học. Sau khi giết vợ xong, ông ghi lại như sau . Voila ce que j’ai fait, ce que j’ai pense, ce que je fus ( Đó là  nhựng cái gì tôi đã làm, cái gì tôi đã suy nghĩ và đó là cái gì là tôi). và năm sau đến lượt ông chết ngồi trên ghế bành về bệnh tim..

[32] Ts Cù Huy Chử, Tư duy triết học Trần Đức Thảo và tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

[33] Tri Vủ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trabg 385

[34] Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 337

[35] Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Dức Thảo, Ibid, trang 390

[36] Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 391

 

 

 Trần Đức Thảo và những va đập hiện thực nghiệt ngã

 

(Qua cuốn sách “Trần Đức Thảo – những lời trăng trối”)

Hạ Mai

Trần Đức Thảo thuộc “thế hệ vàng” trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những bàn luận, tranh cãi mâu thuẫn, thậm chí đối lập nhau.

Năm 1951, để lại đằng sau kinh thành Paris hoa lệ, chọn đứng về “phe nước mắt”, quyết định trở về nơi chiến tranh và cách mạng đang diễn ra cuồng nhiệt, nóng bỏng đến độ trần trụi, hy vọng tìm thấy một con đường cho triết học cũng như thực tại, có lẽ Trần Đức Thảo không bao giờ tưởng tượng ra rằng, hiện thực không giàu chất thơ và sự dã man của chính trị là khôn cùng…

1- “Tai bay vạ gió” vì khát vọng

Khi Trần Đức Thảo trở về Việt Nam qua ngả Trung Quốc, một cán bộ giỏi cả tiếng Quảng Đông và Quan thoại là Trần Lâm được cử đi đón ông. Dọc đường, hai người thường xuyên tâm sự và trở nên thân thiết như anh em. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và “bàn giao” Trần Đức Thảo cho “cấp trên”, Trần Lâm nhận được yêu cầu phải báo cáo tỉ mỉ, chính xác, không thiếu dù chỉ một chi tiết nhỏ toàn bộ những gì hai người đã trao đổi lúc đi đường. Hy vọng có thể làm cho cách mạng chú ý tới tài năng và trọng dụng Trần Đức Thảo, Trần Lâm thành thật nhận xét Trần Đức Thảo “là người có học thức, có trình độ suy nghĩ cao, rất có tinh thần yêu nước, có lý tưởng trong sáng, rất mong được phục vụ cách mạng”[1]. Đánh giá cao Trần Đức Thảo, Trần Lâm khẳng định đây là người luôn “ao ước được góp tim, óc để xây dựng một cuộc cách mạng huy hoàng ở quê hương, để có thể làm một mẫu mực cho các nước đang tranh đấu giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc của các nước bị trị”[2].

Bản báo cáo ấy được mang đọc cho cố vấn Trung Quốc, “các đồng chí cố vấn” ghi vào đó cảm nghĩ rồi hỏa tốc gửi về Trung ương. “Trung ương” không chỉ không hài lòng vì “một kẻ chưa hề sống với cách mạng một ngày mà dám mưu tính về dạy người của cách mạng làm cách mạng”[3], mà còn nêu nghi vấn Trần Đức Thảo có thể “là người do thực dân gián tiếp đưa về, là một thứ siêu gián điệp trí thức mà thực dân mưu toan cài vào hàng ngũ cách mạng”[4].

Kết quả là khát khao xây dựng “một mô hình cách mạng hoàn chỉnh, trong sáng và nhân đạo mà cả loài người chờ đợi”[5] của Trần Đức Thảo bị quy là “ý đồ chính trị độc hại!”. Thay vì đưa Trần Đức Thảo về trường Đại học ở Khu Tư, người ta lệnh đưa ông về An toàn khu ở gần Trung ương để dễ bề kiểm soát.

Một ước mơ nhân bản có phần mộng mị được rưới thêm một chút nước sốt ca ngợi đầy thành ý của Trần Lâm thoắt cái đã biến thành sợi dây oan nghiệt, thít chặt một cách không thương tiếc cuộc đời và số phận triết gia tài danh. Trần Đức Thảo chua chát kết luận: “Sự nghi ngờ của lãnh đạo khi đi xuống tới cấp thừa hành thì nó đã trở thành một xác định”[6]. Ông chỉ còn được phân làm mấy việc vớ vẩn như dịch những tài liệu cũ kỹ vô tác dụng, hoặc được cử theo chân một vài phái đoàn thanh tra Trung ương như một vật trang trí. Trần Đức Thảo biết rằng mình đã bị biến thành thứ tô điểm, trang hoàng, quảng bá để bên ngoài nhìn vào tưởng chế độ “có nền tảng đoàn kết quốc gia và dân chủ rộng rãi”[7]. Ông buộc phải đi tiếp con đường đã chọn nhưng với hình hài “bù nhìn đứng giữa ruộng dưa”.

Bằng một cú hích tàn nhẫn, hiện thực đã kéo triết gia đang lơ lửng trong những khát vọng đem “hiểu biết đúng” của mình, đem ánh sáng tinh thần lành mạnh, sâu sắc nhen góp cho sự tiến bộ của đất nước, buộc phải đặt chân xuống mảnh đất bỏng rẫy than hồng, lởm chởm gai góc và đá tai mèo sắc nhọn. Từ đây, trên mảnh đất ấy, dù không là kẻ tuẫn nạn, song mỗi bước chân ông đi đều rớm máu. Ông bắt đầu lờ mờ hiểu ra rằng, nhân tài không thể và không bao giờ có chỗ đứng trong vương quốc tôn thờ chủ nghĩa độc quyền chân lý.

2- Chủ nghĩa lý lịch và thói dối trá

Chưa hết bàng hoàng bởi cú sốc vì mộng ước “hoàn toàn tan vỡ ngay từ đầu khi chưa đặt chân trở lại mảnh đất quê hương”[8], Trần Đức Thảo đã phải đối diện ngay với một thứ chủ nghĩa man rợ – chủ nghĩa lý lịch.

 Trở về từ trời Tây, chân ướt, chân ráo xuống tới Nam Ninh (Trung Quốc), Trần Đức Thảo được một cán bộ quân sự tên Hùng tới hướng dẫn làm hồ sơ trước khi “hành quân” về nước. Cầm trên tay bản “Tự khai”, “Trích ngang”, bộ óc triết học nổi tiếng thông tuệ bỗng đông cứng, chuyển từ trạng thái choáng váng sang kinh hoàng, lo sợ. Nếu như bản “Trích ngang” rối rắm có 15 cột[9] cùng khá nhiều nội dung vô nghĩa, vô giá trị đối với phẩm giá và nhân cách con người, thì bản “Tự khai” thực chất là một văn bản phản giá trị khi nó yêu cầu “đánh giá, tố cáo tất cả mọi người thân thích từ mấy đời trong đại gia đình bao quanh mình”[10].

Khó có lời lẽ, ngôn từ nào có thể diễn tả được tâm trạng rối bời và hoảng loạn của Trần Đức Thảo lúc đó. Những câu hỏi nhức nhối cứ quay cuồng trong đầu óc triết gia: Có thật sự cần thiết phải phán xét công tội đối với cách mạng của cả bố mẹ, ông bà nội ngoại, anh em họ hàng…? Liệu có người nào đó muốn bao che cho bố mẹ, họ hàng? Liệu có thể lợi dụng tố giác để làm hại người mình ghét?

Những giải thích mang tính “khai trí” cho Trần Đức Thảo của người cán bộ tên Hùng khiến ông bất ngờ và sửng sốt: Phán xét là “cách chứng tỏ mức độ giác ngộ cách mạng của mình. Nó giúp cách mạng đánh giá bản thân người khai”[11]; “vì ai cũng muốn tỏ lòng thành với cách mạng, nên có khi họ còn cố khai khống lên là có bố mẹ, ông bà là thành phần phản động để có cơ hội lên án, để tỏ vẻ là mình đã khai rất thành khẩn!”; “cách mạng bảo mình khai thế thì cứ thế mà làm. Còn chuyện lo ngại làm hại người khác, hay lo có thể khai gian dối v v… thì để cách mạng xét. Ta đã theo cách mạng, theo “đảng” thì để “đảng” suy xét hộ ta”[12].

Chỉ bằng bấy nhiêu lời lẽ, một cách vô tình, không trực tiếp, người cán bộ tên Hùng đã chạm tới tầng sâu bản chất sự việc, “hồn nhiên” gọi tên, chỉ mặt những tha hóa đạo đức sinh ra từ những lề luật, những quy tắc vụn vặt song lại có sức nặng ngàn cân để nắm lấy, kiểm soát và kiềm tỏa từng con người. Ẩn đằng sau thứ chủ nghĩa lý lịch mà Trần Đức Thảo hoàn toàn xa lạ là một thực tại nham nhở đến đau đớn, hãi hùng: Thói gian dối, đạo đức giả, thói a dua, hèn hạ đạp lên quá khứ, chối bỏ nguồn cội, phản bội chính mình…tất cả chỉ để được “cách mạng” ưu ái hoặc thậm chí chỉ để được yên thân.

Bứt khỏi căng thẳng và ngột ngạt, con người lý tính trong Trần Đức Thảo lên tiếng đối thoại với chính mình: “Trong thâm tâm ta có thấy bố ta đáng bị lên án là kẻ làm “tay sai cho Pháp” hay không?”; “Cảnh giác cách mạng buộc ta phải chơi trò dối trá?”; “Cứ nói dối như mọi người thì có lợi cho ta không? Thì ta có còn là ta không?”[13]. Tư duy, luận giả một cách logic, chặt chẽ, gẫy gọn, con người lý tính kết luận: “Khai và lên án bố thực ra là đã nói dối, mà là nói dối với chính ta! Dù đây là một sự nói dối bắt buộc nhưng vẫn là nói dối, dù cho cách mạng muốn vậy, bắt phải làm như vậy!”; “khai khống như vậy là cách mạng dạy ta xảo trá!”[14].

 Cuối cùng, bất chấp lời khuyên “phải lên án mạnh mẽ cha mẹ họ hàng đã từng đi theo phong kiến, chạy theo thực dân!” của người cán bộ tên Hùng, con người đạo đức trong Trần Đức Thảo quyết định không đi theo lối mòn của đám đông nhút nhát được chăn dắt. Dù biết rằng mình đang làm một điều cực kỳ nguy hại cho bản thân, bước vào con đường chông gai mà tất thảy mọi người đều muốn tránh, Trần Đức Thảo vẫn dứt khoát không “bắt đầu bằng thái độ cúi đầu nói dối, khai man”. Bản “Tự khai” của Trần Đức Thảo được viết ra với tất cả tấm lòng thành thật, khai đúng những gì ông biết, ông nghĩ, ông tin, không núp dưới mác “giác ngộ cách mạng” mà lừa dối chính mình, mà “xỉ vả ông bà, cha mẹ” – những người, như Trần Đức Thảo giải thích, “đã dạy tôi nên người lương thiện, yêu nước, yêu đồng bào, yêu Tổ quốc…”[15].

Thay vì khai lý lịch theo kiểu tỏ ra “giác ngộ cách mạng”, Trần Đức Thảo viết một bản “Tự bạch” – một bài luận kín bốn trang của tờ đôi vở học trò, giải thích sự thành thực của mình, nêu rõ quan điểm không thể nhắm mắt lên án quá khứ chỉ vì chưa có ý thức cách mạng. Ông phân tích: “Thời đó tổ tiên dân tộc đã biết tạo ra bao nhiêu thế hệ sống lương thiện, biết xây dựng những con người dũng cảm, đã biết tạo dựng và biết bảo vệ non sông gấm vóc, Tổ quốc vinh quang… mà ngày nay không ai có thể chối bỏ dĩ vãng lịch sử, chối bỏ non sông gấm vóc và Tổ quốc này”[16].

“Tổ chức” quyết định gửi  hồ sơ của Trần Đức Thảo về Trung ương với dòng chữ: “Hồ sơ chưa hoàn tất vì lý do đặc biệt, đang chờ Trung ương cứu xét”. Còn đang trong nghi án “siêu gián điệp trí thức” lại mắc thêm cái tội “ngoan cố, cứng đầu”, không chấp nhận khuôn mặt ma quái của “giác ngộ cách mạng” theo lối “nói và làm đúng theo yêu cầu của cách mạng”[17], số phận của Trần Đức Thảo coi như đã được định đoạt. Sau cơn địa chấn với “giấc mơ vỡ vụn”, hiện thực tàn nhẫn lạnh lùng phóng tay châm lửa thiêu cháy rụi chút hy vọng mong manh còn sót lại nơi triết gia đã đánh cược đời mình hòng thắp lên những tư tưởng đúng với lương tri, thấm đẫm sự thật.

Thoát ra khỏi vòng xoáy gọt mình dối trá để đáp ứng “Tổ chức”, song Trần Đức Thảo đã không thoát khỏi những cái vòi bạch tuộc bền bỉ, dai dẳng quấn chặt, trói buộc từng cá nhân, không thoát khỏi cỗ máy xay cần mẫn nghiền nát rồi nhào nặn, đúc khuôn những hình hài, buộc chúng phải thuộc về và lẫn trong đám đông, không đi chệch đám đông và không đi xa hơn đám đông. Định mệnh đã an bài cho ông một con đường đau khổ chỉ vì ông có chính kiến, có tư duy độc lập và phê phán. “Cách mạng” không cần những đầu óc độc đáo, những góc nhìn tỉnh táo, những tâm hồn mạnh mẽ. “Cách mạng” cần “nghe” và “thực hiện” hơn là “sáng tạo” và “phản biện!

Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là tất cả. Hiện tại nghiệt ngã vẫn chưa thôi cười cợt nhà Hiện tượng học uyên bác về lý luận, nhưng lại ngây thơ, cả tin trong thực tiễn. Vị đắng dằn vặt, day dứt, chua xót nhấn chìm nội tâm vẫn còn ở phía trước…

3- Con sóng dữ cải cách ruộng đất

Có lẽ một trong những sự kiện để lại dấu ấn nặng nề nhất trong ký ức và tâm khảm Trần Đức Thảo là cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình thổ cải của Trung Quốc mà ông buộc phải tham gia và trở thành chứng nhân bất đắc dĩ.

Ngay từ hôm đầu tiên tiếp xúc với những từ “lạ tai” như “bắt rễ”[18], “xâu chuỗi”[19] trong công việc của đoàn cải cách ruộng đất tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang), ở Trần Đức Thảo đã nảy sinh những thắc mắc về đạo lý, công lý. Ông nhận thấy ngay rằng, phương pháp cải cách này là kết quả của tư duy méo mó được Lenin và Mao tùy tiện khai triển, đẩy nó đi xa một cách hết sức nguy hiểm so với những gợi ý đấu tranh giai cấp của Marx.

Theo như Trần Đức Thảo mô tả, cải cách ruộng đất được chia thành nhiều “công đoạn” khác nhau, từ “động viên, giáo dục bần cố nông” tức là dạy cho họ biết “hạch tội, trừng trị”, thậm chí bịa tội cho giai cấp được coi là từng “cưỡi lên đầu lên cổ”, “bóc lột, hành hạ, đánh đập bần cố nông từ đời này qua đời khác”, cho đến dám đưa tay đấm thẳng vào mặt những “kẻ thù giai cấp” ấy. Trần Đức Thảo nhận xét: “Sự thành công của công tác cải cách ruộng đất tùy thuộc vào tài tổ chức, động viên và huấn luyện bần cố nông thành những nhân chứng luận tội  nhân dân, để nhân dân biết vùng lên tiêu diệt giai cấp đã bóc lột họ”[20]. “Tài tổ chức, động viên và huấn luyện” ở đây được hiểu là “tài” kích động tinh thần bần cố nông, là “tài’ sử dụng phương pháp kích thích hận thù để họ có ý chí căm thù cao độ, biến hận thù thành hành động, thẳng tay trừng trị, tiêu diệt, đòi xử tử “những tên nặng tội nhất, ngoan cố nhất, có nợ máu nhiều nhất với giai cấp bần cố nông”. Động lực kích thích bần cố nông chính là “quả thực” – càng vạch mặt chỉ tên cũng như trừng trị được càng nhiều thành phần phản động thì càng tịch thu được nhiều của cải, ruộng đất, nhà cửa và họ càng được chia nhiều những thứ tịch thu được. Bằng cách ấy, “người cách mạng” chẳng những không bài trừ cái xấu, cái hủ lậu như sứ mệnh họ hằng tuyên truyền, mà còn góp phần cài cấy những mầm mốc độc ác, dối trá, thậm chí “bón thúc”, ươm trồng để chúng nảy nở, sinh sôi.

Bệnh quan liêu, thành tích, thờ ơ, vô cảm đã xuất hiện ngay từ ngày ấy khi để hoàn thành nhiệm vụ, người ta đã “đôn” những hộ nông dân có vài mẫu ruộng đủ ăn lên thành phú nông. Với “nỗ lực” của đội cải cách, ở cái làng quê nghèo xác xơ quanh năm ăn độn, dân thưa thớt, ruộng đất phân tán, chen lấn quanh núi rừng, người ta cũng đã “lôi” ra được sáu địa chủ, trong đó có một bà cụ tuổi ngoài sáu chục, là mẹ bộ đội đóng lon trung úy của “Trung đoàn Thủ đô”.

Sau một tuần lễ chuẩn bị, phiên toà đấu tố được tổ chức vào khoảng hai giờ trưa, tại sân gạch lớn của đình làng dưới trời nắng chói chang với la liệt biểu ngữ lên án “bọn” trí, phú địa hào, quy “chúng” là “tàn dư phong kiến, thực dân, là kẻ thù của giai cấp công nông, là kẻ phá hoại xã hội, là kẻ nối giáo cho giặc…”[21]. Bàn chủ toạ được đặt phía trong đình làng, trên sân là một cột cờ cao sáu thước và một hàng cọc tre dành cho tội nhân. Ngay bên trái đình là một mô đất nâu sậm mới đắp cùng một hàng cọc khác có tấm bảng ghi dòng chữ: “Trường bắn”. Toàn bộ khung cảnh của phiên tòa ngay từ đầu đã sặc mùi tử khí. Giữa thanh thiên bạch nhật và cái nắng gay gắt, bầu không khí chợt trở nên u ám, ngột ngạt, đặc quánh sợ hãi.

Cuối cùng phiên tòa cũng bắt đầu. Trước đám “bần cố nông” nói cười ồn ào “bồng bế nhau đi coi xử tội địa chủ”, một toán “thanh niên và nhi đồng cải cách” được dẫn vào và bắt đầu thực hiện công tác tuyên truyền “tạo không khí cách mạng”. Sau màn lấy khí thế gồm có hô khẩu hiệu chen lẫn vỗ tay ca hát và sau màn chào cờ long trọng là đến phần chính của “phiên toà cải cách”. Ba tiếng trống thình thình, rờn rợn là hiệu lệnh cho một cuộc “nồi da xáo thịt” vừa mang sắc thái trung cổ, vừa đậm đặc màu sắc “thổ cải” Trung Hoa.

Có lẽ cái ngày định mệnh đó đã chém một nhát sâu đau đớn vào tinh thần của Trần Đức Thảo, trở thành nỗi ám ảnh đằng đẵng đeo bám, nên ông đã nhớ ghi gột đến từng chi tiết. Sau nhiều năm, qua mô tả của Trần Đức Thảo, nỗi ám ảnh ghê rợn ấy lại hiện ra sừng sững, vừa đóng vai nhân chứng, vừa đóng vai quan tòa: “Kẻ thù giai cấp” quần áo xốc xếch vương vết bùn, máu bị buộc thành một chuỗi bởi những khúc dây thừng to vòng quanh cổ được mang ra cho đám đông ngu muội, cuồng nộ và quá khích hành hạ bằng báng súng, cùi chỏ và những lời buộc tội ngô nghê, mơ hồ theo lối mớm cung, ngụy tạo. Nạn nhân bị vu cáo những tội lỗi giời ơi từ trên trời rơi xuống, bị đánh đập, bị vả vào mặt theo cùng một cách đã được huấn luyện. Không có văn bản điều tra, không có một điều luật nào được viện dẫn để lấy đó làm cơ sở buộc tội – lần đầu tiên trong đời, Trần Đức Thảo chứng kiến một “phiên toà” lạ lùng đến vậy với sự đánh đập thô bạo tới mức khủng khiếp. Một ý nghĩ lướt nhanh qua đầu ông: “Đây là một trò hề công lý chứ có luật lệ gì đâu!”.

Thật vậy, trong sáu kẻ bị đấu tố có lẽ chỉ có tên lý trưởng là gian ác, còn lại thì đều bị oan, đều là người dân hiền lành. “Tội” của họ chỉ là có chút của ăn, của để, mà thứ “của ăn, của để” ấy có được cũng là nhờ vào lao động vất vả[22].

Kết thúc “phiên tòa”, các tội nhân bị tuyên tử hình, bị tịch thu toàn bộ tài sản để chia lại cho nhân dân trong xã. Mặc dù làm dữ như vậy song cuộc đấu tố vẫn bị đánh giá là “không thành công”, là “một phiên xét xử không đạt tiêu chuẩn về mọi mặt”. Nguyên nhân sai sót được “cán bộ cố vấn” chỉ ra là do “không ai hiểu rõ được mục tiêu của phiên toà” – kết án tử hình mấy tên phản động, phản cách mạng ấy chỉ là chuyện nhỏ, chúng có thể bị xử tử, xử bắn một cách dễ dàng, bất cứ lúc nào mà không cần triệu tập đông đảo nhân dân đến chứng kiến. Vấn đề là ở chỗ phải dứt khoát biến “quần chúng nhân dân” thành “quần chúng cách mạng”. Vì thế, “phải xử sao cho quyết liệt, sao cho gây chấn động trong từng cái đầu (…). Phải xử sao cho có khí thế để phát huy uy quyền của bạo lực cách mạng trong đầu mọi người (…). Phải chứng tỏ bạo lực cách mạng là dứt khoát, không gì lay chuyển nổi!”[23]. Vì mục tiêu ấy, phiên tòa được quyết định mang ra xử lại cho thật có khí thế, “trừng trị mấy tên phản động ấy cho thật ròn rã, vang dội, để dập tắt mọi tư tưởng phản động trong đầu quần chúng. Phải làm cho tư tưởng phản động, phản cách mạng không bao giờ có thể bùng lên trong đầu mỗi con người. Họp phiên toà để xử án là vì quần chúng! Xử tử bọn phản cách mạng là để giác ngộ tập thể!”[24].

Kết luận chắc nịch như đinh đóng cột, như dao chém đá của “đồng chí cố vấn” Trung Quốc dẫn đến một phiên xử lại được sắp đặt kỹ lưỡng từng chi tiết vào buổi đêm ba ngày sau đó – một phiên tòa nghiêm trang và áp đảo hơn phiên trước với phần hạch tội dữ dội hơn, số nhân chứng đứng ra kể khổ, kể tội đông hơn, thuộc bài hơn và tỏ ra hung hãn hơn. Đây thực sự là một cuộc biểu dương lực lượng rầm rộ, uy hiếp tinh thần đúng theo khẩu hiệu “Quyết tâm tiêu diệt tàn dư phong kiến, thực dân!”.

Phán quyết từ hình tất cả sáu tội nhân được thi hành ngay tại chỗ trước một bãi đông nghẹt người trong đêm lờ mờ ánh trăng, dưới ánh lửa bập bùng ma quái của những bó đuốc. Thời gian như ngưng lại. Và rồi…loạt súng nổ vang dội làm rung chuyển cả núi rừng trong phút chốc đã biến sáu mạng người thành những cái xác không hồn.

Ngay từ những buổi đầu được giao nhiệm vụ “bắt rễ” với một gia đình bần cố nông, Trần Đức Thảo đã nhận thấy ngay tình thế vừa nguy nan, vừa khôi hài, tiến thoái, lưỡng nan mà ông rơi vào. Tình thế đó khiến Trần Đức Thảo từng cười như nổi cơn điên rồi lại tủi phận mình mà bật khóc, rồi lại cười đến tràn nước mắt. Ông đã có những giấc ngủ không yên, tâm thần ngày càng suy yếu, mộng mị, hoảng hốt như chính mình là bị cáo trước một thứ toà án không luật lệ, không công lý. Cảnh xử bắn hãi hùng bồi thêm một đòn chí mạng, chực làm Trần Đức Thảo gục ngã. Những phát súng chát chúa của phiên tòa hôm ấy như  bắn vào chính thân xác ông, “vĩnh viễn đập tan tành giấc mộng trở về góp công sức xây dựng một mô hình cách mạng mà nhân loại trông chờ”[25]. Mặc cảm đồng lõa với tội ác hành hạ Trần Đức Thảo, gay gắt, quay cuồng chất vấn, đòi ông “phải tỏ thái độ, phải có lập trường rõ rệt; không thể im lặng a dua đồng loã một cách mù quáng”[26]. Từ giờ phút ấy, Trần Đức Thảo “ý thức rất rõ rằng, lúc này, ở nơi đây, mình sẽ không có một cơ hội nào để góp một chút gì tốt đẹp cho cách mạng”[27].

Thực tại tàn nhẫn đặt cho Trần Đức Thảo những câu hỏi hết sức hóc búa: “Có thể nào cản ngăn được thứ bạo lực thô bạo này, khi nó đang trong đà phát động với tất cả hăng say, cuồng nộ, cuồng tín như thế?”; “Tất cả những gì đang làm kia có thật là để cải tạo xã hội, giải phóng con người hay không?”; “Để cái ác cứ tiếp tục phát triển như nó vẫn được khai triển trong suốt chiều dài lịch sử?”; “Một ý thức hệ không bảo vệ được người vô tội thì có còn lý do để tồn tại hay không?”[28]… Rõ ràng, phải hết sức nguỵ biện mới chứng minh được rằng, “thiên đường xã hội chủ nghĩa có thể xây dựng bằng phương pháp giả dối”[29]. Như thế, triết gia đã mắc kẹt vào tình thể dở cười, dở khóc: Giữa một bên là lý tưởng, là lý luận biện chứng mạch lạc và một bên là thực tiễn cách mạng đầy sai trái, thô thiển, cổ lỗ, tăm tối, mâu thuẫn, thô bạo như ở thời sơ khai, man rợ.

Có một điều đáng lưu ý là trong tối tăm, tuyệt vọng vẫn có một khoảng sáng huyền ảo khiến Trần Đức Thảo càng thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trước hiện tại. Đó là nhận thức của một bộ phận người nông dân thể hiện qua suy nghĩ của một cá nhân cụ thể – bần cố nông Lê Tư. Cái cách mà người nông dân này đóng kịch giả câm, giả điếc, trốn tránh để không phải trở thành “bần có nông nổi dậy” (đội viên cải cách) đứng lên tố đấu tố nhà giàu trái với luân thường, đạo lý đã lay động những suy nghĩ của Trần Đức Thảo. Lý luận của một bần cố nông hết sức đơn giản, không cao siêu, rắc rối, không biết đến những khái niệm trừu tượng, siêu hình song lại hết sức thuyết phục, vì nó chính là những giá trị nhân bản truyền thống luôn tàng ẩn trong tiềm thức mỗi con người. Nó là đạo lý giữa con người với con người được gieo trồng, vun đắp qua chiều dài hàng ngàn năm lịch sử người Việt – một bản năng hiền hòa, một thứ lương tri tự nhiên của đạo làm người: “Sống hiền lành để phúc cho con”, “trời có mắt, trời quả báo”, “sống gian ác trời không dung tha”, “đời này mình không phải trả thì đến đời con, đời cháu mình chúng sẽ phải trả”….

Nhận thức rằng, bạo lực, hận thù, máu và nước mắt của nhân dân không thể đặt nền nóng cho một xã hội lý tưởng, không thể tạo nên một trật tự ổn định, Trần Đức Thảo cho rằng phải xem xét lại toàn bộ các vấn đề bắt đầu từ học thuyết, trên một nguyên tắc đơn giản, khoa học: Gột rửa tâm thức giáo điều sùng bái ý thức hệ một cách lố lăng, vứt bỏ trò chơi dân chủ giả hiệu, trả lại quyền dân chủ cho dân.

4- Lối thoát từ trong va đập hiện thực

Định mệnh dai dẳng đeo bám và không buông tha Trần Đức Thảo, lạnh lùng khoác vào số phận ông hai từ “oan nghiệt”.

Ít năm sau khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, Trần Đức Thảo vướng vào kỳ án “Nhân Văn – Giai Phẩm”. Hưởng ứng việc giới văn nghệ muốn thoát ra khỏi chế độ quản lý theo kiểu trại lính, đòi “trả văn nghệ lại cho văn nghệ sĩ”, Trần Đức Thảo có hai bài viết bàn về dân chủ, tự do đăng trên tờ Nhân Văn và Giai Phẩm Mùa Đông. Bị quy cho “tội danh” âm mưu chống Đảng, Trần Đức Thảo bị cấm giảng dạy, rồi bị bắt. Được thả về, sống trong cô đơn và điều kiện vật chất hết sức ngặt nghèo, chịu đựng ánh nhìn ghẻ lạnh của những người xung quanh, song Trần Đức Thảo không đầu hàng nghịch cảnh. Trong cơn xoay vần của số phận, tố chất triết gia, tư duy triết học đã giúp Trần Đức Thảo nhìn nhận những bể dâu cuộc đời, những vận động của xã hội và thời cuộc quanh mình như một dịp may sống động để trải nghiệm, để tìm hiểu, để lý giải hướng vận hành, cách thức vận hành của cách mạng và xã hội.

 Thực hiện công cuộc nghiên cứu thực tại ngay ở hiện trường với tư cách “người quan sát” từ bên trong (chứ không phải là người nhập cuộc), ở vị trí đứng ngoài quyền lực, Trần Đức Thảo tỉnh táo phát hiện những điểm thắt, những nút nghẽn của cơ chế chính sách, những căn bệnh trầm kha của xã hội. Như trong một phòng thí nghiệm lớn, trước một hiện trường tâm lý – xã hội phong phú, đa dạng, Trần Đức Thảo chăm chú theo dõi những chuyển biến ở con người, xã hội trên bước quá độ của cuộc cách mạng vô sản, hiểu những khát vọng, những ước mong thầm kín của họ, nhìn thấy những bế tắc xã hội. Trần Đức Thảo phân tích chủ nghĩa ngu tín (obscurantisme), cuồng tín (fanatisme), tình trạng con người bị nô lệ hoá, có mắt như mù, có đầu mà mất lý trí đang trở nên phổ biến, phân tích mối tương quan giữa hữu sản với vô sản, quan hệ giữa con người hữu sản và con người vô sản, phân tích vấn đề xoá bỏ hay không xóa bỏ giai cấp… Những phân tích như thế cho phép ông khám phá xu thế mà xã hội đang tiến tới.

 Để lý giải, Trần Đức Thảo vẽ một sơ đồ phát triển, từ sự hình thành của ý thức tới khả năng truyền thông, lý luận, rồi đẩy lý luận qua thực tại bước tới một giai đoạn tư duy đa chiều, díc dắc. Sơ đồ ấy cho phép ông nhận biết những bước sai lầm trong phương pháp tư duy dẫn tới lệch lạc trong hành động, trong chính sách, dẫn tới cách thức hành động tùy tiện và phương hướng phát triển phiêu lưu, không tưởng, thiếu nền tảng vững chắc. Như vậy, bước đầu Trần Đức Thảo đã “phác họa lộ trình quá độ hình thành sai lầm trong tư duy sơ đồ toàn cảnh của sự vận động hình thành con người qua những hoàn cảnh biến đổi của vũ trụ và của xã hội”[30]. Ẩn dấu dưới dáng vẻ cũ kỹ, có chút lập dị, lúc nào cũng ngơ ngác trước cuộc đời tầm thường là hứng khởi khám phá, là sự say mê đến sôi sục và sự không ngần ngại lao mình vào công cuộc nghiên cứu của một nhà triết học. Nguồn cảm hứng khoa học bất tận làm mạnh mẽ thêm nghị lực của Trần Đức Thảo, rót luồng năng lượng vào trí tuệ vốn đã mẫn tiệp của triết gia khiến nó càng thêm thông tuệ. Trên quan điểm “những gì xuất hiện trong hiện tại đều có gốc rễ từ quá khứ”[31], Trần Đức Thảo kiên trì lật từng lớp đất đá kết tụ qua thời gian đi tới tầng sâu bản chất, sáng tạo lý thuyết “hiện tại sống động”, không mệt mỏi kết nối quá khứ – hiện tại để nhận thức hiện tại và dự báo tương lai.

Tiếp cận thực tại đầy mâu thuẫn trong xã hội đã thức tỉnh Trần Đức Thảo, khiến ông kiên trì phân tích thấu đáo những sự vật, hiện tượng đang diễn ra. Tin tưởng ở khả năng tư duy mới mẻ, Trần Đức Thảo đơn độc đi tìm thủ phạm của thảm kịch thời đại, mang trên vai cây thập giá đời những mong hoàn thành mục tiêu phác thảo lớp lang một cuốn sách vĩ đại đã và đang chiếm lĩnh, ám ảnh đầu óc ông cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay.

*   *

*

Là chứng nhân bao lở bồi, đổi thay, sống trong hiện thực đau xót với những sai lầm về chính trị, kinh tế, văn hóa kéo dài, song Trần Đức Thảo luôn có một niềm tin vững chắc rằng, “trong lịch sử, luôn luôn có sự vùng dậy của chân lý và lương tri”[32] và “những tư tưởng đúng với lương tri, thấm nhuần thực tại đều có sức mạnh của sự thật”[33]. Từ thất vọng đến nhìn thấu hiện thực dưới lăng kính triết học, đến cuối cuộc đời, dù cô đơn và bệnh tật, ông vẫn luôn tự đặt cho mình nhiệm vụ tìm kiếm, vẽ nên một mô hình xã hội lý tưởng và hoàn bị. Đó là mô hình tràn ngập “tinh thần và lý tưởng dân chủ của một nền công bằng xã hội chân chính”[34], con người thể hiện rõ quyền sống, quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình. Ở đó, “con người sẽ khai triển một cuộc cách mạng lý tưởng bằng lương tri, trí tuệ, bằng luật pháp nghiêm minh với sức mạnh của công lý, công bằng chứ không phải bằng bạo lực của hận thù”[35]. Mô hình xã hội ấy, như Trần Đức Thảo giải thích, “do hiện thực xã hội đòi hỏi và đặt nền tảng”, một nền tảng duy vật sử quan; đồng thời, những vấn đề nhân bản, công lý và dân chủ sẽ được chú trọng, duy trì bằng cơ chế ưu tiên kiểm soát quyền lực với những cơ sở lý luận và pháp lý phát huy tính thiện, kiềm chế tính ác trong mỗi con người, giúp con người đạt tới công bằng, bác ái, tự do và hạnh phúc thật sự. Đó cũng là nội dung cuốn sách mà ông thôi thúc muốn viết ra để trả món nợ cho triết học, cho dân tộc và nhân loại.

Trần Đức Thảo đã ra đi về với cát bụi, ôm nỗi ân hận “hoàng hôn đi qua cả một cuộc đời” và ước nguyện viết sách của ông vẫn còn dang dở. “Lý thuyết hiện tại sống động” với “lô-gích vừa biện chứng, vừa hình thức” và sự nghiệp triết học trải nghiệm công cuộc cách mạng Việt Nam của Trần Đức Thảo còn đó như một dấu chấm hỏi mà hậu thế liệu có mấy người có thể trả lời.

Dẫu loài người không bao giờ theo được Thập giới của Chúa, thì Trần Đức Thảo cũng đã đi trọn cuộc đời gió sương, bước qua vui buồn, đau khổ của cõi con người. Sự nghiệp triết học ông để lại chắc chắn sẽ có một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử, như cỏ thơm còn mãi với thời gian.

[1] Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê: Trần Đức Thảo – những lời trăn trối, Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2014, tr.92.

[2] Sđd, tr.92.

[3] Sđd, tr.93.

[4] Sđd, tr.93.

[5] Sđd, tr.91.

[6] Sđd, tr.94.

[7] Sđd, tr.88.

[8] Sđd, tr.94.

[9] Trần Đức Thảo mô tả: Bản “Trích ngang” các cột ghi rõ: Họ và tên, các bí danh, ngày, tháng năm sinh, quê quán, trình độ học vấn, trú quán, tình trạng gia đình, họ tên vợ hay chồng, họ tên các con, đã thoát ly theo cách mạng ngày nào, đã vào đảng ngày nào, vào đảng do ai giới thiệu, hiện đang làm nhiệm vụ gì. Ngoài ra còn có phần Ghi chú nêu rõ: “Ghi những gì bản thân muốn khai báo thêm với cách mạng” [Trần Đức Thảo – những lời trăn trối, Sđd, tr.107].

[10] Trần Đức Thảo viết: Phải khai thật chi tiết từ ba đời nội ngoại trở lại hiện tại, chẳng những phải khai cả về bên bố, bên mẹ… Rồi cũng y như thế, phải khai cả về vợ và nội ngoại bên nhà vợ,rồi tới các con cũng với tối đa chi tiết có thể, rồi cả các bên thông gia” [Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê: Trần Đức Thảo – những lời trăn trối, Sđd, tr.107].

[11] Sđd, tr.108.

[12] Sđd, tr.109.

[13] Sđd, tr.111.

[14] Sđd, tr.112.

[15] Sđd, tr.115.

[16] Sđd, tr.117.

[17] Sđd, tr.115.

[18] “Bắt rễ” là khi tới địa phương, đội viên phải tìm tới sống chung với một gia đình bần cố nông có tên trong một danh sách thành phần xã hội nghèo túng, mà chính quyền địa phương đã lập từ trước. Các đội viên phát động cải cách có nhiệm vụ động viên, giáo dục bần cố nông, tức là dạy cho họ biết các “quyền” và “lợỉ” của bần cố nông trong và sau khi tham gia cải cách ruộng đất, giải thích để họ hiểu về quyền và nghĩa vụ hạch tội, trừng trị địa chủ, phú nông.

[19] Xâu chuỗi” là sử dụng cách sống chung ấy để kết nạp, thúc đẩy và tổ chức cho bần cố nông ấy trở thành một tổ viên thi hành cải cách, nghĩa là biết đấu tố, biết hạch tội, biết nhận một thứ nhiệm vụ công tố y như trong một toà án. Tổ viên này sẽ đứng ra buộc tội, lên án bọn địa chủ, phú nông, cường hào, ác bá…

[20] Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê: Trần Đức Thảo – những lời trăn trối, Sđd, tr.121.

[21] Sđd, tr.127.

[22] Sđd, tr.141.

[23] Sđd, tr.145.

[24] Sđd, tr.146.

[25] Sđd, tr.156.

[26] Sđd, tr.157.

[27] Sđd, tr.156.

[28] Sđd, tr.156.

[29] Sđd, tr.150.

[30] Sđd, tr.218.

[31] Sđd, tr.226.

[32] Sđd, tr.262.

[33] Sđd, tr.262.

[34] Sđd, tr.334.

[35] Sđd, tr.334-335.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 22-2-15

 

 

Bài trên Diễn Đàn Xuân Tân Mão

Nguyễn Ngọc Giao: Với Trần Đức Thảo, một chút duyên nợ

Nguyễn Ngọc Giao

Tôi đành dùng hai tiếng duyên nợ vì không tìm ra từ nào chính xác hơn. Nợ thì đúng rồi, dứt khoát. Duyên thì không hẳn, vô duyên có lẽ đúng hơn.

Xin bắt đầu bằng mối vô duyên. Trước hết, chưa lần nào tôi được gặp ông, chỉ có hai lần thấy ông. Lần thứ nhất, khi ông thuyết trình về Triết học của Stalin tại Trường đại học Denis Diderot (Paris VII, Jussieu). Ông trình bày xong thì tôi ra về, không ở lại nghe phần hỏi đáp (tôi cũng không nhớ là có hay không). Vì hai lẽ: thứ nhất, tôi không tiện gặp ông (vì sao, dưới đây sẽ nói); thứ nhì, nghe ông nói bữa ấy, tôi buồn quá. Dường như tôi không phải là người duy nhất cảm thấy buồn. Anh Lê Thành Khôi cũng ra về trước khi bài thuyết trình chấm dứt, nghe nói nước mắt lưng tròng mà ra về. Tình cờ mấy năm sau, đọc cuốn La mémoire du chien (nxb Fourbis 1993), biết Francis Marmande cũng có mặt bữa ấy, và thất vọng chừng nào khi thấy nhà triết học mà bấy lâu mình ngưỡng mộ qua cuốn Phénoménologie et matérialisme dialectique nay bỏ ra mấy tiếng đồng hồ để nói những chuyện không có gì đáng nói. Lần thứ hai, cũng là cần cuối cùng, tôi được thấy Trần Đức Thảo là lúc ông đã nằm trong quan tài, tại nhà hỏa táng nghĩa trang Père Lachaise. Bữa ấy, nỗi buồn chuyển sang đau xót: người ta đã đặt lên áo quan Trần Đức Thảo chiếc huy chương „Độc Lập“ hay „Kháng Chiến“ hạng nhì hay hạng ba gì đó mà Nhà nước vội vã quyết định trao tặng sau khi nhà triết học từ trần (ngày 24.04.1993). Nghe nói khi ông mất, căn phòng nhỏ của ông ở chiêu đãi sở thuộc đại sứ quán, số 2 phố Le Verrier (Quận 6, Paris) đã được niêm phong kỹ càng: người ta sợ nhất những giấy tờ ông để lại, biết đâu có những dòng „lề trái“, lọt ra ngoài…

Từ vô duyên vận rất đúng vào một nghịch lí lâu lâu vẫn ám ảnh tôi. Nguyên ủy là một lần nghe mẹ tôi kể lại, thời trẻ, gia đình ông Thảo ngỏ ý dạm hỏi mẹ tôi, tôi không nhớ vì sao (tuổi tác xung khắc chăng?) ông bà ngoại tôi khước từ, cuộc đính hôn không thành, sau đó ông Thảo sang Pháp — nhà ông bà ngoại tôi ở phố Hàng Thuốc Bắc, nhà cụ Tiến (thân phụ ông Thảo) ở phố hàng Ngang hay hàng Bạc gì đó, không xa. Thỉnh thoảng, tôi lẩn thẩn tự hỏi: nếu như cuộc xe duyên ấy được tác thành thì sao? Thì sao, không biết, nhưng chắc chắn là… không có tôi, và tôi không có thì câu hỏi vô duyên ấy lại càng không đặt ra !

Thực ra thì giữa ông và tôi cũng có một chút duyên: những năm „đổi mới“, khi tôi phụ trách trung tâm văn hóa „Nhà Việt Nam“ (ở số 23 rue Cardinal Lemoine, quận 5 Paris), ông có trao phó cho tôi xuất bản cuốn La philosophie de Staline, I. Lúc đó, hình như theo gợi ý của hai ông Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng, Trần Đức Thảo được Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh mời vào ở khách sạn Embassy (Bến Nghé?). Khí hậu và đời sống ở thành phố dầu sao cũng thuận lợi với tuổi tác, sức khỏe thân thể (ông bị xơ gan nặng, không thể tiêu hóa chất mỡ và thịt có nhiều chất mỡ như thịt lợn) và tinh thần (từ sau vụ Nhân văn Giải phẩm, ông mắc chứng mặc cảm truy bức khá trầm trọng) thuận lợi, thoải mái hơn. Ông tiếp tục nghiên cứu về đề tài hình thành ý thức con người, tìm đọc những công trình nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ học và tâm lý trẻ em để phát hiện thời điểm phát sinh ý thức của từng con người cá thể, của cộng đồng con người. Mặt khác, ông viết cả về những vấn đề lí luận liên quan tới thời sự: ông cho rằng sự trì trệ của nghiên cứu triết học tại các nước xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ Stalin, cụ thể là từ lúc mà y đã „cố định hóa“ biện chứng pháp vào mấy „quy luật“ cứng nhắc và tầm phào; mặt khác, ông suy luận về nền tảng chủ nghĩa Pol Pot, và cho rằng, ngoài chủ nghĩa Mao, nạn diệt chủng ở Cam pu chia còn bắt nguồn từ… chủ nghĩa „lý luận không có con người“ (ám chỉ antihumanisme của Louis Althusser). Chính trong bối cảnh này mà cuối năm 1987, đầu năm 1988, tôi đã nhận được bản thảo Triết học của Stalin, I. Cuốn sách còn sơ lược, nhưng hé ra những triển vọng nghiên cứu về biện chứng pháp, chuẩn bị cho sự „tái xuất giang hồ“ của tác giả Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Khó khăn lớn nhất là tìm ra nguồn tài trợ để xuất bản. Quỹ vận hành của „Nhà Việt Nam“ eo hẹp (tiền thuê nhà mỗi tháng đã ngốn hơn 20 000 FF), cuối cùng cũng phải giật gấu vá vai để tìm ra chi phí in 500 bản. Chị Vân (Bùi Mộng Hùng) chấp nhận ấn hành với danh nghĩa nhà xuất bản MÂY mà chị làm giám đốc. Khó khăn thứ nhì là xếp chữ. Năm 1988, máy vi tính chưa phổ biến để xếp chữ, dàn trang thuận tiện như bây giờ. Chúng tôi phải nhờ anh Tiểu Đồng đánh máy lại trên một máy điện tử của ngành in lúc đó đã thay thế chiếc máy linotype của anh Phùng Công Khải ở Meudon (là nơi đã in toàn bộ bán nguyệt san Đoàn Kết khổ lớn trong những năm 60 và 70). Bản thảo là bản đánh máy, có những chỗ sửa viết tay của tác giả Trần Đức Thảo, nét chữ rắn rỏi, nắn nót, dễ đọc. Trong quá trình xếp chữ, tôi nhớ ông có gửi thêm những chỗ chỉnh sửa. Tiểu Đồng đánh máy, tôi làm thầy cò, cả hai làm việc ăn ý và khá nghiêm chỉnh nên sách in xong, không thấy tác giả chê trách gì, kể cả đối với phần thư mục và tiểu sử mà tôi soạn, chủ yếu theo bản của tác giả, nhưng tất nhiên phải thêm phần liên quan tới thời kỳ Nhân văn Giai phẩm và sau đó — mà tác giả để trống. Sách in xong, nộp lưu chiểu ở Thư viện Quốc gia Pháp và gửi về tác giả, ông gửi tiếp cho tôi mấy lá thư, dặn dò gửi tặng một số nhà triết học ở Pháp, Cộng hòa dân chủ Đức và Liên Xô, và trao đổi về việc xuất bản công trình tiếp theo, là „Nghiên cứu nhân học“.

Thư từ trao đổi với ông đến mùa xuân 1989 thì ngừng. Mùa xuân nở rộ ở Bắc Kinh và kết thúc trong vũng máu Thiên An Môn. Mùa hè bắt đầu với cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên ở Ba Lan. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh — mà tên tuổi gắn liền với cuộc đổi mới bắt đầu từ tháng 12.1986, mà ông Trường Chinh mới chính là cột trụ thực sự — hoảng sợ; hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam họp cấp tốc, lên án cuộc „đảo chính“ ở Ba Lan. Các „đoàn thể nhân dân“ được lệnh gửi kiến nghị phản đối đến đại sứ quán Ba Lan ở Hà Nội (và bị các nhà ngoại giao Ba Lan gửi trả lại „người gửi“). Đổi mới chuyển thành co cụm, và siết lại về mặt tư tưởng. Gorbatchev bắt đầu bị phê phán nghiêm khắc trên báo chí chính thức. Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng (Tô Hòa) bị „nghỉ hưu“, trang 2 tờ nhật báo đăng một loạt bài „lề phải“. Một trong những bài đầu tiên mang chữ ký Trần Đức Thảo (nếu tôi nhớ không lầm, khoảng trung tuần tháng 8.1989). Qua lời tâm sự của ông với một vài anh em thân quen, Trần Đức Thảo linh cảm một cuộc đàn áp tư tưởng sẽ bắt đầu, và, kinh cung chi điểu, ông sợ rằng mình sẽ là „đối tượng đấu tranh“ của cuộc „uốn nắn“ mới này. Năm 1956, ông đặt bao nhiêu kỳ vọng vào cuộc „giải Stalin hóa“, năm 1987, ông phấn chấn chừng nào với cuộc perestroika của Gorbatchev, thì nay ông lo ngại bấy nhiêu. Chứng „mặc cảm bị truy bức“ của ông, chưa bao giờ thuyên giảm, nay càng trầm trọng.

Không nhận được thư ông, tôi cũng tránh liên lạc với ông, vì ngại sẽ đặt ông vào tình thế khó xử. Tôi vẫn còn nhớ những mẩu chuyện của chị Françoise Corrèze, người bạn chí cốt của Việt Nam, bạn thân của Trần Đức Thảo và Nguyễn Khắc Viện. Mỗi lần chị tới thăm ông ở căn phòng khu tập thể Kim Liên, sau khi ông chỉ trỏ lên trần và hướng về mấy bức tường, là cuộc bút đàm, sau đó, ông bật diêm đốt hết những mẩu giấy, phi tang.

Cuối năm 1989, đầu năm 1990, chúng tôi soạn và công bố bức Tâm Thư. Tôi bị kéo dài tình trạng cấm cửa (thực ra đã bắt đầu từ mùa hè 1982, và mãi tới mùa thu 2001 mới chấm dứt). Tên của anh Bùi Văn Nam Sơn và tên tôi được trưng bày ở Viện bảo tàng Tội ác Mỹ-ngụy (đường Võ Văn Tần), chúng tôi được coi là „đầu sỏ“ của một âm mưu lật đổ gì khá ghê gớm. Tôi càng bặt tin Trần Đức Thảo. Cuối năm 1991, được tin ông sang Pháp, ở số 2 rue Le Verrier (quận 6, Paris), chiêu đãi sở của đại sứ quán Việt Nam (thời ông Mai Văn Bộ ở Pháp, đây là trụ sở Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Tiểu sử Trần Đức Thảo do TS. Cù Huy Chử soạn, cho biết ông sang Pháp „nghiên cứu khoa học, do Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cử“. Theo những anh chị em có dịp tiếp cận, Trần Đức Thảo cho biết ông được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Ban bí thư cử sang Pháp để „giải độc trí thức Việt Kiều“ khỏi ảnh hưởng xấu của… Nguyễn Ngọc Giao và „nhóm Tâm Thư“ (sic).

Đó là lí do tại sao tôi phải kính nhi viễn chi: đến gặp ông, chẳng khác gì làm hỏng kịch bản „giải độc“, mà, trong cơn mặc cảm truy bức, ông tưởng đã thuyết phục được ông Linh (tôi không nghĩ ông Nguyễn Văn Linh lại ngây thơ đến thế). Vấn đề đặt ra cho tôi: có thể làm gì, và làm cách nào, giúp ông mà không lộ „bàn tay lông lá“ của mình ra?

Đầu tiên, một việc đáng mừng: những người bạn Pháp trong ngành triết học, cựu học sinh của „Normal’Sup“ (trường cũ của Trần Đức Thảo), nay là giáo sư đại học ở Paris, đã liên lạc để mời ông tới thuyết trình. Được tin ông nhận lời, tôi rất mừng vì đây là dịp đầu tiên ông sẽ tiếp xúc với thế hệ đại học và triết học „hậu sinh“ — tôi biết ông đã gặp lại vài triết gia cùng thế hệ với ông như Paul Ricoeur, Jean-T. Desanti… Tiền thù lao khiêm nhường, nhưng cũng đáng kể vì ông không có thu nhập nào. Thế nhưng mọi việc đổ vỡ: sau khi nhận lời, ông lại hủy bỏ các cuộc thuyết trình đã được thông báo, mà không cho biết lí do. Dần dà, chúng tôi hiểu được nguyên ủy: ông được biết những người mời ông đều là môn sinh của Louis Althusser, mà „học thuyết phi nhân bản“ („lí luận không có con người“), theo ông, chính là „nền tảng triết học“ của chủ nghĩa Pol Pot, và đằng sau nó, chủ nghĩa Mao. Của đáng tội, thế hệ giảng viên, giáo sư triết học 4x, 5x, 6x.. ở Pháp, thì ai chẳng là môn sinh của Althusser, học sinh „Normal’Sup“ ban khoa học xã hội và nhân văn những năm 60, ai mà chẳng ít nhiều tham gia UEC-ML (Sinh viên Cộng sản Mácxit-Lêninit) với những Robert Linhart, Etienne Balibar…? Họ đã li khai với Đảng cộng sản Pháp vì cho rằng Đảng quá xét lại, hoặc bị Đảng khai trừ, cô lập vì quy họ là mao-ít. Điều đáng tiếc, và đáng buồn, là trong tâm trạng bị truy bức ám ảnh, Trần Đức Thảo cho rằng đây là một âm mưu của „đám Althusser“, giăng bẫy ông để Đảng cộng sản Pháp sẽ coi ông là thù nghịch. Thoạt nghe tôi không khỏi sửng sốt, nhưng sau, nghĩ lại, tôi hiểu hơn. Ông như con chim đã bị trúng tên: thời gian 1945-51, ủy viên ban Tổng đại diện Việt kiều tại Pháp, ông đã đấu tranh kiên định chống khuynh hướng trốt-kít (coi Hiệp ước sơ bộ 6-3-1946 là „phản bội cách mạng“), nhưng trong vụ đàn áp phong trào Nhân văn – Giai phẩm, ông lại bị ông Phạm Huy Thông, vừa là đồng chí, vừa là đồng môn ở Normal’Sup, tố cáo là… „trốt-kít“. Hiểu được bối cảnh đường lối co cụm của ĐCSVN đầu thập niên 1990, tâm trạng phập phồng của Trần Đức Thảo, và những gì ông phải trải nghiệm từ năm 1956 về sau, chúng ta hiểu tại sao nhìn đâu Trần Đức Thảo cũng thấy âm mưu và cạm bẫy, khiêu khích…

Nhưng rồi một hôm, chị X., một trong những anh chị em Việt Kiều vẫn thường xuyên tới phố Le Verrier thăm hỏi và đỡ đần ông, gọi điện gấp cho tôi: „Anh Thảo muốn… chọn tự do, yêu cầu giúp anh ấy ra khỏi chiêu đãi sở, tìm nơi ăn chốn ở an toàn, và giúp tổ chức họp báo“. Sau giây phút bàng hoàng, tôi mường tượng ra tâm trạng hoảng loạn của anh, và xót xa nghĩ tới cảnh tượng một Trần Đức Thảo „chọn tự do“ khi phe xã hội đã sụp đổ, giữa sự thờ ơ của thế giới phương Tây đang đọc điếu văn lần thứ n+1 cho chủ nghĩa Marx, và sự hí hửng hả hê của giới Việt Nam chống Cộng đến chiều. Nghiêm trọng gấp vạn lần màn hài kịch thảm thương ấy, là viễn tượng, đối với tôi, không thể chấp nhận được: mất đi khả năng tạo ra chung quanh Trần Đức Thảo một khung cảnh vật chất và tinh thần cần thiết để ông tiếp tục nghiên cứu những đề tài mà ông đã bắt đầu trong điều kiện thiếu thốn cùng cực về mọi mặt.

 

Tôi bàn với chị X., và chúng tôi nhanh chóng thống nhất mấy điều: (1) nói với anh Thảo, nếu anh vẫn giữ ý định „chọn tự do“, chúng tôi sẽ tôn trọng quyết định ấy, và sẽ giúp đỡ anh trong tất cả phạm vi có thể, nhưng cũng bình tĩnh nói với anh là sự chọn lựa ấy chẳng hay ho gì, về mọi mặt; (2) điều hay nhất là tìm được nơi ăn ở và điều kiện làm việc tối ưu để anh có thể dành tâm trí vào công trình triết học.

 

May thay, anh nhanh chóng đồng ý. Nhờ tài vận động và quan hệ rộng rãi của mình, chị X. đã tranh thủ được Hội tương trợ những người bạn của khoa học (trong những người trách nhiệm, có khá đông cựu học sinh Normal’Sup) quyết định tài trợ hàng tháng một số tiền (tôi không nhớ là 10 000 FF hay 15 000 FF). Số tiền không lớn, nhưng thừa đủ để bảo đảm một cuộc sống thanh đạm mà đàng hoàng cho một người độc thân. Nhưng vấn đề là tìm cho ra một nơi ăn chốn ở thế nào để nhà triết học không phải lo lắng gì hết về bếp núc, giặt giũ, và có trong tầm tay mọi thứ sách vở, tạp chí, tài liệu để làm việc. Có thể tôi „ăn mày đòi xôi gấc“, nhưng mỗi lần đọc những bài viết của Trần Đức Thảo về nguồn gốc ý thức con người, tôi đau xót thấy tư liệu về khảo cổ học mà ông tham khảo là những công trình của Leaky ngừng ở năm 1970, và không thấy ông viện dẫn gì tới những công trình về „thần kinh khoa học“ (neurosciences). Tôi tin tưởng, ít nhất mong ước rằng, một khi cập nhật hóa được những thành tựu mới nhất của thần kinh khoa học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhân học, tâm lý học trẻ em, sinh học… bộ óc Trần Đức Thảo sẽ mang lại cho chúng ta những soi sáng mới.

Nơi ăn chốn ở lý tưởng mà tôi vừa nói, không phải là chuyện không tưởng. Nó nằm ngay ở khuôn viên Normal’Sup, 45 rue d’Ulm, nơi ông đã học nội trú một năm trước khi cùng trường sơ tán xuống Clermont-Ferrand khi Đức chiếm Paris, và trở lại làm cao học và thi thạc sĩ sau ngày nước Pháp giải phóng. Vấn đề là làm sao ban giám hiệu nhận cho một cựu học sinh 75 tuổi trở lại trường? Tôi thấy chỉ có một cách: gõ cửa Laurent Schwartz. Tôi vốn tránh phiền nhà toán học vĩ đại, chỉ chạy lại nhà mỗi lần ông gọi tới. Nhưng lần này, thì nhất thiết phải phiền ông. Vả lại, lúc ấy cũng đang bùng nổ „vụ Boudarel“ (*) (đám cực hữu vu cho Georges Boudarel là đã „hành hạ“ tù binh Pháp ở trại M113 Tuyên Quang), chúng tôi đã họp mấy lần ở nhà Laurent Schwartz cùng với ông bà để tìm cách bảo vệ Boudarel (sau này Laurent Schwartz nhận làm chủ tịch „Hội những người bạn của Boudarel“ cho đến ngày ông từ trần, năm 2002, hơn một năm trước Boudarel). Tôi điện thoại để xin hẹn, nhưng vừa nói tại sao xin gặp, thì Schwartz đã nhận lời liên lạc ngay với hiệu trưởng Normal’Sup.

Đầu tháng 4.1993, tấm ngân phiếu đầu tiên của Hội những người bạn của khoa học đến tay Trần Đức Thảo. Chúng tôi lạc quan đợi tin của trường Normal’Sup để tổ chức dọn nhà cho ông: từ 2 Le Verrier đến 45 rue d’Ulm, chỉ cần đi xuyên qua vườn Luxembourg là tới. Tôi không rõ các anh chị thường gặp ông đã giúp ông mở tài khoản ngân hàng để chuyển số tiền ấy chưa. Chỉ biết là ông đã ngả bệnh, phải đưa cấp cứu vào bệnh viện Broussais. Trái tim Trần Đức Thảo ngừng đập lúc 2g sáng ngày 24 tháng 4 năm 1993.

Từ ấy, mỗi lần đi qua phố Ulm nơi Trần Đức Thảo theo học Normal’Sup, hay đi dọc theo bức tường cao của nhà tù La Santé, nơi Trần Đức Thảo bị giam năm 1945, hay dạo bộ quảng trường Maubert, là nơi nghe kể lại Trần Đức Thảo từng lộc cộc đôi guốc đi mua thức ăn về phòng làm việc… tôi thường nghĩ tới ông, và ngậm ngùi mối duyên nợ đối với ông. Duyên ít, nợ nhiều, không bao giờ trả được.

Nguyễn Ngọc Giao
Paris, 29 tết Tân Mão (1.2.2011)

 

(*) Về Boudarel, xin đọc bài „Đại đồng tiểu truyện“ (http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-004/dai-dong-tieu-truyen/)

 

 Cù Huy Hà Vũ: Bảo vệ ‚con người thật‘ của nhà triết học Trần Đức Thảo

  • Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ
  • Gửi cho BBC
Trần Đức Thảo (trái), Cù Huy Cận (phải) và con trai Cù Huy Hà Vũ (giữa) tại Nhà khách sư quán Việt Nam, 2 Le Verrier, Paris, đầu năm 1993

 

 

Trần Đức Thảo (trái), Cù Huy Cận (phải) và con trai Cù Huy Hà Vũ (giữa) tại Nhà khách sứ quán Việt Nam, 2 Le Verrier, Paris, đầu năm 1993

Ngày 28 tháng 4 vừa qua, BBC Tiếng Việt đăng bài ‚Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?‘, dẫn nhập: „Cuốn hồi ký ‚Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối‘ do nhà báo Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê biên soạn ghi lại các tâm sự của ông Trần Đức Thảo sau khi ông trở lại Pháp đầu thập niên 1990“.

Tôi thực sự bị sốc sau khi đọc bài viết này.

Trước hết, bất cứ độc giả thông thường dễ dàng nhận thấy cuốn sách ‚Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối‘ không phải là hồi ký của Trần Đức Thảo. Đơn giản là đã gọi là ‚hồi ký‘ thì phải có bản thảo của chính Trần Đức Thảo. Thế nhưng đã không có bất cứ bản thảo hồi ký nào của ông. Bản thân BBC Tiếng Việt cũng thừa nhận cuốn sách này chỉ là „ghi lại lời ông Trần Đức Thảo“.

Tiếp đó, với tư cách là một người có quan hệ gần gũi với Trần Đức Thảo, tôi thấy cuốn sách ‚Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối‘ là một sự xuyên tạc có chủ ý triết gia duy nhất này của Việt Nam (tính đến thời điểm hiện tại), hơn thế nữa, được giới triết học quốc tế ngưỡng mộ.

Thời gian sống cùng Trần Đức Thảo

Thực vậy, tôi và vợ tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, đã có thời gian sống cùng Trần Đức Thảo tại Nhà khách Sứ quán Việt Nam ở Paris, số 2 Le Verrier, cho đến khi ông mất vào cuối tháng 4 năm 1993. Năm 1992, với tư cách cán bộ Bộ ngoại giao Việt Nam, tôi trở lại Paris để học tại Học viện quốc tế quản lý hành chính công (IIAP), trực thuộc Thủ tướng Pháp, nay là Trường quốc gia hành chính (ENA). Việc vợ chồng tôi thuê một phòng tại Nhà khách này không chỉ vì đó là nơi tôi đã ở trong lần du học trước đó mà còn vì cách trường có hai trăm mét, tại số 2 đại lộ l’Observatoire.

Ngay ngày đầu tiên tôi đã gặp Trần Đức Thảo. Số là tôi từ ngoài đường vào thì thấy một cụ già gầy gò, hai tai nút đầy bông, đang hổn hển kéo lên thang gác một xe đẩy nhỏ buộc một bịch nước đóng chai. Ngạc nhiên vì không thấy ai giúp ông, tôi liền nói: „Bác để cháu mang lên cho“ và đưa bịch nước đó lên phòng của ông ở tầng 2.

Đó là một căn phòng bề bộn sách và bản thảo, đặc biệt là rất bẩn và hôi, bông dính mủ rải rác khắp nơi. Mọi chỉ dấu cho thấy chỉ có mình ông ở đây. Vẻ cảm động, ông hỏi tôi: „Cháu tên gì?“.

Tôi trả lời: „Cháu tên Vũ“ rồi hỏi lại: „Bác tên gì?“. „Tôi là Trần Đức Thảo“, ông rành mạch. Tôi sững người: „Trần Đức Thảo! Cháu đã nghe tiếng bác từ lâu. Bác là nhà triết học. Cháu còn biết bác là nạn nhân của vụ án ‚Nhân văn Giai phẩm‘. Bố cháu là Huy Cận, bác cháu là Xuân Diệu. Các ông ấy nói nhiều về bác lắm“.

Trần Đức Thảo nói ngay: „Ai chứ Huy Cận, Xuân Diệu thì tôi thân lắm“ rồi hỏi thăm về bố tôi (Xuân Diệu đã mất từ năm 1985). Sau này tôi mới biết là vào đầu năm 1991, ngay trước khi Trần Đức Thảo đi Pháp, bố tôi cùng chú ruột tôi là Cù Huy Chử, Tiến sĩ triết học, Trưởng khoa của Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh) và con chú tôi là Luật sư Cù Huy Song Hà, đã đến thăm ông tại nhà ở 200 Đề Thám, TP Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, bố tôi đã tặng ông bài thơ ‚Gửi thế kỷ 20‘ với đề tặng „Kính tặng Anh Trần Đức Thảo, nhà triết học suy tư cùng thế kỷ“.

Thế là tôi trở thành chỗ tin cậy của triết gia họ Trần không chỉ trong chuyện „hậu cần“ mà còn cả trong những việc ông đang làm ở Paris. Ông cho tôi biết vì sao và bằng cách nào ông sang được Pháp.

Ông cũng chia sẻ với tôi những gì ông đã và đang làm và dự định của ông cho thời gian tới. Còn hiện tại, ông nhờ tôi bán những bản tóm tắt những đề tài triết học mà ông sẽ thuyết trình tại Nhà Việt Nam hay Đại học Paris 7 với giá 20 francs (hồi đó khoảng hơn 3 USD) một tập để có tiền sống qua ngày…

Trần Đức Thảo đã ký tặng tôi một bản như vậy. Chính qua những cuộc trò chuyện tay đôi với ông cả ở nhà lẫn trên đường phố mà tôi hiểu được khá cặn kẽ con người cũng như suy tư của ông. Khi nghe tôi kể về tình cảnh đến thảm thương cũng như dự định nghiên cứu của Trần Đức Thảo, Jean Dupèbe, Giáo sư của tôi tại Đại học Paris 7, cựu sinh viên Trường Sư phạm nơi Trần Đức Thảo đã từng học, kêu lên: „Trần Đức Thảo là thầy của tất cả chúng tôi, tại nước Pháp này! Tôi sẽ phải làm cái gì đó để giúp Giáo sư Thảo“. Ngay sau đó, Jean Dupèbe đã vận động Hội cựu sinh viên Trường sư phạm lập ra một khoản trợ cấp cho ông.

Tóm lại, Trần Đức Thảo coi tôi như „thủ túc“ của ông. Chị Hiền và bà Bích Hồng, cùng ở Nhà khách, là những người có măt khi ông hấp hối tại chính căn buồng của ông, thuật lại với vợ tôi: „Khi hấp hối, bác Thảo kêu: „Vũ ơi? Vũ ơi?“ thì mọi người thưa rằng: „Vũ đang đi thực tập ngoại giao tại Sénégal. Vũ sắp về rồi“. Bác Thảo không nói gì nữa, rồi mất“.

Trở lại cuốn sách ‚Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối‘, sách mô tả Trần Đức Thảo gọi người quản lý Nhà khách là „đồng chí Hào“. Thế nhưng tên của người quản lý này là „Hảo“. Chỉ riêng chi tiết này thôi cũng đã cho thấy cuốn sách là bất khả tín. Ngoài ra, cả tôi lẫn vợ tôi chưa từng nghe Trần Đức Thảo gọi ông Hảo hay bất cứ ai khác là „đồng chí“ trên đất Paris này.

Về học thuật, Trần Đức Thảo là một nhà Marxist. Để khỏi chứng minh dài dòng, tôi lấy Trần Đức Thảo để định nghĩa Trần Đức Thảo.

Trong ‚Tiểu sử Trần Đức Thảo‘ tự biên, ông viết: „Tháng 8 năm 1951 tôi công bố cuốn „Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng“ do Nhà xuất bản Minh Tân phát hành. Cuốn sách này đánh dấu sự chuyển biến của tôi từ Hiện tượng học đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên thực tế tôi mới chỉ đạt tới ngưỡng cửa của Chủ nghĩa Mác. Tôi đã đi đến nhận biết được chân lý của những cơ sở lý luận của học thuyết duy vật biện chứng, nhưng chưa nắm được đầy đủ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong hành trình của tôi, tôi đã được đưa đến Chủ nghĩa Mác qua 2 con đường: Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc dẫn đến chủ nghĩa xã hội; Thứ hai, việc nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất Chủ nghĩa Mác-Lênin mới vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học“.

Trần Đức Thảo tán thành „chủ nghĩa xã hội“

Tóm lại, Trần Đức Thảo tán thành „chủ nghĩa xã hội“ theo học thuyết Mác-Lênin và khẳng định cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc Việt Nam dẫn đến chủ nghĩa xã hội.

Còn sau đây là một số „quan điểm“ của Trần Đức Thảo mà bài ‚Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?‘ trích ra từ ‚Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối‘.

-Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, do Lênin tuỳ tiện khai triển tư tưởng Marx là phương cách giam hãm các dân tộc chư hầu của thời Sa hoàng vào trong một gông cùm kiểu mới, với cái tên đẹp hơn: „khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em… Bắc Kinh cũng đối xử với Tây Tạng, với Triều Tiên, với cả ta, theo tâm thức bành trưởng đế quốc như thế, cũng dưới chiêu bài „khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em“, giữa hai „láng giềng hữu hảo, môi hở răng lạnh“!…

Hẳn để thuyết phục người đọc về tính xác thực của những „quan điểm“ nêu trên, những quan điểm phủ nhận hoặc hoàn toàn lạ lẫm với sự theo đuổi chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc Việt Nam của Trần Đức Thảo được thể hiện qua các văn bản do chính ông công bố, Phan Ngọc Khuê vẫn trong cuốn sách này đã hơn một lần dẫn ra cái gọi là „tâm sự“ của triết gia theo đó ông đang chú tâm hoàn tất một cuốn sách có tính „phản tỉnh“.

-Ai cũng cần đọc sách này để thấy, để hiểu thảm hoạ đã đến với mỗi con người chúng ta như thế nào. Sách như thế thì làm sao có thể viết được ở quê nhà. Chúng nó thì đánh cho vỡ đầu ấy chứ! Ha! Ha! Ha…! Chừng nào cuốn sách của tôi được in ra thì tất cả những thắc mắc mà các bạn ở Paris này nêu ra từ trước tới nay sẽ được giải đáp cho bằng hết. Và tôi đang gấp rút biên soạn nó…

Trần Đức Thảo

TRAN DUC THAO Trần Đức Thảo

Vậy thì, nếu quả những „tâm sự“ trên của Trần Đức Thảo mà Phan Ngọc Khuê „ghi lại“ là có thật, thì trong di cảo của ông, nếu không có một bản thảo theo đúng nghĩa cho một cuốn sách „phản tỉnh“ như vậy thì chí ít phải có bản thảo thể hiện không ít thì nhiều sự „phản tỉnh“ ấy của ông. Thế nhưng thực tế cho thấy đã không có bất cứ bản thảo nào như vậy.

Thứ nhất, Trần Đức Thảo cho tôi, Cù Huy Hà Vũ, biết ông gửi lưu trữ một số bài viết của ông cho một cơ quan lưu trữ tại Paris (có trả phí bảo quản). Sau khi Trần Đức Thảo mất, cơ quan lưu trữ này gửi thư thông báo ông Thảo còn nợ một số tiền bảo quản tài liệu. Chính tôi đã thanh toán số tiền này và cơ quan lưu trữ đã gửi những bài viết của ông cho tôi. Những bài viết này của Trần Đức Thảo có một bản tiểu sử do ông tự biên soạn và vài bản thảo khác thuần túy triết học, không liên quan đến thời sự, càng không chứa đựng những quan điểm „phản tỉnh“ như Phan Ngọc Khuê mô tả.

Thứ hai, bố tôi, Bộ trưởng Cù Huy Cận, trong một chuyến công tác tại Pháp vào đầu năm 1993, có thăm Trần Đức Thảo ngay tại Nhà khách Sứ quán. Tại buổi gặp và trò chuyện này giữa hai ông, tôi đã có mặt và đã có chụp ảnh kỷ niệm (đăng kèm bài này). Ông Thảo đã không bày tỏ với bố tôi bất cứ quan điểm nào có tính „xét lại“ chứ đừng nói gì đến „phản tỉnh“ mặc dù hai ông rất thân tình với nhau. Sau khi Trần Đức Thảo mất, chính bố tôi là người đã đề xuất Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Độc lập cho ông và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện điều này trước khi tang lễ của ông được tổ chức.

Thứ ba, sau khi Trần Đức Thảo mất, sứ quán Việt Nam đã gửi toàn bộ tài liệu trong đó có các bản thảo của Trần Đức Thảo có trong buồng ông tại Nhà khách Sứ quán về Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Chú ruột tôi, Cù Huy Chử, Tiến sĩ triết học Trưởng khoa của Học viện này (chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh) như trên đã nói, là người gần gũi với Trần Đức Thảo từ năm 1960, được giao toàn bộ tài liệu này để nghiên cứu. Ông Chử đã cho tôi xem tất cả khối tài liệu này (mà một phần đáng kể là bằng tiếng Pháp) hiện lưu giữ tại nhà ông. Ông Chử cũng nhiều lần trao đổi với tôi về Trần Đức Thảo với mong muốn tôi hợp tác viết sách về nhà triết học Marxist này. Đã không một bản thảo nào trong số tài liệu đó thể hiện cách nhìn phủ nhận những gì Trần Đức Thảo đã viết và công bố.

Cho dù tôi không phải là người tán thành mọi quan điểm của Trần Đức Thảo nhưng tôi sẽ bảo vệ đến cùng con người vốn dĩ của ông.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, gửi cho BBC từ Hoa Kỳ.

Nguyễn Đình Cống: TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO – VÀI NGHI VẤN CÒN LẠI

 

Facebook Nguyễn Đình Cống

 

Hồi sinh viên ( 1956-1960) tôi đã nghe tên và biết ông dính vào Nhân văn, Giai phẩm. Ban đầu tôi háo hức tìm hiểu, sau biết ra thì vừa phục vừa thương. Dần dần tôi được đọc các bài viết về ông, nổi lên ở 3 vấn đề chính : 1- Ông là nhà triết học tài năng; 2- Là nhà Macxit , bảo vệ và giải thích triết học Marx; 3- Người có cuộc sống cơ cực trong hàng ngũ trí thức.
Tôi đọc một số tác phẩm của ông , nhưng vì kiến thức triết học chưa đủ tầm nên chỉ hiểu được một ít mà thôi. Điều tôi quan tâm là một nhà triết học lớn như ông, được phong giáo sư, sau khi chết còn được tặng Huân chương Độc lập và Giải thưởng Hồ Chí Minh, vậy ông có đóng góp gì tích cực trong việc vận dụng triết học cho công cuộc xây dựng đất nước, đặc biệt là việc vận dụng chủ nghĩa Marx vào trong đời sống. Càng tìm hiểu càng bị rối mù . Gần đây có lúc tôi tưởng đã hiểu được ông, nhưng rồi lại như đang bị đi vào ngõ cụt. Nguyên nhân nằm ở tác phẩm được ông viết vào cuối đời, cùng vài quyển sách về ông.
Ông được xem là nhà Macxit chân chính. Còn tôi, trước 35 tuổi tôi tuyệt đối tin tưởng và tôn sùng Marx, nhưng rồi dần dần tôi phát hiện ra Marx có sai lầm. Khi biết Bertrand Russell , nhà khoa học lớn của nước Anh, hồi trẻ cũng rất tin , nhưng khi lớn tuổi đã từ bỏ Marx, tôi nghĩ rằng có thể mình đã đúng. Thế nhưng tại sao một nhà triết học lớn như GS Trần Đức Thảo vẫn bảo vệ Marx. Tôi không thể tưởng tượng được một người có trí tuệ siêu việt vẫn cho Marx đúng trong khi một người tầm thường như tôi cho Marx sai. Hay là tôi quá chủ quan, chưa thấy được chỗ ngu dốt của mình.
Thế rồi tôi đọc được sách “ TRẦN ĐỨC THẢO-NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI ” của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ( PNK), trong đó ở chương 14, nêu đích danh Marx là thủ phạm của những tội ác mà một phần nhân loại phải gánh chịu. Theo PNK , GS Thảo đang gấp rút hoàn chỉnh cuốn sách đã ấp ủ mấy lâu nay, cho rằng đó sẽ là cuốn sách cuối đời. Trong sách đó ông vận dụng triết học để chứng minh sai lầm và tội ác của Marx : PNK tường thuật lời GS Thảo, nói tại Nhà Việt Nam ở París vào ngày 12 tháng 4- 1993.:
“ Tôi tính ít ra cũng phải bốn tháng nữa thì mới có thể hoàn thành cuốn sách với kết luận hoàn toàn mới mẻ và khách quan về mặt triết học. Vì cũng phải lướt qua những bước biến đổi của xã hội, thông qua các giai đoạn phát triển của vật chất, của vũ trụ, trải nghiệm vấn đề môi trường bị tàn phá do phát triển… chứ không thể nhảy ngay tới kết luận giản dị là mọi sự xấu xa đã xẩy đến là do học thuyết sai lạc của Marx.. Thật là bi thảm cho một nhà triết học như tôi, khi đã quyết tâm cống hiến cả đời mình cho lý tưởng cách mạng vô sản. Nhưng rồi cuối cuộc đời, tôi mới khám phá ra rằng mình đã bị lạc hướng vào con đường cách mạng không tưởng, con đường độc ác, không lối thoát, mà Marx đã vạch ra”. ….. Khi cuốn sách này được xuất bản thì các anh sẽ thấy mọi nút thắt, mọi trói buộc, mọi sức ép sẽ được tháo gỡ ra cho bằng hết… để minh bạch vấn đề công tội trong lịch sử… Công của ai, tội của ai? Đấy là cách chuộc tội của Trần Đức Thảo này!” (*)
Đọc đến đây tôi nghĩ : Có thế chứ. Thế mới đúng là nhà triết học lớn chứ, cuối cùng ông đã nhận ra sai lầm của Marx và bản thân mình đã bị lạc hướng gần cả cuộc đời.
GS Thảo đột ngột từ trần vào ngày 24 tháng 4 năm 1993 tại Paris, sau khi tỏ ý định ra khỏi nhà khách sứ quán Việt Nam tại Pháp để đi tìm sự tự do. GS chết khi cuốn sách cuối đời chưa được công bố, nội dung cuốn sách vẫn còn nằm trong bí mật. Nghe đâu mọi bản thảo của nhà triết học được thu giữ, niêm phong, nộp cho cơ quan có trách nhiệm.
Năm 2016 cuốn sách “TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO – DI CẢO, KHẢO LUẬN, KỶ NIỆM” do Nguyễn Trung Kiên ( NTK ) sưu tầm và biên soạn được phát hành. Sách dày trên 1700 trang. Theo Tự bạch của người biên soạn thì NTK đã cùng Tiến sĩ Cù Huy Chữ ( là thành viên trong tổ thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) phân loại, hệ thống hóa hàng ngàn trang bản thảo mà nhà triết học để lại cho hậu thế. NTK không nói rõ trong các trang bản thảo có bao gồm “ Cuốn sách cuối đời chưa viết xong” của GS hay không vì không thấy đưa vào Di cảo nội dung nào tương tự như các ý đã nêu trên đây trong trích dẫn (*). Trong Di cảo có trình bày tác phẩm được cho là cuối cùng của GS là : “SỰ LÔGIC CỦA THỜI HIỆN TẠI SỐNG ĐỘNG”, được viết vào đầu năm 1993.
Trong tác phẩm đó cũng không thấy bóng dáng của ý tưởng phê phán Marx. Tôi đã cố tìm trong hơn 1700 trang của cuốn sách xem có chỗ nào trình bày quan điểm của Trần Đức Thảo phê phán Marx hay không. Tôi chưa tìm thấy.
Như thế là thế nào. Đến cuối đời GS Thảo đã nhận ra chỗ sai của Marx hay chưa nhận ra, vẫn bảo vệ Marx. Đối với tôi đó là nghi vấn lớn. Khi tin vào sách của NTK thì phải nghi ngờ PNK và ngược lại. Nếu tin vào PNK , tin vào NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI thì thấy NTK mới chỉ nêu lên một phần của sự thật, mặc dầu phần đó chiếm trên 90% thời gian hoạt động của GS Thảo nhưng lại không chứa đựng bản chất. Tôi băn khoăn, đề ra 3 giả thuyết : 1- Chương 14 của Những lời trăn trối là bịa đặt của PNK ; 2- Chương 14 là trung thực nhưng NTK, TS Chữ không hề biết vì GS Thảo chỉ mới nói mà chưa viết ra, hoặc có viết nhưng tài liệu liên quan đã bị che giấu ; 3- NTK và TS Chữ có biết rằng : “ cuối cuộc đời, GS Thảo mới khám phá ra rằng mình đã bị lạc hướng vào con đường cách mạng không tưởng, con đường độc ác, không lối thoát, mà Marx đã vạch ra”, nhưng không dám trình bày. Tôi tạm nghiêng về giả thuyết 3 và xin có đôi lời :
Bạn Nguyễn Trung Kiên thân mến. Quyển sách do bạn sưu tầm, biên soạn được nhiều học giả có tên tuổi đánh giá cao, nó giống như một tượng đài lớn được dựng lên, một chân dung lớn được thể hiện. Nhưng giá trị đích thực của tượng đài hoặc chân dung không ở quy mô to lớn mà ở thần khí toát ra từ đó. Khi quan sát “Tượng đài Triết gia Trần Đức Thảo” do bạn dựng nên, tôi thấy một bóng mờ của triết gia lớn ( vì tôi không phải là triết gia ) và thấy rõ một con người bảo vệ học thuyết Marx. Đây có thể là cố ý của bạn hoặc do vô tình tạo ra như vậy. Điều này có lợi cho những ai muốn duy trì, kiên định Chủ nghĩa Mác- Lênin ( CNML), họ nấp vào cái bóng đó để tiếp tục lừa dối thiên hạ. Ngược lại điều đó gây tác hại cho phong trào vận động dân chủ đang dùng thực tiễn và lý luận để chứng minh những sai lầm của CNML, đang muốn thay đổi thế chế.
Tôi viết nghi vấn trên đây là dựa vào ý 15 trong Tự bạch của người biên soạn.
Một nghi vấn nữa là cái chết của GS Thảo. Theo sách Triết gia Trần Đức Thảo…, nguyên nhân gần gây ra cái chết của GS là cú vấp ngã ở cầu thang, tạo nên một số chấn thương.
Theo PNK : “ Bác Thảo hằng ngày vẫn có nếp ăn uống rất tinh khiết, không bao giờ ăn thức ăn cũ. Vậy mà ngay xẩm tối hôm thứ năm ấy, bỗng bác bị “thượng thổ, hạ tả” như bị trúng độc: vừa nôn mửa vừa đại tiện tràn lan đến mệt lã đi”.
Sau đó GS được đưa vào phòng, tắm rửa, nghỉ ngơi. Khi xe cấp cứu đến, bác sĩ của toán cấp cứu hỏi, cán bộ sứ quán trả lời :
– Trước đó bệnh nhân đã làm gì để rồi rơi vào hôn mê?
– Ông ta trước đó, đã bị ngất xỉu rồi bị té ở cầu thang!
– Bị ngất xỉu đến té ngã như vậy, sao không thấy thương tích gì trên người?
– Cái đó thì tôi không rõ, nhưng ông ta cũng đã cao tuổi rồi và rất yếu.
Vậy cú vấp ngã ( té ) đóng vài trò gì trong cái chết của GS. Mà rồi không thấy nói gì đến việc khám nghiệm tử thi trước lúc hỏa táng.
Những nghi vấn trên tôi chỉ có thể nêu ra để người nào, cơ quan, tổ chức nào có điều kiện và trách nhiệm tiến hành điều tra, tìm ra sự thật. Nếu điều tra, chứng minh được những điều trong sách của PNK “Trần Đức Thảo- Những lời trăn trối” là bịa đặt thì phải công khai cho nhiều người biết để khỏi bị mắc lừa. Còn nếu như nội dung sách của PNK là trung thực thì sách của NTK, tưởng rằng đề cao được GS Thảo nhưng thực chất đã làm cho nhiều người không biết được đúng tư tưởng của ông vào cuối đời và sự phản tỉnh của ông, cuốn sách vừa đề cao, vừa làm nhục ông. Câu cuối cùng trong Lời giới thiệu cuốn sách, Nguyễn Trọng Chuẩn viết : “ Cũng chắc chắn là Trần Đức Thảo còn là một hiện tượng triết học cần được tranh luận trong thế kỷ XXI”. Phải chăng có ý ám chỉ đến các nghi vấn vừa nêu.
Ghi chú : Bài này tôi đã gửi cho NXB và tdthaopublish@yahoo.com để nhờ chuyển tới soạn giả Nguyễn Trung Kiên nhưng chưa nhận được hồi âm. Tôi hiện có 2 quyển sách nói đến trong bài, bạn nào muốn tham khảo xin báo tin và địa chỉ, tôi sẽ tìm cách gửi

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO (trích)

Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê

Unknown13

 Vào buổi chiều thứ ba 12 tháng tư, bác Thảo mang bài thuyết trình đã in bằng sao ảnh (photo copie) tới nơi thuyết trình là Nhà Việt Nam, để bán. Ít ai biết được rằng bác Thảo lúc ấy đang vô cùng lạc quan tin tưởng vào những gì bác sắp sửa công bố qua các buổi thuyết trình này. Bác từng vui vẻ tâm sự với chúng tôi rằng đây là những bước kết thúc cuộc hành trình đi tìm sự thật. Vì kể như bác đã truy ra thủ phạm của cái sai, cái ác trong cách mạng, trong ý thức hệ. Đấy “sẽ là một thành tựu trong cuộc đời và sự nghiệp triết học của Trần Đức Thảo”.

          Nhưng bất ngờ thay! Vừa bước tới trước “Nhà Việt Nam”, thì một nghịch cảnh quá tàn nhẫn đang chờ đợi bác! Tại đây anh Dũng, người trực phiên, nhưng lại đứng ở ngoài đường, chỉ vào hai cánh cửa cũ kỹ bị khóa bằng xích sắt để báo tin buồn: sứ quán ra lệnh đóng cửa Nhà Việt Nam để từ nay không cho bác Thảo tổ chức diễn thuyết ở đó nữa. Thính giả đành bỏ về. Nhưng một số bực tức đứng lại tranh luận, như muốn gây gổ, đấu khẩu với anh Dũng. Rồi vợ chồng bà Bình và ông Jacques tới. Đây là hai thính giả Việt kiều trung thành mà cũng là có vai vế kỳ cựu của Liên Hiệp Việt kiều, khi thấy cửa khóa, đã nổi nóng bẻ khóa, mở rộng cửa, lớn tiếng mời mọi người vào:

          – Nhà Việt Nam này là của Liên Hiệp Việt kiều, chứ có phải của sứ quán đâu mà sứ quán có quyền ra lệnh đóng cửa.

          Bác Thảo lắc đầu, chán nản rồi tỏ vẻ phẫn nộ. Bác cho biết vì đa số thính giả đã bỏ về, nên bác không còn hứng để thuyết trình nữa. Bác mím môi, mặt tái mét, trông rất bi thảm. Thấy vậy, anh Lê Tiến, một trong những người sáng lập hội thân hữu Trần Đức Thảo, kéo bác và tôi vào ngồi cạnh chiếc bàn nhỏ, trong gian phòng nhỏ sau hội trường để tìm lời an ủi. Trong căn phòng nhỏ ấy, tất cả trăn trở, nghiền ngẫm được giữ kín bấy lâu nay trong đầu, giờ đây, được bung trải ra minh bạch và thẳng thắn.  Rất may là tôi đã kịp thời ghi âm được một phần của đoạn chót. Bác Thảo lúc thì nói gay gắt, lúc thì đập tay xuống bàn để nhấn mạnh.

14

Nêu đích danh thủ phạm!

 Bực bội nói ra những lời trăn trối, trong đó tóm gọn sơ đồ cuốn sách đang trong nguy cơ không thể hoàn thành, bác Thảo giải thích:

          -Trong cuốn sách đó, tôi thẳng thắn đánh giá lại tư tưởng Marx khi soạn  ra phương pháp cách mạng đấu tranh giai cấp, dùng hận thù giai cấp đánh gục giai cấp tư sản, để xây dựng thế giới đại đồng với một xã hội không còn giai cấp bóc lột. Lénine, Staline, Mao, rồi Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành, Fidel Castro cho tới Pol Pot…mỗi con người ấy, ở vị trí lãnh đạo, đã tùy tiện khai triển cách mạng theo lời dạy của Marx. Qua những kinh nghiệm lịch sử ấy, cùng những di sản thảm khốc của nó, tôi đã giải mã Marx, Lénine, mao, Hồ Chí Minh, Pol…để chỉ  ra rằng ý thức cách mạng đã sai từ gốc, nghĩa là từ Marx!

          Đặc biệt là bác Thảo đã nhắc đi nhắc lại câu “Chính ông Marx sai”!

          –Chính tôi, trong những  bước đầu nghiên cứu, đã thấy giai đoạn mình tự nguyện làm môn đệ của Marx, sùng bái Marx, với tất cả lòng nhiệt thành của tuổi trẻ, là giai đoạn cuồng tín, cứ nghĩ mình phải một lòng đi theo Marx như một tín đồ tin theo vị chúa cứu thế trên con đường giải phóng con người khỏi sự bóc lột của giai cấp tư sản, tư bản. Bởi cuộc cách mạng này đã dựng lên cả một hệ thống chính trị chuyên quyền giam hãm, kìm kẹp con người. Hệ thống chính trị ấy lại còn bóc lột giai cấp lao động gấp bội phần so với sự bóc lột của giai cấp tư sản, tư bản. Mà quyền lực chuyên chính lại không cho phép công nông dân phản đối sự bóc lột ấy. Tại sao kỳ lạ vậy?

          – Nay già rồi tôi mới nhận ra là tất cả những sai trái ấy đều là do sự cuồng tín vào lý thuyết, vào ý thức hệ nên đã dẫn lối tới những bước quá trớn… Thế rồi các lãnh tụ, từ Lénine trở đi, đều đã tùy tiện theo cảm hứng mà suy diễn, mà đề ra những chính sách, những phương pháp triệt để, những hành động tuyệt đối, để rồi gây ra những tội ác của cách mạng!

          Khởi đầu, nhà tư tưởng đã tung ra một học thuyết thật hấp dẫn, thật là cuốn hút nhân loại, nhất là thành phần nhân loại lao động nghèo khổ… Nhưng rồi học thuyết ấy, ý thức hệ ấy đã làm khổ con người, đã nô dịch con người, đã phản bội con người và đã không hề giải phóng con người!

          – Cuốn sách của tôi chứng minh rõ rằng chính cái phần xây dựng mô hình thế giới đại đồng của Marx đã làm hỏng học thuyết. Trừ ra khi phê phán chủ nghĩa tư bản, Marx đã sử dụng những sự kiện đã xảy ra trong lịch sử đương đại, trong xã hội đương thời, để đả kích xã hội tư bản. Cách phân phán này có tính biện chứng duy vật sử quan không thể bắt bẻ. Nhưng bước qua phần lý luận căn bản để xậy dựng xã hội mới bằng cách nêu mô hình thế giới đại đồng mà mọi người mơ ước, thì Marx bắt đầu lúng túng trong biện chứng. Vì cái mô hình thế giới đại đồng ấy là không có giai cấp, không có bóc lột. Nó được coi là nền tảng của khái niệm, của ý thức “đấu tranh giai cấp”! Cái mô hình ấy, thật ra là chưa hề thấy, chưa hề có ở đâu đó trong lịch sử. Nó chỉ là một ảo tưởng, một mong ước sẽ có trong tương lai! Làm như vậy trong lý luận là Marx đã mang cái tương lai ảo ấy đặt nó lên trước hiện tại để dùng nó như một kinh nghiệm đã có, đã thấy…! Đấy là lối lý luận với một nền tảng siêu hình, đúng là thứ biện chứng của Hegel! Biện chứng đó không còn có chút gì là duy vật sử quan nữa.

          Từ khái niệm thế giới đại đồng tốt đẹp theo dự báo, do mong ước ấy, Marx đã biến nó thành ý thức cách mạng đấu tranh giai cấp, để hành động, để đạt tới thắng lợi, để xóa bỏ giai cấp bóc lột, để hoàn thành một xã hội không còn giai cấp! Viễn ảnh quá đẹp ấy là một kinh nghiệm ảo, một ý niệm siêu hình của một thứ thiên đường ảo chưa hề có trên trái đất. Trong mô hình ảo ấy, giới công nông được giải phóng, được làm chủ chính mình! Từ kinh nghiệm ảo mơ ước ấy, Lénine khai triển một chủ nghĩa xã hội mới, bằng cách khơi dậy hận thù giai cấp để làm động lực đấu tranh của giai cấp vô sản, làm đòn bẩy để hoàn thành cuộc cách mạng, tạo ra sự đổi đời với một hệ thống giá trị mới của giai cấp công nông! Với một đảng cầm quyền “là đại diện cho giai cấp công nông”, tức là “đảng Cộng sản”. Vậy là cách mạng đạt tới một chế độ mới, một nhà nước mới theo một chủ nghĩa xã hội mới. Trong chế độ mới ấy, “sẽ” không còn cảnh người bóc lột người vì quyền tư hữu đã bị bãi bỏ, thay thế nó bằng quyền sở hữu tập thể. Đặc điểm là tập thể sở hữu tư liệu sản xuất! Nghe lý luận như vậy, công nông nào mà không mê!

          Như vậy là khi cách mạng thành công, giai cấp công nông sẽ sống và làm việc một cách sung sướng: vì mình sẽ không còn bị bóc lột, mình sẽ làm chủ! Con người từ đây được giải phóng! Sung sướng thay! Phấn khởi thay cái xã hội không còn giai cấp “sẽ” thành hình trong tương lai! Lời hô hào “vô sản thế giới hãy đoàn kết lại!” đã vang dậy khắp trái đất. Rồi vang lên khúc ca: “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian”.! Nó đã thôi thúc giai cấp bị bóc lột đứng dậy, quyết tâm vùng lên tiêu diệt giai cấp tư sản! Hoan hô con người mới xã hội chủ nghĩa, là con người vô sản chân chính! Lúc đó, các dân tộc đều là anh em một nhà. Và toàn thế giới sẽ là một tổ quốc vô sản duy nhất! Hoan hô tinh thần vô sản quốc tế! Hoan hô xã hội mới trong đó “mọi người sẽ làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu”! Sáng kiến của Marx lập tức bùng lên như một ngọn đuốc trong đầu mọi giới lao động! Đây chính là con đường vinh quang, con đường cứu rỗi của cả nhân loại.

          Cả thế giới đã bị lung lạc vì luồng tư tưởng mới đầy hứa hẹn này; với niềm hy vọng tràn trề của nhân dân lao động, với lòng căm thù “giai cấp bóc lột” sôi sục trong đầu. Người người đều muốn đứng lên phá tan xiềng xích của xã hội tư bản!

          Rồi bác Thảo lắc đầu giải thích, trong nước mắt:

          – Biến khái niệm, biến học thuyết “đấu tranh giai cấp” chống bóc lột thành ý thức cách mạng. Lấy hận thù giai cấp làm nền tảng phát động một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn cầu. Đấy là một phát minh ý thức hệ vô cùng sắc bén và tinh vi! Bởi nó có một sức bùng phát phi thường, nhờ đánh thức dậy trong con người bản năng bạo lực của thời còn là muông thú, khi khơi dậy tâm lý hận thù! Lý thuyết cách mạng lấy hận thù giai cấp làm động lực, lấy ý chí tiêu diệt giai cấp bóc lột làm vũ khí! Không cần lý luận sâu xa, chỉ nghe sơ qua lý thuyết ấy, bất cứ người dân cùng khổ nào cũng tin như thế là đúng, như thế là sẽ thắng, sẽ đại thắng!

          Với niềm tin tất thắng, ai cũng có thể tưởng tượng ra đủ thứ kết quả tốt đẹp…Để rồi cuồng tín đến độ sung bái ý thức hệ ấy như là một thứ thánh kinh, “đảng” trở thành linh hồn của cách mạng, là “hội thánh”, lãnh tụ là vị giáo hoàng! Khát vọng phát triển cuộc cách mạng xã hội theo ý thức hệ ấy làm cho con người sẵn sang hi sinh tất cả cho nó! Vì nó!

          Thế nhưng cho tới nay, những ai, đã từng sống cả cuộc đời trong sự vận hành cách mạng do Lénine phát động, do Staline triệt để khai thác, do Mao hò hét vận động…đều đã thấy rõ kết quả tồi tệ của một tổ chức mang danh “đảng của giai cấp công nông”, là một nhà nước chuyên chính vô sản cầm quyền… Tất cả mọi người đã được thấy tận mắt, đã được tận tay tham dự vào công cuộc xây dựng “con người mới xã hội chủ nghĩa” là như thế nào! Thực tế là tất cả đã nhận ra một cách khách quan và đau đớn rằng việc xây dựng xã hội mới ấy gây ra quá nhiều vấp váp, phạm quá nhiều tội ác, vì đã trắng trợn dẫm lên quyền sống của con người, đã trói buộc, giam hãm con người. Kết quả là con người trong công cuộc đấu tranh giai cấp, khi kết thúc, thì nó đã không hề được giải phóng! Đau đớn hơn hết là trong thực tại, con người lao động vẫn còn bị bóc lột! Trong xã hội mới này, thành phần công nông vẫn chỉ là thành phần thiệt thòi nhất!

          Kết quả là “thế giới đại đồng” ấy đã không hiển hiện trong một chế độ xã hội chủ nghĩa nào cả! Sau này thì “cuộc cách mạng long trời lở đất ấy” đã lộ ra cái bản chất vừa ngu tín, vừa cuồng tín! Và bộ mặt thật của ý thức hệ ấy là đã dụng cụ hóa, đã nô lệ hóa con người bởi đủ thứ kìm kẹp, giam hãm, tuyên truyền xảo trá, chứ chẳng phải là đã giải phóng con người! Con người lao động đã chẳng hề được làm chủ, kể cả làm chủ bản than mình. Vì mình cũng là của…”đảng”!

          Vì trong thực tại của xã hội chủ nghĩa mới, vẫn còn giai cấp bóc lột. Đó là giai cấp chuyên chính, chuyên quyền của đảng cộng sản cầm quyền! Đó là giai cấp tư sản đỏ phát sinh từ tinh thần vô sản vùng lên đấu tranh cướp lại quyền lực trong tay giai cấp tư sản thống trị! Lớp người vô sản vùng lên cướp đoạt chính quyền, đồng thời nó cũng đã cướp đoạt tài sản của giai cấp tư sản để tự nó trở thành một nhà nước tham lam sở hữu toàn bộ đất đai, toàn bộ tư liệu sản xuất, nắm toàn bộ guồng máy quản lý xã hội, vừa nặng tính chuyên quyền, vừa toàn quyền lũng đoạn kinh tế! Trước mắt giờ đây, là một nhà nước tư bản đỏ độc quyền bóc lột kiểu mới, mang danh hiệu là “chế độ dân chủ nhân dân”, được quảng bá là “dân chủ gấp ngàn lần dân chủ tư sản”! Mà rồi mãi sau này người ta đặt cho chế độ ấy, cho thời ấy một cái tên có tính khinh thị là “Chế độ bao cấp! Thời bao cấp!”

          Đặc biệt là ngay ở trong chế độ “vô sản” này, con người vô sản ở khắp nơi, đều tỏ ra vẫn giữ nguyên bản năng hữu sản! Họ gậm nhấm, xâm chiếm của công, cướp đoạt tài sản của tập thể, của kẻ yếu, cướp đoạt đất đai của nông dân… làm của riêng. Tư hữu kiểu cũ do làm ăn cần cù, do tích lũy lâu dài mà có được, nay đã bị xóa bỏ. Thay thế nó nay là tư hữu kiểu mới do chiếm đoạt bằng chữ ký của quyền lực, hoặc do móc ngoặc với quyền lực. Con người vô sản cầm quyền nay tha hồ bòn mót của công, cướp đoạt của tư, để tạo cho mình một tài sản vừa nhiều, vừa nhanh! Vì cái gì cũng là của chung, đặt biệt là “đất đai là sở hữu của toàn dân”, nên ai cũng nghĩ rằng toàn dân có quyền nhúng tay vào cái sở hữu chung ấy! Bởi là của chung nên, trong thực tế, nó không được bảo vệ như của riêng. Rừng, núi, song ngòi, ao hồ…bị con người mới trong xã hội vô sản mới ấy phá phách, lấn chiếm vô tội vạ! Con người vô sản đã tỏ ra là con người tham lam, phá phách, gậm nhấm, xâm chiếm những gì là của chung bất kể luật pháp! Vì là của chung nên ai cũng nghĩ là mình cũng có quyền xâm phạm, nhưng không thấy có nhiệm vụ phải bảo vệ, bảo trì! Trong thực tế trước mắt, con người vô sản có quyền hành, luôn luôn phấn đấu để chiếm hữu một cách rất tự nhiên của cải của xã hội, để trở thành nhà tư sản kiểu mới. Đấy là thứ tư sản đỏ, do tham nhũng, do hối mại, quyền thế mà có: họ chia chác tài sản tập thể của xã hội cho gia đình, họ hàng, cho đồng chí, đảng viên, bằng chữ ký của quyền lực trong tay họ!

          Khi thấy của công, của tập thể bị xâm phạm, người ta không có phản ứng quyết liệt và nghiêm chỉnh như khi thấy sự xâm phạm của tư! Thói thường của xã hội, và nay đã thành một thứ tư duy phổ biến, một suy nghĩ tự nhiên rằng “lấy của tập thể, lấy của nhà nước không phải là ăn cắp”! Vì đấy là của chung!

          Marx đã không ngờ rằng một giai cấp tư bản đỏ sẽ ra đời ngay trong xã hội xã hội chủ nghĩa như thế.  Giai cấp tư bản đỏ ấy đã phát triển một cách lộng hành, nó xâm chiếm, nó cướp đoạt vừa nhiều, vừa trắng trợn, gấp bội lần thứ tư bản tư sản cổ điển! Một điều khủng khiếp nữa mà Marx không thể ngờ  là bởi tham lam, quyền lực và quyền lợi, chính các lãnh đạo trong “đảng”, cũng đã trắng trợn triệt hạ nhau, qui chụp cho nhau những tội lỗi tày trời để diệt nhau, để tranh nhau địa vị, để được sống đế vương trên đầu nhân dân, để rồi tìm cách truyền ngôi, truyền gia tài cho con cái!

          Thực tại cho thấy trong xã hội mới “xã hội chủ nghĩa”, các phe cánh vô sản kình chống nhau. Trong khi đó, gia cấp công nông vẫn còn bị bóc lộc, thật là trái ngược với biện chứng và hứa hẹn của Marx! Và kẻ bóc lột đây lại là những người của “đảng”, của nhà nước, một nhà nước nắm toàn bộ vốn liếng, tư liệu sản xuất và mọi hình thức sinh hoạt khác trong xã hội, nhất là về mặt kinh tế! Trong thực tế, tất cả mọi thứ, từ đất đai cho đến con người, tất cả đều là “của đảng”! Các cá nhân, hội đoàn, các thành viên của nhà nước, các định chế như tòa án, viện kiểm soát, các tổ chức tập thể…tất tật cả đều phải thề trung thành với “đảng”! Trong chế độ vô sản nay có một ông chủ toàn quyền, toàn năng! Bởi nay “đảng” là ông chủ lớn nhất, duy nhất, sở hữu tất cả, từ vật chất tới tinh thần! “Đảng” đứng trên hết mọi quyền lực, trên cả công lý! Và “đảng” tự tuyên xưng “đảng” là nhân dân! Những ai chống lại “đảng” là chống lại nhân dân! Cụm từ “nhân dân” từ đây là nhãn hiệu độc quyền của nhà nước cộng sản!

          “Đảng” còn ngang nhiên tuyên bố: “Yêu xã hội chủ nghĩa là yêu nước”!

          Quan sát những hiện tượng đã xảy ra trước mắt, ngay tại Hà Nội sau 1954, và nhất là tại Sài Gòn sau năm 1975, là những nơi chế độ tư bản, tư hữu kiểu cũ đã bị đánh gục bằng bạo lực cách mạng, người dân bừng tỉnh và kinh ngạc trước hiện tượng phát sinh và bành trướng một tư bản đỏ: chưa bao giờ thấy xuất hiện những đảng viên cao cấp, cùng phe cánh, đã trở thành những nhà giàu mới, vơ vét nhiều và nhanh đến thế. Những cơ ngơi bất động sản khổng lồ đã lọt vào tay “giai cấp tư sản đỏ”, nó thống trị một cách trắng trợn, như chưa từng thấy ở đất nước nghèo nàn, lạc hậu này. Mà những cơ ngơi và vốn liếng của giai cấp mới ấy đã được đánh giá hàng bao nhiêu tỉ đô-la Mỹ!

          Đó là những hiện tượng kinh khủng mà Marx đã không hề tiên liệu.

          Sai lầm cơ bản của lối lý luận ấy là đã mang cái mô hình ảo của tương lai, đặt nó lên trước hiện tại, coi nó như là kinh nghiệm lịch sử. Thế là từ một học thuyết mơ hồ, siêu hình ấy, Lénine muốn suy diễn ra sao cũng được, Staline cũng mặc sức tùy tiện khai triển nó, rồi đến Pol Pot lại càng tùy tiện khủng khiếp hơn nữa!

          Rồi bác Thảo nhấn mạnh:

          – Tôi ra đi kỳ này, là với dự tính đi Paris để công bố, trong cuốn sách, những lý luận chứng minh sự sai lầm bắt đầu từ lý luận siêu hình của Marx, rồi từ đó bước tới sai lầm trong phương pháp hành động dùng hận thù làm đòn bẩy, để từ đó tùy tiện xúc phạm quyền sống của con người.

          Thế nhưng trong sáu tháng vừa qua tại Paris, sau những trao đổi với vài nhà tư tưởng tiến bộ hiện đại, trong đó đáng kể nhất là những góp ý của giáo sư Boudarel, thì tôi đã đẩy lý luận truy lùng thủ phạm gây ra “sai lầm và tội ác” ấy tới điểm tột cùng: chẳng những sai lầm do lý luận, do phương pháp hành động, mà trước cả những điểm đó là sai lầm của khái niệm, của học thuyết, của ý thức “đấu tranh giai cấp”! Đó là cái gốc của mọi sai lầm, cái gốc của mọi hành động quá trớn, cái gốc của bế tắc. Vì đấu tranh giai cấp để xóa bỏ giai cấp bóc lột, nhưng rồi lại nảy sinh một giai cấp bóc lột mới. Chính cái học thuyết, cái ý thức “đấu tranh giai cấp” ấy đã dẫn tới tình trạng con người vẫn bị bóc lột. Và con người không hề được “cách mạng” giải phóng.

          Ý thức đã sai vì nó kìm kẹp con người, dụng cụ hóa con người. “Con người mới” ấy đã bị chủ nghĩa cuồng tín (fanatisme) và chủ nghĩa ngu tín (obscurantisme) xỏ mũi lôi vào con đường của giáo điều, theo một thứ “tín ngưỡng cộng sản”…Vì thế trên đường đấu tranh giai cấp để đi tới tương lai và hạnh phúc, nhưng cứ đi hoài mà không bao giờ tới đích! Đấy là thảm kịch lớn nhất của thế kỷ 20, tức là của chình chúng ta. Tác giả của học thuyết, của ý thức hệ ấy chính là ông Marx. Chính Marx là thủ phạm đã gây ra mọi sai lầm và tội ác!

          Diễn giải như vậy rồi bác Thảo than thở:

          – Tôi tính ít ra cũng phải bốn tháng nữa thì mới có thể hoàn thành cuốn sách với kết luận hoàn toàn mới mẻ và khách quan về mặt triết học. Vì cũng phải lướt qua những bước biến đổi của xã hội, thông qua các giai đoạn phát triển của vật chất, của vũ trụ, trải nghiệm vấn đề môi trường bị tàn phá do phát triển…chứ không thể nhảy ngay tới kết luận giản dị là mọi sự xấu xa đã xảy đến là do học thuyết sai lạc của Marx.

          – Thật là bi thảm cho một nhà triết học như tôi, khi đã quyết tâm cống hiến cả đời mình cho lý tưởng cách mạng vô sản. Nhưng rồi cuối cuộc đời, tôi mới khám phá ra rằng mình đã bị lạc hướng vào con đường cách mạng không tưởng, con đường độc ác, không lối thoát, mà Marx đã vạch ra.

          Để gò ép con người phải chấp nhận cái phương pháp xây dựng không tưởng này, các đảng cộng sản cầm quyền đã phải dùng tới chính sách tuyên truyền dối trá: “cứ nói hoài thì người ta phải tin!” Rồi dùng những phương pháp khủng bố tinh thần bằng cái sợ trước bạo lực, trước những trừng trị, tù đày và tử hình hàng loạt mà không cần xét xử bằng tòa án…Vì “cái sợ sẽ chi phối cả suy tư lẫn hành động”!

          Xét cho cùng thì thủ phạm gây sai lầm cơ bản ấy không phải là Lénine, không phải Staline, hay là Mao. Cũng không phải là Pol Pot…vì tất cả những nhà “lãnh đạo dân tộc” ấy đều có ý thức hệ mác-xít dẫn lối, do “đảng” nhào nặn ra… tất cả đều do một “thiện ý” (!) muốn xây dựng một xã hội không giai cấp như Marx đã chỉ ra, để cho loài người được hưởng thứ thiên đường không giai cấp của giới vô sản trên trái đất!

          Phải thẳng thắn mà ghi nhận rằng cho tới nay, chỉ có một cuộc cách mạng duy nhất đã thực hiện được đúng một hình thức xã hội không giai cấp mà Marx mơ ước. Đó là một chế độ vô sản, một xã hội không có tư hữu, không có tiền tệ để dùng làm dụng cụ bóc lột… Đó chính là cuộc cách mạng mà Pol Pot đã xây dựng tại Campốt sau năm 1970. Trong suốt những năm tồn tại của chế độ Pol Pot, các chế độ xã hội chủ nghĩa khác đã im lặng đồng tình, đồng ý, vì tin là trong chế độ Pol Pot ấy thật sự là chỉ có giai cấp vô sản. Vì thế lúc ấy, không một nước xã hội chủ nghĩa nào đã dám lên tiếng phê phán, bắt bẻ để phản biện lại cuộc cách mạng của Pol Pot! Kể cả Liên Xô, Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc đã ủng hộ nó triệt để, và cả Việt Nam cũng đã nhìn nhận chế độ ấy! Tất cả khối xã hội chủ nghĩa và nhiều nước trên thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc, cũng đã nhìn nhận chế độ của Pol Pot, trong suốt mấy năm nó tồn tại! Đấy là một thử nghiệm cụ thể cao nhất của tư tưởng Marx trong công cuộc cách mạng vô sản. Nhưng…

          Nhưng cho tới cuối năm 1977, khi Pol Pot bắt đầu công khai gây căm thù mang tính chủng tộc với Việt Nam, coi người Việt là kẻ thù của người Khmer, và bắt đầu thực thi chính sách phân biệt chủng tộc để bài xích, rồi sau là gây xung đột ở biên giới với Việt Nam, thì chính quyền xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội mới xua quân đánh chiếm thủ đô Phnom Penh, và áp đặt ở đó một chế độ xã hội chủ nghĩa theo kiểu thông thường của khối “xã hội chủ nghĩa”, mà ở đó vẫn còn mâu thuẫn giai cấp, vẫn còn mầm mống tư sản bóc lột…Lúc đó người ta mới dám phát giác chế độ Khmer đỏ của Pol Pot là chế độ diệt chủng đẫm máu. Dù sao thì đấy cũng là chế độ thuần túy vô sản duy nhất đã thành hình trên trái đất! Tuy nó đã là một chế độ của tội ác không thể tha thứ!

          Thủ phạm, kẻ gợi ý, kẻ chuyển lửa của niềm tin đấu tranh giai cấp cho các nhà lãnh đạo, trong đó có cả Pol Pot, để đi vào con đường cuồng tín đến đẫm máu ấy chính là Marx! Lời tiên tri sẽ “xóa bỏ giai cấp” của Marx đã mê hoặc nhiều thế hệ. Và họ đã lao mình vào tội ác! Tại những nước đã có chính quyền vô sản triệt để “của giai cấp công nông” (Sự thực là của “đảng” cầm quyền, của nhà nước do đảng cộng sản nắm giữ), chính giai cấp công nông trong thực tại các chế độ ấy đã bị bóc lột và đàn áp một cách vô tội vạ! Vì đã không còn được ai bảo vệ, nên giai cấp công nông đã ngậm ngùi nguyền rủa Marx, coi Marx là một nhà tiên tri khốn nạn, đã lừa đảo, lấy cái khát vọng thế giới đại đồng không có bóc lột làm bả lừa dối công nông!

          Cách mạng ta đã hứa với dân rằng: “đảng” là đày tớ của nhân dân, lo trước, vui sau dân”. Nhưng mặt trái của lời hứa ấy là “đày tớ” nay đã giành hết đặc quyền, đặc lợi, ngang nhiên vui sướng trên đầu nhân dân! Tình trạng này vẫn còn kéo dài dài cho tới nay. Đó là một chính sách hết sức trơ trẽn, chướng mắt, công khai, trong thời buổi khó khan, mà “đảng” giành hết đặc quyền, đặc lợi cho cán bộ đảng viên cao cấp, cho các “diện” thuộc “gia đình cách mạng”! Người trong gia đình của “đảng”, của quan chức cách mạng thì được ưu tiên sống no ấm, được mua hàng tốt, hàng ngon ở cửa hàng riêng (Nổi tiếng đã đi vào ca dao là chợ Tôn Đản ở Hà Nội). Chết thì được chôn tại nghĩa địa riêng! (Nghĩa trang Mai Dịch). Con cái của “đảng” thi đi thi được ưu tiên cho điểm cao, được ưu tiên vào học trong các trường tốt…Được ưu tiên nhận học bổng du học nước ngoài!

          Thực tế là nhà nước tư sản cứ tùy tiện tiêu xài công quỹ, cấp phát bừa bãi đất đai để phục vụ riêng cho phe, cánh của “đảng”, cứ thực thi chính sách tiêu xài hoang phí ấy rất tự nhiên, coi đấy là “công bằng xã hội”! Vì bao công lao đi tới chiến thắng là do “đảng”! Khi dân chúng tỏ ra công phẫn thì “đảng” hứa sẽ sửa sai, sẽ đọc lại Marx để sửa sai…Nhưng rồi vẫn cứ mang ông Marx ra làm bình phong…

          Đến nay tôi phải thành thật thú nhận là mình đã một thời đam mê, mù quáng coi Marx là người dẫn đường không bao giờ sai lầm! Giờ đây thì phải thoát ra khỏi sự u mê, bằng cách chứng minh, lý giải, theo phương pháp triết học, qua một “lô-gích vừa biện chứng, vừa hình thức”, để hiểu rõ tại sao sai, sai lầm đã bắt đầu từ đâu, từ khâu nào, vào lúc nào và do ai!

          -Thật là nhục nhã cho sự ngu tín ấy, vì trong thế giới ngày nay, phần lớn nhân loại đã biết sống theo ý thức sinh tồn, theo lương tri của trực giác, với khả năng thực tế nghiệm sinh, biết phân biệt thiện ác, đúng sai. Con người đã biết sống theo luân thường đạo lý tự nhiên, do truyền thống tổ tiên, ông bà truyền dạy, mà không cần học tập, lý luận theo một chủ nghĩa hay một ý thức hệ chuyên chính nào cả.

          Thực tại cho thấy không một ai muốn phấn đấu để trở thành con người vô sản, không một ai bằng lòng với cuộc sống trong chế độ kinh tế nhà nước độc quyền, qua sự phân phối hách dịch như bố thí bởi tập thể. Phải xếp hàng cả ngày để mua những thứ hàng rất tồi vế phẩm chất, rất hạn chế về số lượng, thường thiếu hụt về cân, đo, tại các cơ quan “mậu dịch” nhà nước. Vậy mà cứ tuyên truyền đề cao “mậu dịch là bà nội trợ đảm đang của xã hội”, coi đấy là công ơn nuôi dân của “bác và đảng”! Thật ra là ai cũng muốn phấn đấu để thoát ra hoàn cảnh vô sản túng thiếu như thế, để trở thành con người hữu sản, có quyền tư hữu, quyền sống, quyền tự do sản xuất, tự do kinh doanh! Dân giễu gọi chế độ bao cấp và hạn chế đó là chế độ Xếp Hàng C Ngày!

          Vả lại chính lãnh tụ các đảng cộng sản cầm quyền, cũng sống theo bản năng của những con người đại tư sản, với sự hưởng thụ những đặc quyền, đặc lợi. Họ dẫm lên chủ nghĩa tập thể mà sống, nhưng họ bắt dân phải tôn thờ chủ nghĩa ấy! Tư duy cách mạng đâu phải là làm như vậy! Vô sản gì cái lũ gian dối, tham lam ấy! Công nông gì cái lũ cán bộ mang bản chất nhà giàu kếch sù, ưa sống xa hoa hỗn xược ấy! Chúng chỉ là những tay chính trị gian tà quỷ quái, tận dùng thủ đoạn dối trá, đội lốt công nông, để giữ chuyên quyền chính trị chop he, cho “đảng” và cho chính chúng mà thôi.

          Rồi Thảo thành thật thú nhận:

          Phát động hận thù giai cấp là đã đẩy lùi con người trở về với bản năng muông thú, phải cắn nhau để giành ăn ở thời nguyên thủy, dù là nói “để tạo niềm tin tất thắng”! Lý thuyết đấu tranh giai cấp ấy trong thực tế là một sự phản tiến bộ, phản văn minh, văn hóa. Trước đây, vì tuyệt đối tin vào Marx mà tôi cứ lúng túng, cứ luẩn quẩn trong lý luận, cứ lẫn lộn trong mấy bậc phủ định, để tránh phủ định ông Marx! Vì tin rằng nếu có sai lầm là do mình, chứ ông Marx không thể nào sai! Nay tôi thấy phải can đảm, phải khách quan mà phân tích kỹ lại tất cả, qua sự hiểu biết về vận động của sự kiện thời gian hóa (mouvement de la temporisation), bằng cách soạn ra một cuốn sách, để cho thấy con người và xã hội đã biến thái tồi tệ như thế nào trong ý thức “đấu tranh giai cấp”. Và rồi sau này còn cần có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá thật khách vô tư khác nữa về những tiết lộ của lịch sử, từ các hồ sơ mật, cất giấu kỹ trong các kho lưu trữ của các đảng cộng sản cầm quyền nữa, để cho nhân loại thấy rõ cái tầm tác hại vô cùng, vô tận của ý thức hệ “đấu tranh giai cấp” ấy.

          Với vẻ mặt buồn bã, sầu thảm, vì thấy rõ rằng mình đã là kẻ đồng lõa, là kẻ đã đồng hành với tội ác trong một thời gian quá dài, đã gây quá nhiều đau khổ cho con người, bác Thảo lắc đầu thở dài:

          – Khổ thế đấy! Làm cách mạng dân tộc để giành độc lập là đúng quá rồi, là đẹp quá rồi! Nhưng lại đem ông Marx vào! Chỉ vì muốn xây dựng cho bằng được cái thế giới đại đồng không tưởng ấy mà các đảng cộng sản và các môn đệ của Marx đã phải dùng đủ thứ phương cách, đủ thứ thủ đoạn nham hiểm, tồi tệ…Bởi biết rằng dùng thủ đoạn là xấu, là ác, là tội nên cứ phải che giấu, cứ phải bóp méo sự thật để tô hồng, rồi từ đó rất sợ phản biện, rất sợ đối lập, rất sợ tự do báo chí, nghĩa là rất sợ những định chế bảo vệ sự thật, sợ tất cả những ai đã nhìn thấy và muốn nói ra sự thật! Người lãnh đạo ngay thẳng, một chế độ trong sạch, tôn trọng sự thật, tôn trọng công lý thì đâu có lý do gì mà sợ những quyền dân chủ tối thiểu ấy.

          – Giờ đây, “đảng” đành phải ngả hẳn sang kinh tế thị trường của khối tư bản. Chính sách ấy thật ra là mang tố chất phản cách mạng xã hội. Làm như vậy chỉ cốt để chế độ và “đảng” tồn tại… “Đảng” vẫn phải nói vớt vát rằng đó là “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, tức là vẫn còn phải mang ông Marx ra làm bình phong! Nhưng khốn nỗi chính ông Marx cũng đã sai! Tôn thờ ý thức hệ mác-xít là duy trì tư duy sai lầm từ cái gốc tổ tông của cách mạng, nghĩa là từ Marx! Nói kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nói dối, là vẫn mang thứ biện chứng không tưởng, siêu hình của “Marx” ra để bảo vệ chính sách “đổi mới”, một chính sách đã bước ra ngoài hệ thống tư tưởng mác-xít…

Sự thực ở ta, nay không phải là đang áp dụng chính sách “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, mà thực tế là ta đang thi hành thứ “chủ nghĩa xã hội theo định hướng kinh tế thị trường”! Nghĩa là ngày nay “đảng” vẫn duy trì hình thức cai trị của chế độ chuyên chính, nhưng là theo một thứ chủ nghĩa tư bản mới rất tàn nhẫn, nhưng vẫn là thứ lý luận của xã hội chủ nghĩa. Thứ chủ nghĩa tư bản mới dã man này ở Mỹ không có. Vì ở đó, dân có quyền của dân, dân được phép phê phán, thay đổi đảng cai trị không vừa ý dân, bằng lá phiếu. Còn ở nước ta, thực sự là sự “đổi mới” này, là đang theo một thứ chủ nghĩa tư bản rất mới so với thời bao cấp trước đây, nghĩa là nay cái gì cũng bị coi là hàng hóa, cái gì cũng có thể rao bán: từ lý thuyết, nghĩa vụ, từ con người, từ trẻ thơ tới thanh niên, phụ nữ, cái gì cũng có thể bán, bán cả tài nguyên, cả đất đai, lãnh thổ, cả sức lao động cho nước ngoài, cốt để thu đô-la về!… Vì tất cả đối tượng đều được coi là hàng hóa để kinh doanh buôn bán, để sinh lợi nhuận… Vì thế mà trong thực tế, nay đồng đô-la Mỹ đang làm chủ nước ta! Độc hại của sự định hướng theo kinh tế thị trường này là đã coi các nghĩa vụ cao quí, thiêng liêng nhất như giáo dục để phát triển con người, như ý tế để cứu chữa con người… thì nay những nghĩa vụ đó cũng đều là hàng hóa, cũng phải chịu luật hoạch toán kinh tế, cũng phải tính lời, tính lỗ. Do vậy mà nghĩa vụ, chức năng thiêng liêng, thuần túy phục vụ con người, nay đã hoàn toàn bị phá sản. Phát triển xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường như hiện nay là sự thống trị của tư bản man rợ, là một sự phá hoại tinh thần về mọi mặt, từ lương tri tới lý tưởng, từ trật tự kỷ cương tới truyền thống văn minh, văn hóa của tổ tiên… Tất cả nay đều bị đồng đô-la lũng đoạn, hoạch định, xỏ mũi đi vào một cuộc sống cuồng nhiệt quá trớn. Bây giờ là thời tự do sa đọa, tự do chui luồn luật lệ. Để cho giới trẻ mặc sức bị cuốn hút theo lối sống phù phiếm, sống cuồng, sống vội, sống giả. Và cứ tưởng thế là văn minh, là hiện đại, ai ngờ đó chỉ là thứ phản văn minh, là đi tụt lùi, là thứ phản văn hóa vì nó mất gốc, mất lý tưởng, mất trật tự kỷ cương mà tổ tiên đã dày công xây dựng… Tại các nước dân chủ như ngay tại nước Mỹ, chính sách kinh tế thị trường luôn luôn bị quyền tự do dân chủ kiềm chế, bị tự do báo chí canh chừng, nên nó không thể tự do tunh hoành phá phách được, vì ở đó có sức phản bác của người dân. Vì dân ở đó có quyền dùng lá phiếu của mình để lật đổ một chính phủ không tôn trọng và bảo vệ quyền dân. Ở nước ta cho tới nay, lá phiếu chỉ là trò đùa dân chủ của “đảng”, để tô đẹp bề ngoài cho chế độ. Thực tế là chế độ ta nay đã không hề bảo vệ dân. Thực chất của lá phiếu ở ta là nó không có quyền lực gì cả. Nó chẳng thể đào thải được một chính quyền tham nhũng thối nát đã bị dân chúng oán ghét, nguyền rủa.

          – Giờ đây phải làm sao cho mọi người thấy rõ sự thật là như vậy. Vì chỉ có sự thật ấy mới giải thoát, giải phóng được con người khỏi những “giấc mơ vô sản không tưởng”, với tất cả đam mê cuồng tín và ngu tín của nó! Nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của “ông cụ”, không dám đưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra được tình trạng bế tắc chính trị độc hại như hiện nay ở nước ta.

          Rồi bác Thảo lại thú nhận một cách đau đớn:

          – Nay tôi già rồi mới nhận ra điều ấy. Gần đất xa trời rồi mới có cơ hội để nói ra. Khổ thế đấy! Vì vậy mà quyền lực đã muốn bịt miệng tôi, đã xua đuổi tôi ra khỏi quê hương…Tôi đã chấp nhận ra đi, dù là vào lúc tuổi già, sức yếu, để có cơ hội thét lớn cùng thế giới rằng: “Thủ phạm gây ra đại bi kịch này cho nhân loại, chính là Marx!”

          Từ lúc tôi khám phá ra là tôi đã sai lầm, đã một thời đứng trong hàng ngũ của tội ác, đã mù quáng cả tin vào ý thức đấu tranh giai cấp của Marx, thì sự thức tỉnh ấy làm tôi thấy sung sướng. Bởi như thế là tôi đã tự giải thoát chính tôi, đã tự giải phóng tôi. Tôi đã trở lại thành con người tự do! Tôi đã đạt tới tâm trí thanh thản, trong sáng của con người tự do, tư tưởng không còn bị gông cùm của ý thức hệ! Và nay dĩ nhiên là tôi phải thú nhận tất cả những gì đã viết lúc đang sung bái Marx! Những gì đã viết mà dựa vào Marx, thì vẫn bao hàm một định kiến, một ngộ nhận, một căn bản không tưởng, từ đó có thể dẫn đến những sai lầm khác, có thể phạm vào tội ác. Bởi một phần tư tưởng tranh đấu của Marx, lúc nào cũng như cái bóng ma quỷ, muốn thúc đẩy con người lao vào các hành động quá trớn, quá khích, do hận thù và bạo lực cách mạng, để giải quyết các vấn đề cơ bản của xã hội, của con người. Thật sự là trong chiều dài lịch sử nhân loại, bạo lực cách mạng xã hội chủ nghĩa đã không hề giải quyết được vấn đề bất công trong xã hội loài người! Và cũng chưa hề giải phóng được ai!

          Trong thực tế, chính Milovan Djilas, nhà lãnh đạo và cũng là nhà văn của Nam Tư (cũ), đã tố cáo sự tồn tại của giai cấp thống trị trong những cuốn như “Giai cấp mới”, “Đất đai không công lý”. Djilas là cây viết công sản đầu tiên đã mạnh mẽ nêu ra sai lầm và tội lỗi của chế độ xã hội chủ nghĩa trong tất cả các tác phẩm của ông, tuy ông ta chưa chứng minh được những sai lầm ấy về mặt triết học! Nhưng ông ta đã thấy chúng là sai lầm, là tội ác trong thực tại.

          Còn tôi, vì đã sống trong thời suy mạt của “xã hội chủ nghĩa”, nên đã thấy rõ, về mặt triết học, kể từ khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, thì tất cả những gì xảy ra trên thế giới sau ngày 30 tháng tư năm 1975, đều đã làm chứng cho một sự thật đã bừng sáng. Vì hòa bình ở Việt Nam là một mốc thời gian, đưa tới giai đoạn mà sự thật đã chứng minh rằng, dù đã phá tan cơ cấu kinh tế tư bản, nhưng rồi đã không thể hình thành một xã hội chủ nghĩa vô sản nào, một chính quyền vô sản nào cả! Vì thế mà nay cái gọi là Đệ Tam Quốc Tế nay đã sụp đổ hoàn toàn, từ căn bản tư tưởng, từ bên trong xương tủy của nó! Cái gọi là tinh thần, là nghĩa vụ quốc tế vô sản, là Đệ Tam Quốc Tế ấy chỉ là cái vỏ bề ngoài, là một tấm màn che mắt, là một con số không. Đệ Tam Quốc Tế chỉ là công thức giúp đế quốc sô-viết giữ lại toàn thể di sản đế quốc do các Sa hoàn để lại. Toàn thể khối Liên-xô tại Đông Âu đã sụp đổ từ bên trong vì sự trống rỗng tư tưởng giải phóng của nó. Cuộc cách mạng vô sản của Pol Pot đã bị bộ đội cộng sản Việt Nam dẹp tan, cuộc chiến tranh ngắn ngày do đảng cộng sản Trung Quốc phát động chống chế độ cộng sản ở Việt Nam năm 1979… tất cả các cuộc chiến tranh ấy chỉ là hành động của thực dân đế quốc bành trướng kiểu mới! Về mặt kinh tế, sự đứng dậy ngoạn mục của Trung Quốc, của Việt Nam… cũng là do thành phần tư sản, tư bản đỏ đã bùng lên cấu kết mạnh mẽ với tư bản man rợ nước ngoài, rất lấn át, rất tàn nhẫn, rất vô luật lệ… để tung hoành. Vì thế nó đã phát triển rất nhanh, rất ngoạn mục, nhưng cũng vô cùng tai hại!

          Chân lý của sự mở mang, phát triển ngoạn mục ở Trung Quốc, ở Việt Nam là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà nhân dân lao động đã phải trả giá: thợ thuyền vẫn bị bóc lột sức lao động với đồng lương rẻ mạt, nông dân bị bóc lột bằng hành động cướp đất, đuổi nhà! Nhà nước tư bản đỏ đã bóc lột bằng cách tận thu, tích lũy vốn tư bản để phát triển một sự phồn vinh giả tạo “hoành tráng” bề ngoài, mà không lo gì cho đời sống khổ cực của đám dân nghèo khổ ở nông thôn, ở vùng sâu, vùng xa. Tại Trung Quốc, dân lao động bị bóc lột rất dã man: lương rẻ mạt, lao động không an toàn. Con số tai nạn lao động ở TQ là cao nhất thế giới.

          Thật là tội nghiệp cho thành phần cùng dân lao động bây giờ bị bóc lột mà không có ai bênh vực.. Trước các vụ oan ức chồng chất vì bị bóc lột, bị mất đất, mất ruộng, mất nhà! Lao động trong điều kiện tính mạng luôn luôn bị đe dọa! Và mỉa mai thay: cái bóng ma của Marx nay lại hiện ra để kêu gào “Ở đâu có bóc lột, ở đó phải có đấu tranh!”, nhưng đấu tranh để bị đàn áp, tù đày… bởi vì đây là một nhà nước của chuyên chính tư bản chủ nghĩa đỏ! Nó nhân danh “nhân dân”, nó có trong tay một guồng máy công an cực kỳ thủ đoạn và thô bạo! Sai lầm, tội lỗi của Marx, chính là cái vòng luẩn quẩn của ý thức “đấu tranh giai cấp” như thế! Dẹp bỏ giai cấp mà vẫn còn giai cấp! Dẹp bỏ bóc lột này thì lại mọc ra thứ bóc lột khác, tàn nhẫn hơn, kinh khủng hơn bao giờ! Bởi sự bùng phát tư bản đỏ là một tội hình của “đảng”, phát xuất từ gợi ý của Marx. Mà “đảng” sai thì bất trị, không có một cơ chế nào hay một đạo luật nào trừng trị được “đảng”. Nay người ta nói tới tư bản chủ nghĩa man rợ, nhưng người ta quên rằng cái gốc của nó, chính là do cái xã hội chủ nghĩa ấy, là do cái ý thức thô bạo của “đấu tranh giai cấp” ấy!

          Rồi bác Thảo lắc đầu than một cách thất vọng:

          – Bây giờ thì tôi thấy nhiệm vụ là phải nêu ra sự thật, phải lật ra cái mặt trái, mặt thật của “đấu tranh giai cấp”, phải chỉ cho rõ đấy là thứ vi-rút vô cùng độc hại! Vì đấy là thứ xã hội chủ nghĩa phản nhân đạo. Vì vậy mà nay, các cuộc thuyết trình của tôi đã bị áp lực, bị đe dọa phải ngưng lại. Nay thì tôi không còn diễn đàn để công bố sự thật ấy! Và thế là cuốn sách có xu hướng giải thoát, giải phóng của tôi đã bị bóp chết trong trứng nước!

          Anh Lê Tiến tới lúc này thì thúc giục:

          – Bây giờ có lẽ bác phải làm sao hoàn thành cuốn sách cho được nhanh lẹ, cho nóng hổi…phải giản dị nội dung để cuốn sách sớm được xuất bản, vì thời gian không còn nhiều, bởi sức khỏe của bác cũng không còn nhiều!

          – Tôi biết! Tôi biết hoàn cảnh của tôi chứ! Vì vậy mà tôi tính sẽ phải lướt sơ qua một số luận chứng về vận động của thời gian hóa như đã dự trù. Nhưng dù thế nào, thì cũng phải nêu ra một số vấn đề liên quan tới quyền dân để bảo vệ ba thực thể của cuộc sống là con người, là xã hội, là môi trường thiên nhiên… để cho cuốn sách có đủ sức lý luận thuyết phục về mặt triết học… Nhưng cũng phải vài tháng nữa! Không thể sớm hơn được!

          Lúc chia tay, tôi hỏi thêm:

          – Một khi cuốn sách được hoàn thành và xuất bản thì như vậy là bác đã đặt xong nền tảng để giải quyết tất cả các vấn đề của cách mạng ta chưa?

          – Cuốn sách của tôi chỉ là mới giải quyết xong vấn đề tư tưởng. Còn các vấn đề thực tế hơn, như các hậu quả tai hại của những cơ chế, những phương pháp, những di sản độc hại do chủ nghĩa xã hội để lại, như cách thức tổ chức và điều hành guồng máy đàn áp, là ngành công an, mật vụ, như chính sách chia rẽ dân tộc vì ý thức hệ, và nhất là của các món nợ, các vết thương mà cách mạng và chiến tranh để lại như tâm thức dùng thủ đoạn, dùng bạo lực, như tù nhân lương tri (objecteur de conscience), như phế binh, như nạn nhân “da cam”… thì những cái đó dù lâu dài cũng không thể nào thanh toán được. Nhưng để giải quyết tốt các vấn đề do chiến tranh và cách mạng đã gây ra, thì trước hết phải dựa trên những phân tích biện chứng lịch sử trong cuốn sách của tôi. Đây là một công trình có tính khai thông bế tắc tư tưởng, mổ xẻ các khía cạnh bi thảm của cách mạng, tình trạng thiếu luật pháp, thiếu kiểm soát, thiếu chế tài đối với “đảng” và chính quyền cách mạng.

          – Thú thật với bác là chúng tôi vẫn chưa hiểu hết tầm vóc và ý nghĩa của “lý thuyết hiện tại sống động” mà bác đang bận tâm khai triển. Và chúng tôi cũng chẳng muốn tới nghe bác để đi sâu vào vấn đề ấy. Điều chúng tôi muốn biết, như đã nói với bác nhiều lần, là tại sao bác phải đánh giá lại tư tưởng của Marx, tại sao cho tới lúc này vẫn cứ phải lôi Marx ra? Thế giới hiện nay đã chôn Marx sâu vào dĩ vãng rồi, trừ ra vài lý thuyết gia cộng sản trong mấy nước độc đảng toàn trị như Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên và Việt Nam ta thôi. Ông Marx đã hết thời rồi.          Bác có thấy vấn đề cơ bản và cấp bách nhất hiện nay của ta là vấn đề gì khác không?

          – Tại ở nhà bây giờ, họ vẫn cứ lôi ông Marx ra làm bình phong để tự bào chữa, nên tôi phải lôi ông ấy ra để dứt khoát chứng minh, bằng lý luận vừa biện chứng, vừa hình thức, để thấy rằng ông ấy là nguồn cội của mọi sai lầm, tội lỗi, bế tắc của các cuộc cách mạng mà Lénine, Staline, Mao, Hồ và cả Pol Pot nữa… đã phát động. Và từ chứng minh cơ bản ấy, để đi tới kết luận là những gì đã xây dựng dựa trên tư tưởng Marx một cách tùy tiện như thế là phải vĩnh viễn đào thải hẳn. Không thể sửa sai, sửa lại, đổi mới, cách tân nó mà dùng lại. Vấn đề cơ bản và cấp bách nhất của ta hiện nay là nhất định không sửa sai, không sửa đổi, không đổi mới  những gì đã dùng và đã thất bại…để rồi dùng lại. Vấn đề cơ bản, cấp bách và lớn nhất của ta hiện nay là phải biết hoàn toàn thay thế hẳn nó, từ cơ sở lý luận tới phương cách tổ chức, cách hành động quá tùy tiện trong đảng, trong những định chế, trong các cơ quan, hội đoàn, nghĩa là trong nhà nước và trong toàn chế độ. Bởi những cái cũ đó đều mang trong nó bản chất sai lầm, dối trá, gian xảo, giấu giếm. Những tội lỗi đó đều là tội ác của “đấu tranh giai cấp”. Ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã nhận ra điều đó khi đưa ra lý luận “không cần phân biệt mèo trắng hay mèo đen, miễn là mèo biết bắt chuột”. Đấy là lãnh tụ họ Đặng đã can đảm thay thế hẳn quan điểm cơ bản của đảng cộng sản là “Hồng hơn Chuyên”. Bây giờ người ta mới chịu nhìn nhận, không thể nào lấy “hồng” thay “chuyên”. Bởi “hồng” mà dốt, mà gian thì hỏng hết! Điều này tuyệt đại đa số nhân loại đã biết. Chỉ có mấy lãnh đạo các đảng cộng sản đang cầm quyền và mấy tay lý luận mác-xít là ù lì, vì tham quyền, tham lợi nên chưa chịu nhận tội và thú tội! Một số lãnh đạo còn muốn đề bạt con cái lên nối ngôi lãnh đạo cứ y như dưới thời phong kiến! Lí do là vì họ đang có trong tay cả một guồng máy lộng quyền cai trị nên họ cứ tùy tiện giẫm lên luật pháp, cứ mưu tính tuyên truyền gian dối, cứ dùng bạo lực để kiềm chế, đàn áp. Họ nghĩ với thứ quyền lực không bị kiểm soát ấy, họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, bất chấp sự phẫn nộ của dân!

          – Trong một chế độ chính trị như vậy, bây giờ bác có ân hận, hối tiếc là đã uổng công, uổng thời giờ trong những hoạt động triết học của bác hay không?

          – Dĩ nhiên là tôi rất ân hận vì đã im lặng đồng lõa, mãi tới lúc cuối đời mới thấy tường tận, cội nguồn những sai lầm là bắt nguồn từ Marx, và cũng là từ thái độ cúi đầu cam chịu của chính tôi. Ân hận vì đã chứng kiến, đã im lặng trước biết bao nhiêu tội ác trong quá trình khai triển cách mạng!

          Lúc cùng với bác Thảo buồn rầu bước ra khỏi “Nhà Việt Nam”, tôi nói nửa đùa, nửa an ủi:

          – Thôi bác ạ, bác nên tạm gác qua một bên cái công việc viết sách ấy đi để nghỉ ngơi, cho khỏe cái thân già. Cả đời bác đã đa mang nhiều quá rồi.

          – Không phải là tôi ưa đa mang đâu, sự thật là mình đã tự thân bước vào con đường của sai lầm, bế tắc. Nỗi khổ tâm là mình cũng đã làm cho nhiều người cùng với mình sa vào sai lầm và bế tắc. Nay mình đã tìm ra được lối thoát, nên rất ân hận, phải sám hối, phải chuộc tội bằng hành động. Vào lúc hoàng hôn, thấy một ngày bị lãng phí đã là đáng tiếc, đáng buồn, huống chi bây giờ là hoàng hôn của cả một cuộc đời, một cuộc đời đã bị lãng phí! Nỗi ân hận, hối hận đang ngùn ngụt thiêu đốt tâm trí tôi. Thế nên tôi phải tìm cách chuộc tội, phải chỉ ra cho mọi người cùng thấy cái sai lầm của mình, đã biến mình thành một tên trí thức đồng lõa, khốn nạn, đáng nguyền rủa. Đấy là món nợ phải trả cho dân tộc, cho triết học… Mà thực sự bây giờ chỉ còn một cách chuộc tội là gấp rút hoàn thành cuốn sách… này. Có lẽ đây là cơ hội duy nhất và cuối cùng để tôi chuộc tội trước mọi người. Chứ tôi có muốn đa mang gì đâu! Không đền được tội, không trả được món nợ này, thì đến chết mình vẫn còn ân hận…Chết mà chưa truyền lại cho người đi sau những trải nghiệm đau đớn, để mà thấy cái sự độc hại vô cùng của con đường “đấu tranh giai cấp”…! Không làm được việc này, thì chết cũng không thể yên nghỉ! Vì thế việc biên soạn cuốn sách của tôi là điều bắt buộc phải làm cho bằng được. Phải điểm mặt từ gốc, cái thứ vi-rút tư tưởng đã phá hoại xã hội, phá hoại con người. Vì thế mà tôi phải cố hoàn thành cuốn sách…Chính vì thế mà nay chúng nó muốn đè đầu tôi, ngăn cản tôi, không muốn để cho sống!

          – Bộ bác thật tâm thấy mình đã phạm tội hay sao mà phải tìm cách chuộc tội?

          – Sống trong thời cách mạng, chạy theo cách mạng như thế… thì làm sao mà không phạm tội! Riêng tôi thì còn phạm tội nặng hơn mọi người nữa ấy chứ! Người ta phạm tội mà không biết mình phạm tội, không biết tội ấy nặng nhẹ ra sao. Còn tôi, đã bao phen biết mình phải nói một câu trái với lương tâm, làm một cử chỉ a dua, ca ngợi tội ác, lúc đó tôi đã ý thức ngay là mình đã phạm tội, tội giả dối, tội a dua hoan hô cái xấu, cái ác, tội hèn nhát đã phản bội lý tưởng của mình, phản bội chính mình…Đã biết là tội là như vậy, mà vẫn cứ nói, cứ làm!

          – Nghe bác than thở tôi cũng thấy nhột. Tôi cũng từng nhiều phen, cùng đám người chung quanh, phải vỗ tay hoan hô cái xấu, cái ác. Không vỗ tay là khó sống, vì sợ bị chụp ngay lên đầu cái tội phải động. Trong những lần học tập chính trị, tôi cũng đã bao phen mạnh miệng hô: “Nhất trí! Nhất trí!” để đi với cái xấu, cái ác. Cứ nghĩ nói thế cho xong chuyện, cốt để được yên thân. Bây giờ nghe bác phân tích cái tội của bác, cái hèn của bác làm tôi cũng thấy cái tội, cái hèn của tôi…

          – Anh có nói như vậy, có làm như vậy, cũng là thường thôi, vì không ai coi anh là mẫu mực, là nêu gương…Còn tôi thì khác, đi đâu, tới đâu cũng đã được trịnh trọng giới thiệu là thạc sĩ triết, là trí thức ở bên tây về ủng hộ cách mạng…thì nói một câu, làm một cử chỉ như thế, là như cấp chứng minh thư cho những cái sai, cái ác. Tội của tôi nặng nề là như vậy. Nay càng nghĩ lại càng thấy cái sự giả dối, cái sự hèn hạ khốn kiếp của mình mà hối hận, không thể tha thứ. Mỗi trí thức hèn một tí, thì cánh bảo thủ, cánh ít học, ít suy nghĩ, lại lấn tới một tí, rồi cứ thế mà làm cho cách mạng vấp váp thêm, làm cho xã hội sống quen trong gian dối thêm, thêm…mãi. Nhìn lại quá khứ, biết bao trí thức cũng hèn như tôi, chỉ biết theo đuôi ca ngợi lãnh tụ và đảng như vậy, thì nhân dân và tổ quốc còn biết trông cậy vào ai? Tội ác cứ tiếp tục phát triển, xã hội cứ tiếp tục suy đồi vì giả dối, vì tội lỗi. Tất cả là do đám trí thức hèn như tôi. Buồn lắm! Hèn lắm! Nhục lắm! Đau lòng lắm!

          Nghe những lời thú tội rơm rớm nước mắt ấy, tôi không còn biết nói gì để an ủi bác. Mà an ủi bác thì khác nào như tôi cũng muốn chạy tội cho tôi. Nhìn bác Thảo buồn rầu thú nhận “cái sự hèn khốn nạn, khốn kiếp” của mình, tôi bỗng thấy vóc dáng bác trong sáng hơn lên, cao cả hơn lên. Thật không thể ngờ cuộc đời trí thức Trần Đức Thảo đột nhiên đi tới giai đoạn hối hận dằn vặt bi thảm nặng nề đến như thế. Nghe những tậm sự khe khắt với chính mình như vậy, bỗng cảm thấy mình phải có cái nhìn khác đối với mọi sự, tức là phải biết chân thành nhìn lại chính mình. Sau mỗi lần gặp bác Thảo, lúc nào về cũng thấy trong lòng thêm căng thẳng, trĩu nặng ưu tư. Quả thật những ưu tư, trăn trở trong đầu bác Thảo, cứ như một khối nham thạch đang sôi sục bùng cháy ở độ áp xuất loãng lỏng fusion, với sức ép ở nhiệt độ kinh khủng sắp nổ tung ra, sắp phun ra ngoài vòng khí quyển như một núi lửa. Nỗi niềm tâm sự ưu tư, dằn vặt về thời thế, là một căn bệnh rất truyền nhiễm. Bởi nó bắt người nghe cũng phải thành khẩn nhìn lại chính mình…

          Rồi thì một loạt tin khủng khiếp ập tới. Từ bế tắc tuyệt vọng vì mất diễn đàn, tới bị xua đuổi khỏi nơi trú ngụ, với nguy cơ bị cưỡng bách phải trở về nơi lặng câm cũ… Lúc ấy bác Thảo nói mà mắt tập trung như đang nhìn vào chính mình, như đang thấy trong nội tâm ngọn lửa trăn trở, phẫn uất đang ngùn ngụt bùng cháy! Chúng tôi ngậm ngùi đề nghị đưa bác ra về… nhưng bác từ chối một cách buồn bực:

          -Thôi! Các anh cứ để tôi về một mình, tôi muốn được đi một mình trong lúc này!

          Nói rồi bác Thảo lặng lẽ, lủi thủi rời Nhà Việt Nam. Nhìn bác cô đơn đi về phía trạm xe điện ngầm, y như bác không muốn chia sẻ với ai tất cả nỗi đau, nỗi tuyệt vọng đang hành hạ tâm trí!

          Nhưng rồi sau đó, bỗng nhiên ùa tới toàn là tin vui mừng lạc quan vượt quá mong đợi: một diễn đàn mới khang trang đã sẵn sàng. Một khoản trợ cấp rất khả quan và lâu dài đã được chấp thuận. Đấy là tất cả điều kiện khả dĩ đảm bảo bền vững cho một cuộc sống độc lập về kinh tế, tự do về tư tưởng! Không thể mong ước gì hơn!

          Nhưng niềm vui mừng bỗng vụt tắt. Một đột biến đã kết thúc số mệnh thật là nghiệt ngã.

          Mấy ngày đầu, sau khi bị mất diễn đàn, bác tỏ ra vô cùng chán nản, bi quan… làm chúng tôi áy náy, thương bác vô cùng. Bác nói với chúng tôi:

          – Có lẽ tôi sẽ phải qua tạm trú ở Đức hoặc ở Bỉ. Vì hai nơi ấy vừa trả lời mấy bức thư của tôi, họ ngỏ ý bằng lòng đón tiếp tôi, sẵn sàng chu cấp nơi ăn ở để cho tôi tiếp tục hoàn thành cuốn sách. Nhưng tôi vẫn cứ luyến tiếc Paris, bởi nơi ấy, anh em, bạn bè đã quá thân, quá tốt với tôi. Và ai cũng muốn níu kéo tôi ở lại với Paris. Thật sự là ngoài quê hương ra, không có nơi nào tôi thấy thân thuộc, tình nghĩa bằng cái đất Paris này. Vì thế tôi chưa có quyết định chọn lựa rời bỏ Paris.

          Canh và tôi cũng nhiệt liệt muốn giữ bác ở lại Paris. Nhưng tình hình trở nên đen tối, phức tạp, khi sứ quán đã dứt khoát thúc bách, ép buộc bác phải trở về lại Việt Nam!

          Thế rồi một buổi chiều Canh điện thoại cho tôi với giọng hốt hoảng:

          -Này, đã biết tin động trời chưa?

          -Tin gì mà động trời?

          – Chuẩn bị đi nghe bác Thảo họp báo chính thức ly khai, để tuyên bố chọn tự do!

          – Trời đất quỉ thần ơi! Thật không? Nói giỡn chơi đấy chứ?

          – Tin thật nghiêm túc đấy. Chỉ còn đang chọn nơi và ngày để họp báo thôi. Chính bác gọi điện thoại cho tôi, nhờ huy động anh em sẵn sàng tới dự cuộc họp báo thật đông. Ông nghĩ sao về tin dự tính họp báo này?

          – Thật sự là tin này làm tôi chới với, không thể ngờ…Một người như bác Thảo đâu đến nỗi phải họp báo để tuyên bố chọn tự do ngay giữa Paris này! Tuy bác Thào đã cho biết trong mấy ngày qua, ở số 2 Le Verrier “chúng nó” đã gây căng thẳng, thúc bách bác quá… làm bác hết kiên nhẫn, chịu không nổi. Nên nay đã đi tới quyết định phải chọn con đường chính thức công bố ly khai… Nếu có họp báo, thì anh có đi dự không?

          – Phải dự chứ! Một biến cố như vậy mà không tới chứng kiến thì thật là một thiếu sót không thể tha thứ. Nhưng tôi vẫn không tin nổi là sự việc sẽ phải đi tới chỗ đó. Bao nhiêu đầu óc, trí tuệ ở chung quanh mà để xảy ra sự việc tai tiếng động trời như vậy sao! Mà giận dữ đến mức nào thì cũng thủng thẳng mà đối phó chứ! Cần gì phải dùng tới biện pháp li khai, chọn tự do như những người cùng đường phải xin tỵ nạn chính trị như vậy.

          – Bác cho biết vấn đề là ngay sau khi họp báo thì dĩ nhiên là bác sẽ không thể về lại căn nhà số 2 đường Le Verrier được nữa. Nhưng nay bác vẫn chưa quyết định được là sẽ dọn về đâu. Bởi đã có vài gia đình tỏ ý sẵn sàng mời bác về tá túc tạm thời, đợi khi tìm ra chỗ ở đàng hoàng. Nhưng bác bảo, tất cả các nơi sẵn sàng mở cửa đón bác đều hơi chật chội, bác sợ làm phiền gia đình người ta, nên còn do dự… Ông có quen gia đình nào có nhà cửa rộng rãi, thì thử tìm giúp xem…

          – Việc tới ở nhờ một gia đình nào ở vùng Paris này cũng khó, vì ở đây nhà nào cũng chỉ đủ ở, ít có gia đình nào khá giả, có phòng dành cho bạn bè từ phương xa lúc ghé thăm… Nhưng tôi có quen bác sĩ Quyền, có phòng mạch riêng khá rộng ở vùng ngoại ô Cachan, có phòng dư để đó. Thỉnh thoảng nhiều bạn bè tôi qua đông để thăm Paris, thì tôi vẫn mượn phòng ở đấy… Để tôi dọ ý xem sao. Ông “tu-bíp” này là một Việt kiều chính cống, sống ở đây từ nhỏ, nhưng lại rất thương quí người Việt tị nạn, nên ông ta được họ coi là một ân nhân.

          – Vậy thì ông hỏi thử xem sao, có gì thì cho biết kết quả gấp. Vì bác Thảo đang nóng ruột bồn chồn lắm.

          Tôi gọi điện ngay cho ông bạn bác sĩ ấy. Ông ta rất ngạc nhiên khi tôi nói Trần Đức Thảo sắp họp báo tuyên bố chọn tự do… rồi ông la lớn:

          – Trời ơi! Sao vậy? Sao mà đến nông nỗi bi thảm như thế?

          Tôi kể sơ qua lý do. Ông bạn bảo:

          – Với ai thì tôi còn phải suy nghĩ, chứ với Trần Đức Thảo, thì tôi rất sẵn sàng. Bởi chỗ phòng mạch của tôi là một căn hộ, còn một phòng lớn và một phòng nhỏ, định cho một bác sĩ khác thuê cùng làm phòng mạch và phòng thư ký, nhưng sau thấy hành nghề chung đụng như vậy cũng bất tiện. Vậy thì ông trả lời ngay đi. Tôi sẵn sàng cho Trần Đức Thảo mượn phòng lớn để ở, phòng nhỏ làm việc, mà đấy là một căn hộ đã có đầy đủ tiện nghi cho một gia đình, sẵn nhà bếp, nhà tắm, cứ việc dọn tới là sống thoải mái.

          Tôi vội gọi Canh để báo tin mừng là đã tìm được nơi trú ngụ cho bác Thảo. Nhưng Canh đã đi ra ngoài. Lát sau, bác sĩ Quyền lại gọi tôi và tỏ vẻ lo ngại, một cách am hiểu:

          – Này ông ơi! Tin ấy làm tôi suy nghĩ và đâm lo cho ông ta. Nếu ông thân với Trần Đức Thảo, thì bảo ông ta “zọt” ngay cho lẹ! Bởi khi họ biết sắp họp báo để chọn tự do, thì coi chừng không đủ thời giờ mà họp báo nữa đâu. Nguy lắm đấy! Phải thúc ông ta thoát ra khỏi nơi ấy ngay đi, kẻo quá trễ mà nguy tới tính mạng đấy. Với những con người của chế độ ấy thì không thể coi thường!

          Tôi cười và trấn tĩnh anh bạn:

          – Không đến nỗi như vậy đâu! Ngay giữa Paris chứ có phải bên ta, bên Tầu hay bên châu Phi đâu! Nhưng mà tôi sẽ cố tìm ông ta để nói rõ sự lo lắng của anh. Cảm ơn anh.

          Rồi cả ngày hôm sau nữa, dù cố công đi tìm, tôi không gặp được Canh, mà gọi trực tiếp cho bác Thảo ở nhà số 2 đường Le Verrier, thì ở đấy trả lời như quát tháo:

          – Đồng chí Thảo đi vắng từ mấy bữa nay chưa thấy về. Chắc còn lâu ông ấy mới về. Ở đây không biết ông ấy đi đâu. Từ sáng tới giờ toàn phải trả lời điện thoại cho ông ấy. Chúng tôi không rảnh để trực điện thoại đâu. Đừng gọi lại nữa nghe không!

          Cả gần tuần sau, tôi mới gọi được Canh, thì được biết mọi căng thẳng đã lắng dịu, mọi sự nay trở thành tốt đẹp. Vì có nhiều tin mừng. Thứ nhất là vợ chồng bà Bình và ông Jacques, đã vận động và vừa lập ra được một diễn đàn mới là Nhà Văn Hóa Việt Nam, ở đường Rue des Ecoles, cũng quận 5, Paris, ở ngay mặt tiền một đường phố lớn, rất sầm uất. Cơ ngơi sang trọng, rộng rãi gấp bội lần Nhà Việt Nam ở đường Cardinal Lemoine. Bác Thảo đã được mời tới đó xem và tỏ ý rất hài lòng. Vậy là bác đã có một diễn đàn mới để nối lại được nguồn hy vọng. Mọi người đều mừng vì đã có nơi hoạt động văn hóa đẹp đẽ sang trọng mới này.

          Tin mừng thứ nhì là hội “Les Amis des Sciences” (Những người bạn của khoa học), đã gửi thư báo cho bác Thảo biết là hội đã chấp thuận từ nay, thường xuyên chu cấp cho bác mỗi tháng, một số tiền là mười ngàn francs (10.000 frs) để tiếp tục hoàn thành cuốn sách. Cùng với thư ấy là một tấm ngân phiếu đầu tiên đề tên Trần Đức Thảo. Đây là một khoản trợ cấp hàng tháng đáng kể, vì lương tháng tối thiểu cho một công nhân viên chức ở Pháp lúc ấy là một ngàn năm trăm francs.

          Vậy là từ nay bác Thảo vừa có diễn đàn khang trang, vừa dư sức “độc lập về kinh tế”, để thuê nhà ra ở riêng, và sẽ yên trí lớn mà tiếp tục lo viết và xuất bản cuốn sách.

          Nhưng rồi hôm ấy là thứ năm, 22 tháng tư 1993, một buổi sáng đẹp trời, ông bạn Việt kiều Mặc Lâm đã tới đưa bác ra một ngân hàng gần nhà ga Montparnasse, để bảo lãnh cho bác mở một chương mục, rồi ký thác tấm ngân phiếu do hội khoa học tài trợ vào chương mục ấy. Ngân hàng trao cho bác cuốn ngân phiếu để sử dụng khi tiêu dùng. Vậy là từ nay, bác không còn lo sợ bị thiếu tiền, thiếu diễn đàn nữa. Rồi bác Thảo hãnh diện và hào hứng thông báo cho sứ quán biết là sẽ dọn đi trong một tương lai thật gần.

          Những thân hữu của bác, nghe tin này, ai cũng mừng. Phải vậy chứ! Cuộc đời bác Thảo cũng phải có lúc sống đầy đủ về vật chất, thoải mái, tự do về tinh thần chứ!

(còn tiếp)

 

Nguồn: Trích từ sách “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối” của Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ 2014. Tựa đề của VV. Bản điện tử của VV

 

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO (Phần 2)

Đột tử trước thềm chân lý…!

Nhưng rồi bỗng bác Thảo không cần tới những may mắn đến dồn dập ấy nữa…!

Chiều hôm sau đó, tôi đang lái xe trên đường về nhà thì nghe đài “France Info”, mà tôi có thói quen mở nghe tin tức khi lái. Bỗng đài này loan tin giáo sư Trần Đức Thảo, nhà triết học Việt Nam vừa qua đời! Tin đột ngột ấy làm tôi lạnh người và buột miệng:

-Ôi! Thế là cuốn sách không còn cơ hội chào đời! Phải chăng tên đao phủ đã ra tay?

Việc đầu tiên là tôi tìm gặp ngay bà Bích Hồng để được nghe bà kể thật chi tiết.

Thật là quá bất ngờ! Bác Thảo hằng ngày vẫn có nếp ăn uống rất tinh khiết, không bao giờ ăn thức ăn cũ. Vậy mà ngay xẩm tối hôm thứ năm ấy, bỗng bác bị “thượng thổ, hạ tả” như bị trúng độc: vừa nôn mửa, vừa đại tiện tràn lan đến mệt lả đi. May là lúc đó bà Bích Hồng đang có mặt. Bà vội dìu bác vào nhà tắm, tắm rửa bằng nước nóng cho sạch sẽ, rồi lấy quần áo sạch thay cho. Sau đó đưa bác vào nằm tạm trong một căn phòng ở ngay tầng dưới ấy. Đấy là phòng của một cán bộ của sứ quán, lúc đó đi vắng xa. Bác Thảo dần dần tỉnh táo lại, nằm nghỉ và không hiểu tại sao, đã ăn phải thứ gì mà bị ngộ độc như thế. Bà Bích Hồng vào hỏi thăm. Bác cảm ơn sự săn sóc của bà, rồi bác tâm sự một cách rất lạc quan và tự tin:

-Này bà Bích Hồng này! Mai mốt, tôi thuê nhà ra ở riêng, bà về làm cho tôi. Mỗi tháng tôi biếu bà năm trăm. Như vậy chúng ta sẽ sống thoải mái, tự do hơn là sống ở đây.

Câu nói ấy chứng tỏ bác Thảo vẫn không có ý thức gì về tình hình giá cả trong đời sống: vì số tiền lương đề nghị ấy là quá nhỏ, không đáng kể.

Bà Bích Hồng tới đặt tay lên trán bác, thấy vẫn có nhiệt độ cao, tức là vẫn còn đang bị sốt.

Đêm ấy, bác chỉ uống một ly sữa nóng rồi nằm nghỉ. Sau thấy nhức đầu quá nên được cho uống một viên Aspirine. Cả đêm bác rên rỉ vì cơn sốt vẫn cao. Đến gần trưa hôm sau, thứ sáu, cơn sốt tăng đến mê sảng, chốc chốc lại giật mình la hét lên. Bà Bích Hồng chạy vào lay gọi cho tỉnh lại để bớt rên la. Bỗng bác ngồi nhỏm dậy, mặt đỏ gay vì mê sảng, hốt hoảng, tay nắm thật chặt lấy cánh tay phải bà Bích Hồng miệng la lớn:

-Nó kiểm điểm! Nó kiểm điểm!

Bà Bích Hồng lay gọi:

-Bác Thảo! Bác Thảo! Bác buông tay tôi ra! Bác làm tôi sợ quá! Buông tay tôi ra!

Bị lắc người thật mạnh, bác Thảo buông tay bà Bích Hồng ra, rồi nằm vật mình xuống. Nhưng yên được một lúc thì lại lên cơn mê sảng, rồi ngồi phắt dậy, mặt vẫn đỏ gay, hoảng hốt rồi thét lên như đang trong cơn ác mộng:

-Đông Âu đấy! Đông Âu đấy!

Nói rồi lại nằm xuống, xuội lơ, duỗi thẳng tay chân, không còn biết gì nữa…Bà Bích Hồng sợ quá vội kêu la cầu cứu ầm ĩ. Cán bộ Hào từ trên tầng lầu xuống, tới gần quan sát, rồi chạy ra gọi điện cho sứ quán.

Một lát sau, đại sứ Trịnh Ngọc Thái tới, ông quyết định gọi xe cấp cứu của hệ thống cấp cứu công cộng SAMU.

Bác sĩ của toán cấp cứu hỏi:

-Trước đó bệnh nhân đã làm gì để rồi rơi vào hôn mê?

-Ông ta trước đó, đã bị ngất xỉu rồi bị té ở cầu thang!

-Bị ngất xỉu đến té ngã như vậy, sao không thấy thương tích gì trên người?

-Cái đó thì tôi không rõ, nhưng ông ta cũng đã cao tuổi rồi và rất yếu…

Bác sĩ cấp cứu quyết định cấp tốc đưa bệnh nhân vào nhà thương. Nơi gần nhất và thích hợp cho trường hợp này là bệnh viện đa khoa Les Broussais, cách đó chỉ vài phút xe hơi. Tới nơi, bác sĩ cấp cứu trực của bệnh viện chích cho bác Thảo một mũi thuốc an thần, và giữ lại tại phòng hồi sinh để theo dõi. Đêm ấy bác Thảo vẫn sốt, nằm bất tỉnh, ngủ li bì. Đến khoảng năm giờ rưỡi sáng ngày 24 tháng tư, năm 1993, bác sĩ trực phòng hồi sinh ghi nhận bác Thảo đã trút hơi thở cuối cùng! Ngay sau đó, bệnh viện làm thủ tục đưa người quá cố xuống nhà xác.

Khi được tin, tôi tìm tới nhà xác của bệnh viện. Nhìn bác nằm đấy, vẻ mặt đăm chiêu như vẫn còn đang suy nghĩ, sắp xếp những chương mục cho cuốn sách, tôi không khỏi ngậm ngùi thương cảm cho số phận nghiệt ngã của bác.

Than ôi! Thế là một cuộc đời khổ ải đi tìm chân lý, đi tìm cách mạng…đã vụt tắt. Một cuồng vọng nói lên sự thật, bất chấp bao đe dọa, cuối cùng đã bị chặn lại bởi một cái chết đột biến, tức tưởi. Hành trình đầy triển vọng, với mộng ước thực hiện một cuộc cách mạng huy hoàng cho dân tộc và cho cả nhân loại, với phát minh một “lý thuyết hiện tại sống động”, với một “lô- gích vừa biện chứng, vừa hình thức” từ nay bị dang dở! Cả một sự nghiệp triết học trải nghiệm công cuộc cách mạng Việt Nam rồi đây sẽ chìm vào quên lãng…

Và cuốn sách mang hi vọng “giải mã, giải tà quá khứ để giải thoát, giải phóng hiện tại và tương lai…để chuộc tội” mà bác nóng lòng hoàn thành, nay đã vĩnh viễn chìm vào im lặng!

Một cuộc đời thanh bạch, chân thật, không hạnh phúc, không danh vọng đã kết thúc thật oan nghiệt!

Nghĩ lại những giây phút vui mừng, lạc quan, tràn đầy hi vọng, tưởng như cuối cùng, may mắn và hạnh phúc đã đến với bác Thảo. Nhưng chúng đã bị tan biến thật phi lý.

Nhìn bác khiêm tốn nằm đấy, ai cũng nghẹn ngào. Không cầm được nươc mắt, khóc thương cho một kiếp người tận tụy với lý tưởng, với chân lý, nhưng rồi giấc mộng đã không thành…

Chỉ còn biết nguyện cầu cho vong linh bác được an nghỉ từ đây!

Sáng hôm chủ nhật 25 tháng tư, Canh rủ tôi vào thăm lại bác lần cuối. Tơi nơi thì thấy đã có mấy người thân với bác lúc cuối đời đang ngậm ngùi chung quanh bác. Tôi chỉ nhận ra bà Bích Hồng, bà Hồng Hạnh là hai người đang sụt sùi khóc, giáo sư Boudarel, và một nữ ký giả Pháp, và vài người nữa tôi không nhớ tên…Nhờ anh LT lúc đó có mang theo máy chụp hình nên đã ghi lại được giây phút cảm động này.

Trong nhà xác của bệnh viện, lúc ấy, bác Thảo tạm nằm đó, trên một giường sắt cũ kỹ giản dị như cuộc đời bác: một tấm vải drap cũ trắng ngà của bệnh viện che phủ cao lên tới tận cổ, chỉ để hở phần mặt. Trên bụng bác, ai đó đã đặt một bó hoa cúc trắng. Bác nhắm mắt đăm chiêu, nhưng nét mặt vẫn cau có, tập trung, như trong đầu, tư tưởng, tinh thần, nghị lực vẫn đang sôi sục vận hành, như vẫn đang suy nghĩ về những vấn đề trọng đại của triết học, của con người…Vậy mà bộ óc cất giữ cả một kho tàng về chiến tranh, về cách mạng ấy, nay đã tan vào…hư vô!

Nhìn bác cô đơn, khiêm tốn nằm đấy, tôi cảm thấy thật là hụt hẫng, như vừa mất một cái gì cần thiết cho cuộc sống tinh thần của chính tôi, như cuộc đời bỗng mất hết ý nghĩa! Cái chết của người đang nằm đây làm cho kẻ tầm thường như tôi phải băn khoăn tự hỏi: cuối cùng, sống lặng câm, vất vả, ngược xuôi, chịu đựng bao dằn vặt, cặm cụi làm việc suốt cả đời như thế để làm gì? Để cho ai? Để còn lại gì? Tôi chỉ ghi nhận một điều này: lúc cuối đời, bác Thảo đã hăng say, hào hứng, hăm hở hoàn thành một cuốn sách “để đời”, “để trả nợ đời”…nhưng chưa viết xong phần mở đầu thì đã bị cái chết chặn lại. Cái chết đã tàn nhẫn chấm dứt sự bắt đầu của một công trình lớn! Thật là tiếc, vì bao người đang bồn chồn, nóng lòng chờ đợi cuốn sách mang thông điệp “giải thoát, giải phóng” mà bác Thảo đã hứa: “Khi cuốn sách này được xuất bản thì các anh sẽ thấy mọi nút thắt, mọi trói buộc, mọi sức ép sẽ được tháo gỡ ra cho bằng hết…để minh bạch vấn đề công tội trong lịch sử…Công của ai, tội của ai? Đấy là cách chuộc tội của Trần Đức Thảo này!” Nay thì điều mong ước ấy đã tiêu tan. Đây không phải lần đầu tiên tôi thấy kẻ nhận trách nhiệm và tỏ hối hận khi đã quá trễ. Nhưng trường hợp hối hận và muốn chuộc tội bằng một công trình triết học mà bác Thảo đang làm, như tôi thấy, thì đấy thật là một bi kịch lớn. Bởi đấy là một sự sám hối chân thành, căng thẳng, bồn chồn vội vã, sau gần cả một đời im lặng tư duy về mối tương quan giữa chân lý và cách mạng, chứ không phải chỉ là cách nói vớt vát đãi bôi lúc cuối đời của nhiều nhà chính trị…

Đến bản tin buổi trưa, đài phát thanh “France Info” (Pháp quốc tin tức) là đài đầu tiên loan báo: “Nhà triết học Việt Nam, Trần Đức Thảo, vừa qua đời tại bệnh viện Les Broussais, lúc 7 giờ sáng ngày 23 tháng tư vừa qua ở tuổi 76. Trước năm 1951, ông nổi tiếng ở Paris là một nhà hiện tượng học. Sau đó ông trở về Việt Nam và đã rơi vào im lặng trong suốt bốn mươi năm. Ông mới trở lại Paris năm 1991.”

Nhật báo Le Monde phát hành vào chiều thứ 2 nhưng đề là ngày 27 tháng tư, nơi trang trọng chuyên đăng tin cáo phó của tờ báo, người ta đọc được lời cáo phó nguyên văn như sau:

“Phòng hộ tịch lãnh sự quán Việt Nam tại Paris đau buồn loan báo: cựu giáo sư triết học Trần Đức Thảo của đại học Hà Nội, đã tạ thế ngày 24 tháng 4 năm 1993, thọ 77 tuổi.” (Le Monde ngày 27 tháng tư)

Tuy không được thông báo rộng rãi ngày giờ làm lễ hỏa tang, nhưng ngay từ lúc tin bác Thảo qua đời, từng nhóm thân hữu đã tới bệnh viện Les Broussais để nghiêng mình tiễn chào trước linh cữu của bác.

Rồi gần trưa ngày 29 tháng tư, cũng là vào ngày thứ năm, đã có mặt ở khu hỏa táng của nghĩa trang Père Lachaise của thành phố Paris, khoảng bốn chục người, đa số là những người có đôi chút thân tình với bác Thảo từ khi bác trở lại Paris. Họ đợi khá lâu, tới lúc gần trưa thì xe nhà đòn chở quan tài bác đến. Theo sau không có xe thân nhân gia đình, điều đó dễ hiểu. Nhân viên nhà đòn đưa ngay quan tài xuống phòng lễ tang, để chờ được đưa vào lò thiêu. Tại tầng hầm rất rộng ấy, có ba phòng lễ tang như vậy.

Quan tài bác Thảo được đặt giữa một phòng lễ tang. Hai bên đầu quan tài là hai vòng hoa cỡ lớn: một của “Mặt Trận Tổ Quốc” do Sứ quán đặt theo lệnh từ Hà Nội, một của “Amicale Trần Đức Thảo” do tiền còn lại từ những đóng góp để bác chi tiêu lúc sống. Và vài bó hoa cầm tay lẻ tẻ của người không thuộc nhóm thân hữu Trần Đức Thảo. Nhưng nghi thức hỏa thiêu chưa bắt đầu, mọi người bỏ lên sân chờ đợi cho thoáng mát, vì đây là một buổi sáng sớm có nắng đầu xuân. Tất cả chờ. Họ tụm nhau ở góc sân bên trái, để thì thầm bàn tán về cái chết đột ngột có quá nhiều nghi vấn của bác Thảo. Thông lệ là kiều bào ở đây rất hiếm cơ hội gặp nhau, nên chỉ có thể nói chuyện, trao đổi thăm hỏi tin tức trong những dịp ma chay như thế này.

Bỗng một xe Mercedes đen lớn, bóng loáng mang biển số màu xanh của ngoại giao đoàn lao tới. Xe ngưng ngay cạnh góc phải của sân, một vệ sĩ cao lớn mà người Pháp thường gọi với tiếng bình dân là “đười ươi” từ phía cạnh tài xế, vội tung cửa nhào nhanh ra để trịnh trọng mở cửa cho đại sứ Trịnh Ngọc Thái bước ra khỏi xe. Ông đại sứ nhìn thấy đám đông ở góc trái, thay vì tiến lại bắt tay trò chuyện với kiều bào của ông, ông lại ngần ngại, tránh né, bước qua góc phải đứng một mình một góc xa họ. Vài nhân viên sứ quán bỏ phía chúng tôi từ từ, khúm núm tới đứng quanh ông đại sứ.

Sau đó đại sứ Trịnh Ngọc Thái đi xuống phòng tang lễ, mọi người xuống theo. Đợi mọi người vào hết, đại sứ Trịnh Ngọc Thái chậm rãi rút ra từ túi áo vét, một tờ giấy, để chuẩn bị đọc. Ai cũng nóng lòng chờ đợi xem “đảng” và nhà nước tỏ thái độ ra sao qua bài điếu tang sắp được đọc đễ tiễn biệt người quá cố một thời nổi tiếng ngay tại Paris này.

Rồi ông đại sứ đọc. Hóa ra đây không phải là một bài điếu văn, mà chỉ là một bức điện tín vô cảm, ngắn gọn chỉ có vài dòng. Bức điện cho biết giáo sư Trần Đức Thảo được truy tặng huân chương Độc Lập. Chỉ có vậy thôi. Không một câu chữ lịch sự tối thiểu ca ngợi hay thương tiếc dành cho người quá cô. Đọc xong mẫu điện tín ngắn ngủi ấy, quan tài được chuyển vào lò thiêu. Ông đại sứ ra về ngay sau đó. Mọi người xì xào bình luận về bài điếu tang vắn tắt, vô cảm như thế. Một cụ cao tuổi lắc đầu, buồn rầu nói:

-Chắc bác Thảo nằm trong quan tài, cũng phải giật nẩy mình khi nghe thấy mình được gắn huân chương Độc Lập. Thật là không thể ngờ có một lối ứng xử hai mặt trái ngược nhau lúc sống, lúc chết như thế!

Vậy là chấm dứt một cuộc đời gian nan đầy ngang trái. Cầu cho vong linh nhà bác được vĩnh viễn…an nghỉ từ đây.

Chết rồi vẫn…gian nan!

Nhưng rồi sau cái chết, vong linh bác vẫn chưa được an nghỉ!

Bởi sau đó, thiên hạ lại bàn tán ồn lên về một tin buồn thảm: bình tro của bác đã được gửi về Hà Nội, nhưng bị bỏ vô thừa nhận dưới gầm cầu thang của một nhà đòn đám ma…ở ngay giữa thủ đô của nước Cộng hoà Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam!

Rồi nghe nói tình trạng này đến tai bà Nhất, người bạn đời đứt quãng của bác Thảo, làm cho bà trăn trở. Bà quyết định xin được đứng ra lo mồ mả cho bác.       Và mấy người thân của bác ở Hà Nội đã cố vận động để xây cho bác một mộ phần ở trong Nghĩa Trang Liệt Sĩ Mai Dịch, nơi dành cho những bậc có công với đất nước. Vì bác đã được ghi công bằng tấm huân chương Độc Lập. Nhưng sự vận động xin đất ấy đã bị chính quyền từ chối. Một cuộc tranh cãi và phản kháng nhỏ đã diễn ra. Chính quyền giải thích: nghĩa tràn liệt sĩ Mai Dịch chỉ dành cho bậc có công lao với đất nước. Còn với huân chương Độc Lập không thôi, thì Trần Đức Thảo chưa đủ tiêu chuẩn. Chẳng lẽ coi mấy cái nghiên cứu thuần sách vở ấy là công lao với đất nước…sao? (!)

Cuối cùng nắm tro tàn ấy đành phải mang về để trong một ngôi mộ do bà Nhất lo xây cất tại nghĩa địa của thường dân ở Văn Điển…Nhưng “người ta” đã đặt cách cho phép xây ngôi mộ ấy ở một đầu dãy! Thôi như thế cũng là một cách đối xử, tuy vẫn là một sự phân biệt giai cấp, nhưng cũng là tương đối tử tế. Chuyện phân biệt giai cấp, công lao kia cũng chỉ là thứ phù phiếm, chắc người như bác Thảo chẳng thèm khát thứ danh vọng ấy.

Nhưng rồi đến năm 2000, hương hồn bác Thảo lại bị phiền hà thêm một lần nữa. Bởi được nhà nước lại lôi vong linh bác ra để nhận thêm Giải Thưởng Hồ Chí Minh.

Nhưng rồi vong linh ấy vẫn chưa hết gian nan, vẫn còn bị sách nhiểu thêm nhiều lần nữa chứ chưa hẳn là đã được yên nghỉ! Vì cho tới nay vẫn cứ lai rai còn những bài báo “lê phải”, khi thì lôi ra những nghiên cứu vớ vẩn của bác để ca ngợi, để bày tỏ bác là người được chế độ. Khi thì để đề cao bác có tư tưởng rất trùng hợp với “tư tưởng Hồ Chí Minh”!!! Người ta tiếp tục tô hồng, đánh bóng lại một vóng dáng tiều tuỵ, uốn nắn lại một Trần Đức Thảo, không phải là cô đơn, mà là rất gần gũi, thân thiết với lãnh đạo!

Thực ra thì trong dư luận, đã có một phản ứng mỉa mai cay đắng ngay sau khi bác vừa về với cát bụi: hàng loạt bài báo ngậm ngùi tố cáo cách đối xử tàn nhẫn với một bộ óc hiếm có của dân tộc! Họ đã tả thực bằng cách giễu cợt cuộc sống gian khổ của một nhà triết học “từng tranh luận với Giăng Pôn Sác”, mà nay trở thành một kẻ ngớ ngẩn, túng quẫn, đói khổ, lúc nào cũng như ngơ ngác không biết thích nghi với cuộc đời và xã hội. Chỉ cần đọc lại mấy mẫu hí hoạ rất thản nhiên, rất “vô cảm” như thường thấy của một nhà văn lớn của “đảng” là Tô Hoài, trong hai cuốn “Chiều Chiều” và “Cát bụi chân ai…,” khi ông kể lể về một Trần Đức Thảo tiều tuỵ, đang cố tập ăn mặc nâu sồng, tập chịu đựng sốt rét…để bắt kịp “đà tiến bộ của các cậu,” nghĩa là của những người như Tô Hoài! Không thấy ai nói tới một sự chăm sóc, quí mến của lãnh đạo đối với “nhừ triết học lừng danh và được kính trọng” ấy.

Câu chuyện dài về một trí thức lớn, một nhà triết học quí hiếm của một dân tộc nhược tiểu, từ nơi quê hương kém mở mang, lạc hậu, nhưng luôn luôn tự hào một đất nước có mấy ngàn năm văn hiến, và đang chuyển mình thành một “con rồng” của châu Á, câu chuyện ấy đã không thể chấm dứt bằng một cái chết. Càng về sau, càng có nhiều bài báo giới thiệu, giải thích, ca ngợi về những gì nhà trí thức ấy đã nghiên cứu, đã viết, đã được công bố, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng…Tuy ở chính đất nước có ngàn năm văn hiến ấy, nhà trí thức ấy đã sống một kiếp đoạ đầy, không thấy một ai dám bênh vực, không thấy một hội đoàn, một cơ quan văn hoá, văn minh nào dám gióng lên một tiếng kêu cứu, để giúp nhà triết học có thể sống đàng hoàng, để che chở ông lúc bị đám đông “trí thức” xúm vào đánh đòn hội chợ. Vậy mà nay ông chết rồi, thì ông lại được huân chương, giải thưởng cao quí, lại được học trò cũ lao xao ca ngợi. Nay không ít người hãnh diện tự khoe từng là người thân cận, từng là bạn, là đồng chí, là học trò của nhà triết học ấy! Không thể hiểu thời địa này là thời đại gì mà lại lắm “thân thích” với nhà triết học như thế!

Điều đáng tiếc, đáng buồn là ít ai biết được rằng lúc cuối đời, chính con người, một thời từng chân thành tự nhận mình là người mác-xít ấy, đã giác ngộ, đã can đảm nhìn nhận thái độ a dua hèn hạ, đã thú nhận sai lầm của mình, để bác bỏ, phủ nhận những gì đã viết trong cái thời sai lầm vì cuống tín ấy. Và từ đó, nêu ra nhận thức mới, để đánh giá lại tư tưởng, sự nghiệp, với vấn đề công tội của Marx! Rồi nhà triết học ấy đã vội vã lao mình vào một công trình biên soạn một cuốn sách, “để chuộc lại những lỗi lầm, sai lầm” của mình!

Mấy người đã chứng kiến rõ sự việc này, tới nay vẫn còn im lặng. Không biết là họ bảo vệ ông Marx hay để bảo vệ chính họ? Hay là họ còn e ngại, sợ sệt…trước quyền lực ma quái vẫn đang bao trùm lên thân phận họ và lên xã hội mà họ đang sống?

Dù thế nào thì việc đánh giá cuộc đời và sự nghiệp Trần Đức Thảo sẽ là môt công việc khó khan. Bởi việc trả lại công lý cho Trần Đức Thảo cần tới lòng dũng cảm, cần có tinh thần lương thiện trí thức (mà không biết có hay không?), cần tới trí tuệ. Bởi con người ấy đã sống, đã nghiên cứu, đã trải nghiệm trong bối cảnh đầy nhiễu loạn tư tưởng, đầy diễn biến đau đớn, sôi động, phức tạp, trong cái thời lương tri con người bị lu mờ vì chiến tranh, vì cách mạng, tức là cái thời tràn đầy những thủ đoạn chính trị, những mưu kế gian xảo, vừa ngu tín, vừa cuống tín, khi thì đòi xét đi, khi thì phải “xét lại”, rồi là lại “chống xét lại”…!

Dù sao thì nhà triết học ấy đã tự bào chữa bằng sự can đảm thú nhận cái hèn, cái sai của chính mình, bằng sự kiên trì giữ vững lập trường chân thật của mình cho tới cùng.

Không ít người cho rằng cuộc đời ấy là một thất bại, vì đã không biết thoả hiệp với quyền lực đương thời, không biết thích nghi dù chỉ là trong một giai đoạn tạm thời, để “đi với Bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy”! Nhưng cũng nhờ vậy mà nay những gì mà nhà triết học để lại đều thuộc về một sự nghiệp khả tín, chân thật.

Không rõ sự thất bại trong chính trị của nhà triết học, có được coi là một thành tựu có ích cho triết học? Dù thế nào thì cuộc đời ấy cũng là sự trải nghiệm tuy đau đớn nhưng quí hiếm trong hiện thực khai triển cách mạng, chứ không phải trong sách vở. Đây là một bài học về sự vận động của thời gian, do con người, cho con người và cho xã hội, trong lịch sử cận đại…

Có người cho rằng nhà triết học Trần Đức Thảo đã thất bại vì cái tội ngông cuồng muốn làm một việc không thể làm, là trở về quê hương cộng tác với “cụ Hồ” xây dựng một mô hình cách mạng mới mẻ mà loài người mơ ước! Và ông đã chết vì tội thứ nhì là lúc cuối đời đã cố chứng minh cái gốc của mọi sai lầm và tội ác là do cụ tổ Marx, trong khi cung đình vẫn sùng bái, vẫn quả quyết bảo lưu rằng Marx “đúng” “duy nhất đúng”! Nhưng đối với tôi cả hai tội vừa kể đều không thể coi là tội, bởi mơ ước và hành động sám hối chuộc lỗi đều là quyền cơ bản cao quý của con người trí thức chân chính.

Tôi tin rằng trước ông đã có, rồi sau ông sẽ còn có, những người tiếp tục những công trình đội đá vá trời như thế. Nên sự ra đi đột ngột của ông tuy có thể là một dang dở, một tổn thất, nhưng không thể là một chấm dứt, một mất hẳn, một thất bại của triết học. Vì chứng tích của sự nghiệp ấy còn đó, cái “hiện tại sống động” mà ông đang hào hứng triển khai vẫn còn đó. Hậu thế vẫn có thể tiếp tục nghiên cứu nó để tìm hiểu nó thật cặn kẽ…

Nay thì những năm tháng cứ tiếp tục trôi đi, sự chờ đợi thành vô vọng. Lớp bụi thời gian cứ phủ lên mỗi lúc mỗi thêm dầy! Quái ác hơn nữa, theo sau sự quên lãng ấy, là những lớp bụi rậm, những lớp rác rưởi đã, vô tình hay cố ý, bao phủ, che khuất, như muốn lấp kín mọi sắc thái tư tưởng đích thực của ông!

Trần Đức Thảo đã cố gắng làm sáng tỏ chân lý bằng cách sống và cách làm việc của ông. Đó là vì tôn trọng sự thật, tôn trọng con người, chứ không vì danh lợi, không vì địa vị. Vì vậy, việc truy tặng huân chương và trao giải thưởng, dù là cao quý, dù là một cách chuộc lại những gì còn có thể chuộc của một thời lịch sử đã bị ô nhiễm vì gian dối. Thế nhưng hành động ấy có thể lại gây thêm một ngộ nhận, một sự phản bội lại tư tưởng độc lập của nhà triết học. Bởi Trần Đức Thảo đã có nhận xét về một lịch sử đã bị làm hỏng, làm bẩn, mà người ta khéo léo gọi đó là một thời đầy những “mảng tối”! Hu vọng rồi đây, sẽ tới một thời trong sáng, sạch sẽ, liêm khiết, một thời dũng cảm, để làm công việc giải tà, dọn rác cho lịch sử, chứ không phải để cố duy trì những cái “duy nhất đúng.” Bởi những cái “duy nhất đúng” ấy đã làm ô danh cả lãnh tụ, cả “đảng” lẫn cả cách mạng.

Sau này, chừng nào hậu thế đó có đủ điều kiện lương thiện trí thức, để mở lại vụ án<< Nhân Văn – Giai Phẩm>>, để có thể trả lại công lý cho cái phong trào tư tưởng tiến bộ ấy, cho lớp người thật sự là “tiên tiến” như Trương Tửu, như Nguyễn Hữu Đang…như cả Trần Đức Thảo…thì lúc đó mới có thể làm sáng tỏ để đánh giá tầm vóc cuộc đời và sự nghiệp, và cả về cái chết đột ngột, của Trần Đức Thảo.

Chỉ lúc ấy, hậu thế mới có thể biết rõ được giá trị sự nghiệp mà Trần Đức Thảo đã hết lòng mơ ước và đã dày công tạo dựng là như thế nào.

Đấy là một Trần Đức Thảo bi thảm, như tôi đã thấy đã gặp và đã được nghe ông trải bầy tâm sự.

Đấy là một con người tàn tạ trong gian nan, hối hận. Đấy là một cuộc đời bi thảm …mang đầy thương tích thối tha của hận thù và bạo lực. Nhưng bộ óc ấy vẫn trong sáng, không oán thù ai, mà chỉ hối hận về sai lầm, về sự im lặng của chính mình, tự thấy mình mang tội đồng lõa với sai lầm trong một thời gian quá dài. Đấy là công, tội của một kẻ tôn thờ chân lý. Không ít người cho đấy là một nỗi đau, một thất bại của nhà triết học khi đã dại khờ lao mình vào đống rác của lịch sử…với giấc mộng cuối cùng, là sẽ mang công sức và trí tuệ của mình ra để làm sạch lịch sử, làm sạch cách mạng!

Tuy vô tài, bất tướng, văn dốt, vũ dát, tôi cũng muốn gắng làm chứng cho bộ óc thông thái vô cùng bi thảm ấy. Bi thảm vì thấy mình uổng phí cuộc đời: lúc có thể, lúc nên nói, nên vùng dậy để bênh vực con người và những giá trị văn minh văn hoá, để dũng cảm ngăn chặn tội ác, để uốn nắn cách mạng theo hướng thiện, thì ông đã không làm. Nay thấy cái sự im lặng trong suốt mấy chục năm qua là đã đồng loã với cái sai, với cái dối, cái ác. Bỉ thảm vì vào lúc hoàng hôn cuộc đời, nỗi hối hận đã thiêu đốt ông, đã hối thúc ông phải vùng dậy để thành công, để chuộc tội. Nhưng than ôi, đã quá trễ! Cái chết không cho ông chuộc lại tội đã uổng phí cuộc đời, uổng phí bao nhiêu năm ăn học, uổng phí bao nhiêu năm nghiền ngẫm suy tư…về cách mạng!

Với bài học của đám trẻ nghèo khổ phải kiếm sống trên những bãi rác bao la, nhưng chúng có con mắt tinh anh, bén nhạy, nhanh tay bới tìm ra từ đống rác đó nhưng gì còn dùng được, tôi cũng muốn cố bới tìm trong đống rác lịch sử đương đại, để nhặt nhạnh, từ cuộc đời và sự nghiệp dang dở Trần Đức Thảo, một chút gì còn dung được. Chẳng lẽ một cuộc đời đầy ắp tư duy thông thái ấy đã không để lại được chút gì hữu ích cho hậu thế? Chẳng lẽ tôi cứ thản nhiên, vô cảm đứng nhìn cái cái đống rác thối rửa vĩ đại ấy vĩnh viễn vùi lấp ông sâu vào thối tha và quên lãng? Như vậy thì cuộc đời bi thảm ấy thật là lãng phí. Bởi thế, tôi cố kể lại, chia sẻ cùng bạn đọc, cái may mắn của tôi vì đã được triết gia Trần Đức Thảo coi như người thân, để ông tâm sự nỗi niềm. Tôi đã lắng nghe ông vì cuộc đời ông tuy bi thảm, nhưng đã tích luỹ nhiều điều thật hay, cũng hữu ích cho người nghe, là…tôi.

Phục lục

Chép lại từ cuốn băng ghi âm mấy lời tâm sự của gs Trần Đức Thảo mười hai ngày trước khi ông lìa đời.

(Hôm ấy, là thứ Ba 12 tháng Tư năm 1993, vào khoảng gần 6 giờ chiều, mấy an hem chúng tôi tới “Nhà Việt Nam” ở đường Cardinal Lemoine, quận 5, Paris, để nghe gs Trần Đức Thảo thuyết trình tiếp như thường lệ mấy phần đầu của một cuốn sách đang được ông soạn thảo, thì bất ngờ thấy nhiều người có vẻ bực tức, lục tục bỏ ra về. Khi chúng tôi vừa tới, họ mách bảo: “Buổi thuyết trình bị cấm rồi”…Nhưng sau đó, chúng toi cũng vào được để tìm hiểu lý do. Lúc đó gs Thảo đang thầm thì với anh Dũng, bên cạnh đó anh Lê Tiến (LT) trong phòng hội của “Nhà Việt Nam”. Anh LT cùng gs Thảo kéo tôi bước sang một phòng nhỏ phía sau để nói chuyện cho kín đáo tránh những cái nhìn đang thắc mắc tại sao bỗng nhiên lại có lệnh cấm buổi nói chuyện đã được loan báo từ trước. Chính trong căn phòng nhỏ này, tôi đã ghi âm lại những lời tâm sự mà nay nó trở thành những lời trăn trối quan trọng và rất cảm động).

Và sau đây là bản chép ra từ phần ghi âm ấy.

Như những lời trăn trối

Trước sự thất vọng vì buổi thuyết trình dự trù đã bị cấm quá đột ngột, gs Thảo đã bực bội nói ra những gì bác đã cất giấu trong đầu lúc đó. Bác lớn tiếng, tay đập xuống bàn, dằn từng tiếng mà nói:

-Chỉ tại tôi muốn nói ra là chính Marx sai.

Tôi hỏi:

-Tại sao bây giờ bác mớ nói Marx sai?

Bác Thảo lại đập mạnh tay trên bàn một cách giận dữ:

-Bây giờ tôi mới nhận ra là chính ông Marx sai. Chứ không phải là ông Marx nói đúng rồi học trò học sai. Chính ông Marx cũng sai.

-Nhưng bây giờ lại có phong trào đòi “đọc lại kinh điển”…

-Đấy! Thì mấy cái thằng đòi đọc lại kinh điển, rồi chúng nó vẫn cứ thế…Đến lúc có gì kiểm thảo lại thì lại bảo: sai là chúng tôi sai, chúng tôi sẽ đọc lại Marx. Nhưng mà chính ông Marx cũng sai. Rồi cứ thế luẩn quẩn mãi thế…

-Bác phải chỉ cho họ thấy chứ!

-Thì hiện nay tôi đang chỉ, vì thế mà chúng nó muốn đè đầu tôi. Nếu mà không nhận ra là ông Marx sai thì không thể nào thoát ra khỏi chỗ này được.

-Nhưng mà “lần này” là còn phải bao lâu nữa bác mới chỉ rõ cho họ biết được?

-Còn độ vài tháng nữa thôi. Có lẽ tôi cũng phải làm sớm hơn, có lẽ cũng chỉ hai ba tháng nữa thôi. Tại vì để lâu quá rồi. Vì chúng nó vẫn cố giữ địa vị. Hiện nay thất bại như thế rồi nhưng vẫn cố giữ địa vị, cố giữ cái món ăn tiền…cứ bảo vệ ông Marx. Bảo sai là chúng tôi sai, nhưng ông Marx ấy đúng. Cứ bảo vệ ông Marx.

-Bây giờ có mấy cái nghị quyết muốn xiết lại…

-Tai hại nhất là cái thằng Balibar ấy, cái thằng ấy là nó lại là siêu Marx! Nó giả vờ đứng về phía Marx để nịnh mấy cái thằng kia đã vốn đội Marx lên trời…Nhưng nó lại còn quá nữa, nó còn siêu hơn cả Marx nữa…

-Tức là thứ ultra đấy…

-Ừ tức là lũ ultra đấy. Thế mà cứ loanh quanh mãi…Rồi nói là chúng ta học sai. Rồi lại cứ ông Marx mãi.

-Nếu vậy thì bác phải kịp thời chỉ ra cho họ thấy chứ!

-Thì tôi đang chỉ cho họ thấy, thì cũng độ sáu tháng nữa…vì thế mà chúng nó đàn áp tôi. Nếu mà không rời ông Marx thì cứ luẩn quẩn mãi…

Anh LT chặn lại:

-Bác nói ai sai cũng được, nhưng mà phải khiêm tốn một chút…Cũng như khi Euclide viết ra cái định đề toán học, cũng có người nói ông ấy sai, nhưng…

-Không! Cái này không thể chỉ như toán học được…

-Nhưng mà bây giờ muốn hỏi bác, bác nhận thấy Marx sai từ lúc nào?

-Từ cuối năm ngoái (Tức cuối năm 1992). Tôi nhận ra rằng ông Hegel ông ấy sai, rồi ông Marx lấy lại cái phương pháp của ông Hegel. Chính cái phương pháp ấy sai. Ông Marx bảo phương pháp ấy đúng, ta cứ lấy lại…nhưng thực ra là phương pháp ấy sai…

-Bác phải chỉ ra cho rõ cái điều ấy chứ…

-Ừ thì đấy, tôi đã chỉ ra trong cái bài đầu. Bài đầu và bài thứ hai. Chính là phương pháp ấy sai, ông Marx lại lấy lại phương pháp ấy…

-Nếu thế thì bác phải phủ nhận những gì đã viết ra từ trước tới giờ?

Bác Thảo (gõ mạnh xuống bàn):

-Tất nhiên rồi. Tôi nói rõ ra như vậy, tất nhiên là phải phủ nhận. Tất nhiên là phải phủ nhận! (Chúng tôi nghe và im lặng hồi lâu như bị sốc). Ông Marx tưởng là ông Hegel đúng, ông Marx lấy lại phương pháp của ông Hegel, khổ thế. Chính là ông Hegel cũng sai.

-Bác phải làm sao chỉ ra như vậy chứ.

-Thì trong hai cái bài đầu, tôi đã chỉ ra ông Hegel sai…

-Nhưng mà chưa rõ lắm.

-Nếu mà không vạch ra được ái chỗ ấy thì cứ luẩn quẩn mãi. Cái bi kịch của cách mạng ta là cứ bảo Marx đúng, nhưng mà ta không hiểu, nên ta vận dụng sai, rồi cứ luẩn quẩn đi học Marx mãi.

Anh LT:

-Cái bi kịch của cách mạng ta, dù sao đi nữa thì cũng có hai giai đoạn, một giai đoạn cách mạng dân tộc giành độc lập cho đất nước…

-Đấy không phải là giai đoạn cách mạng vô sản, sau rồi nó mới làm cách mạng vô sản, rồi nó mới chia ruộng, mới đấu tố…Còn cách mạng dân tộc thì đúng quá rồi! Cách mạng dân tộc thì đúng quá rồi! Nhưng mà cái mà đưa ông Marx vào ấy, bảo rằng cách mạng dân tộc chưa ăn thua gì hết, phải theo đường lối: của nhà nước là của chung ấy…chiếm công vi tư theo cái kiểu nhà nho…

Anh LT:

-Dù sao thì trong giai đoạn đầu…

Bác Thảo chặn lại:

-Giai đoạn ấy thì chưa thò ông Marx ra…

-Nhưng mà ở nhà bây giờ người ta lại nêu ra tư tưởng Hồ Chí Minh…

Nói tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng lại là lòi ông Marx… (Tay đập bàn) Mà vận dụng Marx là nó sai từ gốc! Ở nhà chúng nó cứ bảo tôi: cứ giữ danh nghĩa ông Marx thì ăn tiền. Chúng nó biết tôi nghiên cứu về Marx thì nói thế. Chính cái anh học mót về Marx ấy bảo tôi: “Sai là chúng tôi sai vì chúng tôi dốt nên chúng tôi sai, bây giờ chúng tôi lại học Marx…”

Anh LT:

-Nhưng bây giờ người ta nói tư tưởng Hồ Chí Minh nhiều hơn…

-Thì Hồ Chí Minh thì vẫn là Marx, tất nhiên ông ấy khôn hơn, ông ấy nói ra một cách đại chúng … nhưng cũng vẫn là Marx, nghĩa là sai tận gốc…

-Như cải cách ruộng đất thì có phỉa là Marx không?

-Cải cách ruộng đất chính là theo tinh thần Marx. Vì thế mà nó sai. Nó sai vì ông Marx, chứ không phải nó sai vì hiểu lầm.

Anh LT:

-Từ trước tới giờ không có ai nói là Marx sai…

-Ông Marx sai trước hết là vì ông Marx lấy lại phương pháp của ông Hegel, mà chính ông Hegel sai, sai vì phương pháp. Lại thêm một điểm nữa là vì ông Hegel nói trên trời thì không đến nỗi tai hại quá… Marx lấy lại tư tưởng phương pháp của Hegel làm cho cái học thuyết nó sai… Như là trong cái chính sách kinh tế mới của Lénine ấy…

Anh LT tiếp tục chặn lại:

-Cái kinh tế mới ấy là đúng nhưng con người thi hành kinh tế mới ấy chưa phải là con người xã hội chủ nghĩa.

-Kinh tế mới là đúng, nhưng có người nói theo Marx là nó sai, thế nên Lênine thua. Mà chính là do Marx sai nên mới dẹp nó đi…

-Dù thế nào thì bác cũng chưa nói thật rõ…

-Thì trong hai cái bài đầu, tôi chứng minh là cái dialectique của Hegel là sai, mà ông Marx lại lấy cái dialectique ấy thì lại càng sai. Vì sao? Vì Marx đưa từ trên trời xuống dưới đất.

-Sao bác không nói thẳng ra như vậy…

-Không thể nói thẳng, nó rõ ngay ra tất cả như thế được. Vì chúng nó đang đả tôi như thế, chúng nó đánh cho vỡ đầu ra…Nhưng nay đã là quá lắm rồi, đã sai lầm như thế rồi mà chúng nó cứ mác-xít mãi, chúng nó cứ vin vào bảo Marx đúng, sai là chúng tôi sai… Nhưng thật ra đã sai từ gốc…

Anh LT lại nói:

-Cháu chưa thấy ai đã nói ra như vậy.

-Ở nhà không có ai dám nói ra như vậy. Mà ở đây cũng không có ai nói ra như vậy. Mà tôi nhận thấy nếu không nói ra như vậy thì cứ luẩn quẩn mãi, đã thất bại như thế lại cứ ông Marx mãi…cứ đọc lại kinh điển

Anh LT:

-Bác không dung marxisme nữa thì dung cái gì?

-Thì phải dùng cái khác!

-Cái khác là cái gì?

-Là cái mà tôi đang xây dựng. Cái mà tôi đang xây dựng bước đầu, là hoàn toàn mới. Chứ mà cứ theo Marx mãi là không được…

Anh LT:

-Theo trong lịch sử triết học thì phương đông kể từ Khổng Tử, Mạnh Tử rồi Lão Tử, còn phương tây thì là từ Aristote tới Descartes…

-Tất cả những cái đó thì nó sai rồi…

Anh LT:

-Bác nói như thế thì từ khi con người xa rời cái thế cầm thú mà bác nói nó sai thì…

-Những cái của thời đó thì có thể thử nghiệm được, nhưng nay thì nó không còn dung được…

(…Cuộc tranh luận giữa gs Thảo và anh T trở nên gay go và lộn xộn rất khó nghe rõ nên xin gác qua đoạn này để chú ý đến lời lẽ của gs Thảo sau đó).

Anh LT:

-Cháu thấy bác dù sao cũng nên thận trọng…

-Thì nay mới bước sang phần thứ tư, còn trong ba cái phần đầu, chúng nó có nói gì nổi đâu. Nếu chúng nó mà phá được, thì tôi chết rồi… Tôi không còn ngồi đây nữa. Nhưng đánh vào quyền lợi của nó thì tuy nó không làm được gì, nhưng nó bịt đầu, bịt đuôi không cho sống. Nếu mà nó đánh được thì chết ấy chứ.

-Nhưng bác phải chỉ rõ cái đường hướng mới ấy chứ.

-Thì những cái mà tôi đã viết, nhất là trong ba cái bài đầu ấy, chính chúng nó không bẻ được thì tôi mới còn sống…

Anh LT:

-Cháu nói cái này cũng chỉ là để information thôi, để mà thấy chuyện chung thôi, chứ không phải là phê bình bác. Nhiều người, trong đó có những người đã viết thư cho bác… Thì người ta nói những điều bác viết, những điều bác nghĩ cũng như mấy cái proposititons của bác, thì… (mấy tiếng Pháp này nghe không rõ…) nhưng tới bây giờ trên phương diện trao đổi giữa người với người, xưa nay chưa có ai nói những cái như bác viết…

-Thì cho tới nay tôi chưa đưa ra được những điểm cần thiết…Làm thì không thể nào trong bốn tháng mà làm xong được… Cái mà tôi nhận ra thì mới trong sáu tháng thôi.

Anh LT:

-Mà bây giờ thì thời gian cũng không có, vấn đề sức khoẻ của bác rất là giới hạn, rồi chương trình công tác nó đòi hỏi nóng hổi, phải nhanh phải lẹ. Mà với điều kiện sinh sống của bác như thế này, với phương tiện vật chất của bác như thế này, thì cũng pahir làm cho lẹ…

-Những cái tôi làm, không thể đi thẳng vào vấn đề, vào con người và xã hội hiện nay… Mà xã hội hiện nay nó xuất phát từ cả một lịch sử xã hội…Mà lịch sử xã hội nó xuất phát từ cả một cái lịch sử động vật… Tất cả những cái đó là cần thiết phải thông qua… Thì đấy, tôi cũng đã nói rất là đơn giản, nhưng mà cũng phải nói, cũng mất công…Mà công thì không thể nào bốn tháng mà làm xong được. Làm xong thì cũng chỉ năm hay nói chậm ra cũng chỉ sáu tháng thôi… Mà hiện nay tôi tới tuổi già rồi mới nhận ra, mà tới tuổi già rồi mới có điều kiện nhận ra, chứ trước có ai dám động tới cụ Marx đâu.

(Mấy câu này do gs Trần Đức Thảo nói ra để phác hoạ mấy chương của cuốn sách mà ông đang hình thành, nhưng không kịp nữa.)

Trở lại với cuộc đối thoại, anh T lại nói:

-Cái đó là thói quen của bác ở trong nước, chứ ở đây nó đụng tơi bời…

-Nó đụng nhưng nó không có một chính truyền… Tôi là người đầu tiên dám đụng tới Hegel. Ở ngoài không ai dám đụng tới Hegel, cứ nghe ông Hegel như là thánh, còn thì là do không hiểu, nên không ai đụng tới Hegel…

Anh LT:

-Ở đây thì họ vẫn đụng tơi bời…

-Nhưng không ai đi vào cái gốc tức là cái phương pháp.

-Tức là logique và dialectique…?

-Thì đấy! Thì cái ấy đấy, chưa ai đụng đến. Nếu đụng tới thì anh phải có một cái mới…Nếu mà không có một cái mới thì không ai dám làm gì…

Anh LT:

-Có thể là từ Marx tới bây giờ thì chỉ có một ông Trần Đức Thảo dám đặt lại vấn đề…

-Tôi không phải là người đầu tiên, mà có từ ấy…Nhưng mà tôi là tôi nói cho nó rõ, rồi tôi phát triển được… nhưng cái đó thì mới lắm…chưa bao giờ…Mới bắt đầu có từ những năm ba mươi, thì tôi phát triên được… Ông Husserl thì nói từ những năm ba mươi nhưng ông ấy theo phe duy tâm…

Anh LT:

-Bây giờ lại nói Marx là học trò ông Hegel… thì bây giờ…

-Không! Bây giờ thì phải làm lại… Lần đầu tiên tôi làm đến nay, nghĩa là những cái tôi làm rồi thì chưa ai bẻ được. Mà không thể nào bẻ được. Thì là lần đầu tiên với một phương pháp mới, chưa bao giờ có cái phương pháp ấy… Trước đây ấy, có hai qui trình: qui trình vin vào dĩ vãng… rồi cứ nhớ lại dĩ vãng. Rồi nó lý tưởng háo dĩ vãng, thần thánh nó…lấy nó làm gốc. Thế rồi có những cái nó lại đi trước, nó thiên về tương lai… khổ nhất là Marx…ông ấy đã đặt cái tương lai lên trước cái hiện tại…để bảo rằng: “Sau này thì sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản…thì sẽ gì, gì đấy…”

Đến đây thì cuốn băng bị hết nên không ghi âm được đầy đủ phần chứng minh của gs Thảo nói về vấn đề “chính Marx đã sai…”

Cũng xin nói thêm cho rõ: đáng lẽ rag s Thảo tới Nhà Việt Nam hôm ấy là để diễn thuyết về đề tài “La Théorie du Présent vivant comme Théorie de l’Associativité (Lý thuyết hiện tại sống động như là lý thuyết của liên hợp tính).”

Nhưng anh Dũng người trực phiên tại Nhà Việt Nam hôm ấy cho biết có lệnh thôi không cho tổ chức các buổi thuyết trình như vậy nữa. Hôm ấy gs Thảo cầm tới một số tư liệu sao ra bằng photocopie về các đề tài đã thuyết trình bằng tiếng Pháp để bán. Trong đó có đề tài của buổi thuyết trình hôm ấy, nhưng rồi bbij cấm. Tập tư liệu bằng tiếng Pháp ấy bác ghi rõ là “Edité par l’auteur (do tác giả ấn hành)” và có ghi ngày in là 12-4-1993.

Rồi có tin bác giận dữ tính họp báo để tuyên bố chọn tự do!

Nhưng tiếc thay, đến ngày 24-4-1993 thì bác Thảo đột ngột qua đời.

Cũng xin nói thêm là cuốn băng ghi âm này và vài cuốn băng ghi âm mấy buổi nói chuyện khác của bác, tôi sẵn sang trao lại cho những ai muốn nghiên cứu về bác Thảo, đặc biệt là nếu có thư viện nào muốn lưu trữ tư liệu của chính Trần Đức Thảo.

2013

(còn tiếp)

Nguồn: Trích từ sách “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối” của Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ 2014. Tựa đề của VV. Bản điện tử của VV

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO (Phần cuối)

(tiếp theo)

BẠT

Trần Đức Thảo đã ra đi và Việt Nam mất đi một triết gia. Song điều đó có nghĩa gì đối với một đất nước có quá nhiều mất mát, ở một nơi mà do cuồng vọng của lãnh đạo, hàng triệu gia đình đã mất cha mất con, mất vợ mất chồng, đôi khi mất cả hai ba thế hệ, mất cả không ít trẻ thơ là mầm non của đất nước?

Song ta có thấu hiểu về sự mất mát của chỉ một người như Trần Đức Thảo, ta mới trông ra hết cái thảm kịch của một dân tộc bất hạnh như dân tộc Việt Nam.

Từ nhỏ ông đã học giỏi, song điều đó không lạ, không hiếm ở một đất nước có truyền thống hiếu học. Lớn lên ông vẫn nổi bật giữa chúng bạn, trong một ngành mà không mấy người Việt Nam đi vào, còn ở ngay một môi trường không phải là của ta.

Người ta bảo người Việt Nam không thích triết bởi cái tính thực tiễn, thiết thực ở nơi ta. Với loại triết lý “thằng Bờm”, ta sẵn sàng để những vấn đề nhức đầu nhức óc cho người khác. Chẳng thế mà người ta bảo người Việt bình thường chỉ có loại triết vụn chứ không có triết học.

Vì sao?

Vì triết học đích thực đòi hỏi những tư duy tập trung, sâu sắc, dài hơi và dài hạn, để cho cái nhìn của ta trở nên hệ thống. Dựng nên một hệ thống triết học liền lạc, do đó, không phải là ai cũng làm được mà không làm được thì làm sao có thể sánh với những bộ óc lớn của nhân loại?

Chính vì thế mà cái học lên đến cỡ của một Trần Đức Thảo hay Nguyễn Mạnh Tường thời tiền chiến không phải là dễ, đạt đến mức của một Nguyễn Xuân Vinh hay Trịnh Xuân Thuận, Ngô Bảo Châu đời nay là đã trở thành những bảo vật mà xã hội cần gìn giữ, cưu mang. Bởi những con người như vậy không tự nhiên sinh ra mà xuất chúng. Cái giỏi của họ là kết quả của bao nhiêu tu luyện, để một ngày kia họ có thể trở lại đền đáp cái xã hội đã nuôi dưỡng tài năng của họ.

Những con người như vậy sẽ đem lại vinh quang cho xã hội sản sinh ra họ và họ càng đóng góp được cho cái nhân loại bao nhiêu thì họ càng làm vẻ vang cho cái nguồn gốc của họ bấy nhiêu.

Vùi dập những tài năng như vậy, do đó mà thành một trọng tội. Không phải chỉ chúng ta nghĩ như vậy. Ngay một người đi theo “Đảng và Bác” bao năm như nhà thơ Huy Cận mà cũng trông ra cái mất mát to lớn của một người như Trần Đức Thảo.

Sau khi được tin ông chết, có lẽ qua con ông là Cù Huy Hà Vũ lúc bấy giờ đang học ở Paris, Huy Cận ở tận Hà Nội đã phải thốt lên:

NHÀ TRIẾT HỌC

Tặng hương hồn Trần Đức Thảo

Anh sinh ra ở miền Kinh Bắc

Đất nước thâm trầm nuôi dưỡng anh

Cha ông sông lắng dòng sâu sắc

Suy ngẫm nhân sinh tập đại thành

Cổ kim suy tưởng ôm hành động

Chân lý rèn trong lửa cuộc đời

Thế kỷ hai mươi hồn mở rộng

Gốc xưa nhựa ấm bật cành tươi.

Chao ôi dao động, lòng chao đảo

Ai héo nhân văn, xấu kiếp người!

Đã có giữa đời Trần Đức Thảo

Người ơi vững gót (1) trụ đất trời.

Triết nhân tẩn mấn như con trẻ

Từ tiếng u ơ tìm lại nguồn

Ngôn ngữ lắng trầm nghìn thế hệ

Giọng người đâu phải tiếng chim muông.

Triết nhân có phải tăng nguồn sống

Cho mỗi hồn ta, cho thế nhân

Vất vả đường ai, nhưng gió lộng

Nâng chân muôn dặm bước hài văn.

Huy Cận

5 giờ sáng ngày 11-7-93

(1) Ngạn ngữ xưa: “Biết cắn môi để chịu thiệt, Đứng vững gót mà làm người.”

Trong bài thơ Huy Cận nhắc đến một tác phẩm lớn của Trần Đức Thảo, cuốn Recherche sur l’Origine du Langage et de la Conscience (mà đã được Đoàn Văn Chúc dịch sang Tiếng Việt là Cội Nguồn của Ngôn Ngữ và Ý Thức), một trong những tác phẩm chính làm nên sự nghiệp triết học của Trần Đức Thảo—cũng như đã xây dựng tên ông thành một triết gia của nhân loại trong thế kỉ 20.

Theo Cù Huy Chữ thì từ năm 1991 Huy Cận tuy không hiểu lắm định nghĩa của Trần Đức Thảo về học thuyết của ông là “hiện tượng học Mác-xít, đúng hơn nên gọi tôi là nhà duy vật biện chứng nhân bản,” song nhà thơ vẫn công nhận ông là “một nhà khoa học vĩ đại đang cần mẫn sống và làm việc cho đất nước, cho dân tộc, cho sự phát triển tự do của con người.”

Như vậy thì dù như Trần Đức Thảo bị CSVN bao vây hàng mấy chục năm từ khi “héo nhân văn” (1956), không cho làm gì ngoại trừ ngồi dịch mấy cuốn sách Pháp (một cách dùng người thật lạ kỳ, tương tự như dùng một ông giáo làm việc của học trò), ở ngay trong chế độ (Huy Cận đã có một thời gian dài làm bộ trưởng Văn hoá ở miền Bắc) vẫn có người nhìn ra chân giá trị của ông.

Song cũng tinh lắm thì mới nhìn được ra như thế. Chứ bề ngoài thì triết gia Trần Đức Thảo, sau bao năm bị chế độ trù dập, có thể nói là không “ấn tượng” lắm. Khi ông được sang Pháp vào cuối đời (tháng 3/1991 đến 21/4/1993), ban đầu ông đã gây được sự chú ý nhờ tiếng tăm của ông từ 40 năm trước. Nhưng khi người ta tò mò đến nghe ông thì chỉ thấy một ông già nhếch nhác, lại còn bị thối tai, mà xem chừng rất dè dặt, kín đáo (đâu mấy ai biết ông bị bao vây bởi các “đồng chí” ở Sứ quán) nên trước công chúng không dám nói thật mà phải nói quanh co, nói triết học xem chừng rất khó khan. Chẳng bao lâu, ông mất dần thính chúng… để đi đn chỗ lèo tèo với đôi ba người là có can đảm ở lại với ông đến cùng.

Nhưng đằng sau cái bề ngoài không mấy ấn tượng đó là cả khối tinh ròng suy nghĩ ấp ủ một đời mà may mắn chúng ta có nhà văn Tri Vũ Phan Ngọc Khuê nhờ thiện duyên đã làm thân được với ông để ghi lại những lời cuối, những lời xem như trăng trối của Trần Đức Thảo.

Cuộc đời Trần Đức Thảo xem như cuộc đời tan nát vì “cách mạng” mà ông đã chọn phục vụ vào năm 1951 nên mọi sự trở nên lỡ dở. Cuộc đời đó có thể xem như bài học “an object lesson” đối với những ai để cho tình cảm, lý tưởng che mờ đi lý trí, kinh nghiệm. Không những ông mất vợ, không có đời sống gia đình, không có cả tự do trong bóng tối làm những việc ông muốn làm cho quê hương đất nước của ông. Sự nghiệp triết học của ông là một sự nghiệp dang dở.

Cuối đời, dù được cho đi Pháp ông vẫn bị bao vây nếu không muốn nói là ám hại. Cũng may là bên ông còn có một số người thân đi lại chăm sóc cho ông, trong đó có thể kể vợ chồng Cù Huy Hà Vũ lúc bấy giờ đang học ở Pháp. Theo lời kể của Luật sư Dương Hà, lúc ông Trần Đức Thảo mới được sang Pháp thì Cù Huy Hà Vũ còn đang thực tập ở Sénégal (Tây Phi châu) nhưng sau khi ở đó về, vợ chồng chị thường đến thăm ông Trần Đức Thảo vào cuối tuần. Vì ông không có thu nhập gì đáng kể nên vợ chồng chị hay đi mua nước đến cho ông, và trong khi Cù Huy Hà Vũ chuyện trò trao đổi với ông thì chị dọn dẹp chung quanh phòng cho ông.

Mãi vào những ngày chót, mới có tin vui là Giáo sư Jean Dupèbe dạy ở Pari VII (khuôn viên Sorbonne ở Quận 5 Paris) vận động được cho Trần Đức Thảo một món tiền hưu để đảm bảo cuộc sống cho ông ở Pháp. Song ngân phiếu đầu tiên là 3000 francs mới đến ông chưa kịp tiêu thì đã mất. Theo lời kể của một nhân chứng thuộc Sứ quán, vào phút chót ông chỉ biết kêu: “Vũ…Vũ…”

Ký ức cuối cùng mà triết gia Trần Đức Thảo để lại nơi một số người quen là một hình ảnh khá vô nghĩa: ông thích đội mũ len!

NGUYỄN NGỌC BÍCH.

Springfield, Virginia

Mùa Giáng Sinh 2013

Nguồn: Trích từ sách “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối” của Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ 2014. Tựa đề của VV. Bản điện tử của VV

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen