Nguyễn Vũ Bình

Tôn giáo là con đường và cầu nối dẫn tới một thế giới khác, thế giới tâm linh. Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu trong thế giới loài người. Các tôn giáo có nhiều sự khác nhau về niềm tin, giáo lý, tổ chức, sinh hoạt… nhưng đều có chung những nền tảng như: rao giảng tình yêu thương của con người, hướng con người yêu thương con người; khuyến khích con người làm điều thiện, tránh điều ác; đề cao và phát huy các đức tính tốt đẹp của con người…

Chủ nghĩa Cộng sản, mà đại diện là các chế độ cộng sản, hay các nước Xã hội Chủ nghĩa đã và đang tồn tại có mục đích thống trị nhân dân, người dân ở các nước. Mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là thống trị nhân loại, nhưng loài người đã may mắn tránh được họa cộng sản trên phạm vi toàn cầu. Không những thế, các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đã bị sụp đổ vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Với mục đích thống trị nhân loại, thống trị nhân dân ở các quốc gia, các chế độ cộng sản đã sử dụng các chiến lược gieo rắc sự sợ hãi, tạo lập sự lệ thuộc của người dân vào nhà nước, kiểm soát tư tưởng của người dân để thiết lập một hệ thống độc tài toàn trị cộng sản. Để duy trì sự thống trị, các chế độ cộng sản phân chia các giai cấp, và kích động những bản tính xấu xa của con người như lòng tham, sự độc ác, tính vô cảm, hận thù. Đặc biệt, các chế độ cộng sản muốn người dân bị chia rẽ, cô lập và không muốn người dân yêu thương nhau. Đó là các điều kiện để duy trì sự thống trị của các đảng cộng sản đối với nhân dân.

Khi các chế độ cộng sản được thiết lập ở các quốc gia, với bản chất và phương thức cai trị như trên, hoàn toàn đối ngược với truyền thống của các tôn giáo. Chính vì vậy, tôn giáo là mục tiêu đầu tiên, quan trọng nhất để các chế độ cộng sản tiêu diệt và đánh phá. Bởi vì tôn giáo bao hàm niềm tin, các tổ chức tôn giáo (có tổ chức chặt chẽ, có tổ chức lỏng lẻo…), lực lượng giáo dân, tín đồ vô cùng đông đảo, đức tin tôn giáo được bồi đắp từ nhiều năm, nhiều thế hệ không dễ phá hủy nên các chế độ cộng sản đã phải sử dụng tất cả các biện pháp, các lực lượng, phương tiện và thủ đoạn để triệt phá và vô hiệu hóa các tôn giáo. Nghiên cứu về phương thức, chính sách, âm mưu và thủ đoạn của nhà cầm quyền cộng sản triệt phá các tôn giáo, chúng ta sẽ hoàn thiện bức tranh về chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện hữu ở Việt Nam.

Trước khi đi vào tìm hiểu âm mưu và phương thức của nhà cầm quyền đối với tôn giáo, chúng ta cần hiểu qua về đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam. Có hai đặc điểm cần lưu ý. Thứ nhất, Công giáo ở Việt Nam có giáo hội tổ chức rất chặt chẽ, là chi nhánh của giáo hội La mã, có sự liên thông với Công giáo toàn thế giới. Nhưng nhiều tôn giáo khác, tổ chức không được chặt chẽ như Công giáo, và không có mối liên hệ trực tiếp, chặt chẽ với nước ngoài như Công giáo. Thứ hai, chỉ sau năm 1975, Việt Nam mới có nhiều tôn giáo rơi vào vòng kiểm soát của cộng sản, và đó là các tôn giáo không khuất phục trước nhà cầm quyền cộng sản như Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài…

Có thể nói, chiến lược, chính sách của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo được chia thành hai giai đoạn, tương ứng với hai giai đoạn cầm quyền của đảng cộng sản Việt Nam. Giai đoạn mới cướp được quyền lực, thực hiện các cuộc chiến tranh và còn được bảo trợ từ phe Xã hội Chủ nghĩa và giai đoạn hội nhập sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Khi mới cướp được chính quyền, lợi dụng thời kỳ chiến tranh, và phe Xã hội Chủ nghĩa còn hùng mạnh, nhà cầm quyền Việt Nam thực hiện chiến lược tiêu diệt, triệt hạ, cấm đoán và vô hiệu hóa hoạt động của các tôn giáo. Thời kỳ hội nhập, khi cần giữ quan hệ ngoại giao và phe Xã hội Chủ nghĩa không còn nữa, nhà cầm quyền thực hiện chiến lược làm biến chất các tôn giáo, biến các tôn giáo thành tay sai, công cụ và thành tổ chức ngoại vi phục vụ chế độ. Thời kỳ này kéo dài từ khoảng năm 1997, 1998 là thời điểm nhà nước hậu thuẫn lập ra và cho phép hai tôn giáo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo (được nhà nước công nhận) hoạt động cho đến nay.

I/ Chiến lược tiêu diệt, triệt hạ, cấm đoán và vô hiệu hóa hoạt động của các tôn giáo

Chiến lược tiêu diệt, triệt hạ và cấm đoán các tôn giáo được thực hiện ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1945 và mục tiêu được nhắm vào chủ yếu là Phật Giáo và Công Giáo. Sau năm 1975, các tôn giáo như Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài cũng là mục tiêu triệt hạ, cấm đoán cho đến tận những năm 1997, 1998. Để thực hiện chiến lược này, nhà cầm quyền đã thực hiện các biện pháp sau.

1/ Gieo rắc sự sợ hãi

Gieo rắc sự sợ hãi là biện pháp đầu tiên, số một được dùng của các đảng cộng sản từ khi được thành lập, cũng như khi đã cướp được quyền lực. Gieo rắc sự sợ hãi được nhắm tới toàn thể nhân dân và nhằm mục đích làm cơ sở để áp dụng các sách lược khác, cho đến khi xây dựng được hệ thống độc tài toàn trị. Chính vì vậy, nó cũng được sử dụng trong việc tiêu diệt và vô hiệu hóa tôn giáo. Gieo rắc sự sợ hãi mà đảng cộng sản sử dụng bao gồm các việc như giết người, thủ tiêu, ám sát, bắt bớ, giam cầm, đánh đập. Việc giết người, giết những người tu hành ở các tôn giáo như linh mục, nhà sư, các hàng giáo phẩm được thực hiện tùy tiện, đôi khi chỉ vì những lý do nhỏ nhặt, vô lý và đôi khi không cần lý do. Trong thời kỳ mới cướp được chính quyền, cũng như giai đoạn chiến tranh sau đó, có các lý do mà đảng cộng sản đưa ra để xử tử những người tu hành, đại diện các tôn giáo, đó là tuyên truyền mê tín dị đoan, chống lại đường lối chính sách của đảng, và làm việc cho địch. Tất cả những lý do này đều không cần chứng minh, không cần bằng chứng, mà chỉ có tuyên án và xử tội, có thể là thủ tiêu, có thể là bắt bớ, đánh đập, giam cầm…

Hà Nội, ngày 20/01/2020

Những bằng chứng về việc huỷ diệt Phật giáo đã được thực hiện triệt để ở miền Bắc sau 1954. Trước hết nhà cầm quyền quản thúc hoặc giết những vị sư chống lại chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản . Sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3 của Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh) đã ghi lại:
– Hòa thượng Thích Mật Thể theo kháng chiến cho đến năm 1961 thì mất. Trong thời gian từ 1957 đến 1961, vì chống lại chính sách tàn phá Phật giáo của nhà nước Cộng sản , ngài đã bị quản thúc, cô lập hoàn toàn ở Hà Tĩnh và Nghệ An.
– Thiền sư Tố Liên, người có công rất lớn trong việc xây dựng và phát triển cơ sở Phật giáo miền Bắc, và Thiền sư Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc, đã bị quản thúc, cô lập ở Nam Định.
– Thiền sư Vĩnh Tường, trụ trì chùa Thần Quang, Hà Nội, người đã đúc pho tượng bằng đồng lớn nhất Việt Nam, đã bị bức tử, phải uống át xít tự tử năm 1955 tại chùa Thần Quang…

Đối với Công giáo Việt Nam, do gắn bó với hệ thống Công giáo quốc tế và có một tổ chức chặt chẽ, nên đã bị sự tấn công của đảng cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam dữ dội hơn Phật giáo rất nhiều. Chính vì vậy, phần lớn chức sắc Công giáo và giáo dân đã chống lại đảng cộng sản cũng như đứng về phía người Việt Quốc gia. Ngay trước và sau khi ký kết Hiệp định Giơ ne vơ, gần một triệu người Công giáo đã di cư vào miền Nam Việt Nam.

Sau năm 1975, các lãnh tụ của Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài hay tín đồ có tham gia chính trị đều bị đưa đi các trại cải tạo. Nhà cầm quyền Việt Nam đã cho đóng cửa toàn bộ hơn 3,500 ngôi chùa của PGHH và khoảng hơn 5,000 nơi thờ cúng, tổ sinh hoạt xã hội và văn hóa PGHH…

2/ Phá hủy niềm tin tôn giáo, phá hủy cơ sở thờ tự, cơ sở văn hóa tâm linh

Ngoài việc gieo rắc sự sợ hãi chung cho toàn xã hội, và cho tôn giáo theo cách thức nêu trên, đối với tôn giáo, nhà cầm quyền còn thực hiện hai công việc vừa phá hủy niềm tin tôn giáo, vừa gián tiếp gây thêm sự sợ hãi cho người dân. Đó là:

– Tuyên truyền tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Có thể nói, để đối phó với tôn giáo, lãnh tụ của thế giới cộng sản như C.Mác, Lê Nin cũng đã phải tham gia tuyên truyền nhưng khoác dưới vỏ bọc nghiên cứu. Các luận đề để xuyên tạc niềm tin tôn giáo đó là: Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy, họ đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hoá những sức mạnh đó. Đó là hình thức tồn tại đầu tiên của tôn giáo.

Khi xã hội xuất hiện những giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếu đuối trước sức mạnh của tự nhiên, con người lại cảm thấy bất lực trước những sức mạnh tự phát hoặc của thế lực nào đó của xã hội. Không giải thích được nguồn gốc của sự phân hoá giai cấp và áp bức bóc lột, tội ác, v.v., và của những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi, con người thường hướng niềm tin ảo tưởng vào „thế giới bên kia“ dưới hình thức các tôn giáo. Theo C.Mác: „Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân“.

Dựa vào những quan điểm nêu trên, các nhà nước cộng sản đã đánh tráo khái niệm, trộn lẫn tôn giáo với mê tín dị đoan và đưa ra các chính sách để hủy diệt tôn giáo.

– Một trong những chính sách thâm độc của nhà cầm quyền đối với tôn giáo, đó là việc phá hủy các cơ sở thờ tự, tu luyện của các tôn giáo. Không những thế, nhà cầm quyền cộng sản còn cho phá hủy các cơ sở văn hóa tâm linh như Đền, Đài Miếu Mạo, Đình, Chùa… Việc phá hủy các cơ sở tôn giáo, tâm linh này đã trực tiếp thủ tiêu các không gian sinh hoạt tâm linh của người dân và gián tiếp gây ra nỗi sợ hãi cho người dân. Đối với người dân, những cơ sở tôn giáo tâm linh là nơi linh thiêng, nhưng cộng sản đã dám phá hủy thì chúng không còn giới hạn nào trong việc khủng bố và đàn áp tôn giáo, đàn áp người dân có tín ngưỡng. Nhà văn Hoàng Quốc Hải (tác giả Bão táp triều Trần) đã tổng kết: “Phải nói chính quyền đã có khá nhiều biện pháp cứng rắn trong lãnh vực này (tôn giáo) như cấm các hội lễ, phá chùa, đập tượng, dỡ bỏ hoặc ngăn cấm các đền thờ Mẫu, đưa đi cải tạo, bắt giam các người làm nghề bói toán, đồng cốt nhảm nhí… Đảng viên, đoàn viên phải từ bỏ các tôn giáo mình theo. Trong các gia đình phần lớn không còn bàn thờ tổ tiên. Các chùa chiền ở nông thôn nếu còn sót lại thì hoang phế, quạnh hiu, các điện thờ Mẫu ở các gia đình không được phép tồn tại. Các chùa chiền, đền miếu còn sót lại ở đô thị cũng vắng tanh vắng ngắt. Một số người già lui tới các nơi thờ phụng này, gần như là một sự lén lút. Tưởng như chúng ta đã triệt bỏ được tận gốc của vấn đề”. (Hoàng Quốc Hải: Văn hóa phong tục, Hà Nội, Văn Hóa Thông Tin, 2001, trg 435)…

Hà Nội, ngày 21/01/2020

II/ Làm biến chất tôn giáo, biến các tôn giáo thành công cụ, tổ chức ngoại vi phục vụ chế độ trong khi vẫn cấm đoán, bức hại các tôn giáo ly khai

Lý do sâu xa nhất đưa tới việc triệt hạ tôn giáo và làm biến chất các tôn giáo trong các chế độ cộng sản, đó là nguyên lý chung của các tôn giáo đưa ra là tình yêu thương của con người. Con người cần yêu thương con người bởi con người cùng chung một nguồn gốc, cùng là khía cạnh của Thượng Đế, của Đức Chúa Trời. Con người yêu thương con người cũng có nghĩa khi con người cá nhân bị cái xấu, cái bất công và cái ác bách hại, thì những người khác cần phải lên tiếng, phải giúp đỡ những con người đó. Từ đó, các tôn giáo đều có chung khuynh hướng tránh và chống cái xấu, cái bất công và cái ác. Đề cao kêu gọi phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con người. Đối với các chế độ cộng sản, điều đó chính là mầm mống để chống lại họ bởi vì nguyên lý chung của cộng sản là phân chia giai cấp, để thống trị người dân. Và cộng sản hoàn toàn không muốn người dân yêu thương lẫn nhau. Để làm những điều cộng sản mong muốn, con người cần phát huy những cái xấu, cái ác tiềm ẩn bên trong con người họ.

Sau một giai đoạn tiêu diệt, triệt hạ và vô hiệu hóa tôn giáo cũng như áp đặt hệ thống toàn trị lên toàn xã hội, cùng với nền kinh tế kế hoạch, đất nước đã cạn kiệt nguồn lực và chế độ cộng sản bên bờ sụp đổ. Họ đã chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới. Nhưng với thế giới văn minh, việc giao thương kinh tế phải đi kèm với các điều kiện về quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Chính vì vậy chế độ cộng sản Việt Nam không còn sử dụng chiến lược tiêu diệt, triệt hạ tôn giáo như trước đây được nữa. Họ đã chuyển sang một chiến lược mới, làm biến chất các tôn giáo, biến các tôn giáo thành công cụ, thành tổ chức ngoại vi phục vụ chế độ.

     1/Làm biến chất các tôn giáo

Việc làm biến chất các tôn giáo được thực hiện với một âm mưu rất thâm độc. Chế độ cộng sản không đơn thuần thay đổi cách thức tiến hành các nghi lễ, hay những giáo lý đơn giản. Họ thực hiện các chiến thuật và bước đi rất bài bản và thâm độc.

– Phá hủy nền tảng tri thức triết học, tâm linh. Đối với mỗi tôn giáo, nhất là những tôn giáo lâu đời, ví dụ như đạo Phật, đều có một hệ thống tri thức triết học, tâm linh làm nền tảng. Việc đưa ra nội dung chương trình đào tạo hoàn toàn nằm trong tay nhà nước. Và một điều chắc chắn là nhà nước không thể để hệ thống kiến thức nền tảng triết học tâm linh chuẩn mực trong các trường, học viện hiện nay. Mặt khác, để nghiên cứu và duy trì được hệ thống tri thức này, cần có sự đào tạo liên tục các thế hệ tăng lữ, học giả. Muốn nghiên cứu được các kiến thức kinh điển bằng các ngôn ngữ như chữ Hán (Bắc tông), và chữ Pali, ngôn ngữ Prankit hay còn gọi là chữ Phạn (Nam tông). Nhưng các trường, học viện rất ít các giáo viên, giảng viên biết chữ Hán, chữ Pali và ngôn ngữ Prankits cũng không biết thì việc nghiên cứu kiến thức kinh điển là con số không. Như vậy, không có sự liên tục trong nghiên cứu kiến thức kinh điển, nền tảng của tôn giáo. Không có kiến thức kinh điển làm nền tảng, nội dung của các chương trình giáo dục Phật học chỉ là chắp vá và xuyên tạc.

– Đưa vào giảng dạy chương trình triết học Mác – Lê nin gây ra sự hỗn loạn và hoang mang trong nhận thức. Bản chất của triết học Mác – Lê nin là vô thần đối lập với các kiến thức tôn giáo nền tảng. Đưa chương trình Mác  Lê nin vào chỉ có mục đích làm hỗn loạn tư tưởng và nhận thức của các học viên, phá hủy việc nhận thức các kiến thức chuẩn mực.

– Đưa người vào vị trí trọng yếu trong các trường, học viện và tuyển một lượng học viên đông đảo là an ninh, đảng viên. Đến thời điểm hiện nay, ít người còn nghi ngờ việc có một lực lượng đông đảo học viên an ninh đã vào học các trường Phật giáo, để đóng giả làm sư, tỳ kheo nhằm khống chế Phật giáo. Theo số liệu không chính thức, có tới hơn một nữa các vị sự trụ trì các chùa Phật giáo nhà nước là người của an ninh.

Trên đây là những chiến thuật chung phá hủy nội dung và nhân sự của hệ thống đào tạo các tôn giáo. Nhưng muốn làm biến chất được các tôn giáo, nhà cầm quyền còn thực thi các thủ đoạn sau.

+ Cài cắm người vào các tôn giáo, khống chế người trong nội bộ tôn giáo. Đây là chiến thuật thông dụng của nhà cầm quyền với các tổ chức đối nghịch. Kinh nghiệm trong việc cài cắm người từ các cuộc chiến tranh, cùng với việc các tôn giáo đang nằm trong vòng kiểm soát của nhà nước bảo đảm việc thành công nhất định cho việc đưa người vào nội bộ các tôn giáo. Đối với các tôn giáo không hoặc khó cài cắm người, an ninh sẽ sử dụng việc khống chế các chức sắc tôn giáo bằng các thủ đoạn cài bẫy hoặc nhắm vào các điểm yếu, lỗi lầm có thể là thông thường đối với người bình thường, nhưng với các chức sắc tôn giáo lại là điều nhạy cảm…

+ Gây mâu thuẫn chia rẽ trong nội bộ các tôn giáo. Việc gây mâu thuẫn chia rẽ trong nội bộ tôn giáo là một trọng tâm trong chính sách tôn giáo của cộng sản Việt Nam. Có thể nói rằng, ngoại trừ Công giáo, nơi có tổ chức chặt chẽ và hàng ngũ giáo phẩm luôn có quy định khắt khe về việc tuân thủ giáo luật, giáo lệnh mà nhà cầm quyền không thể can thiệp theo cách này, còn lại tất cả các tôn giáo khác ở Việt Nam đều bị nhà cầm quyền cài cắm, khống chế người gây mâu thuẫn chia rẽ. Đây là chính sách đặc biệt thành công của nhà cầm quyền Việt Nam. Việc gây mâu thuẫn chia rẽ trong nội bộ tôn giáo trước hết làm cho tôn giáo đó suy yếu, mất lòng tin của các tín đồ, đạo hữu. Sau đó là thực hiện việc chia tách các tôn giáo, và một trong các nhánh chia tách đó sẽ nằm trong vòng cương tỏa của nhà cầm quyền.

+ Sử dụng chiêu bài tôn giáo không làm chính trị. Để làm tê liệt sức phản kháng đối với cái ác và sự bất công do chế độ gây nên, cộng sản tận dụng chiêu bài “tôn giáo không làm chính trị” vốn có sẵn trong các tôn giáo. Với chiêu bài này, các tôn giáo, các chức sắc tôn giáo sẽ trở thành câm lặng và thụ động trước các bất công rõ ràng trước mắt đang lan tràn trong xã hội… Tuy nhiên, việc làm chính trị đúng nghĩa là tham gia vào chính quyền, đảng phái chứ hoàn toàn không phải là việc lên tiếng chống lại cái xấu, cái ác và cái bất công. Việc tấn công vào những chức sắc tôn giáo lên tiếng chống bất công, chống cái ác bằng chiêu bài tôn giáo không làm chính trị vẫn thường xuyên được nhà cầm quyền sử dụng và cũng không phải không có hiệu quả.

+ Chiến thuật cây gậy và củ cà rốt. Đây là một phương sách cũ rích nhưng vẫn luôn luôn hữu hiệu. Tôn giáo hay các chức sắc nào dễ bảo, chấp nhận im lặng trước cái ác, cái bất công thì được tự do, ưu đãi; tôn giáo hay chức sắc nào lên tiếng theo lương tâm, lẽ phải thì bị bách hại, cấm cách. Luật lệ về tôn giáo, chẳng hạn pháp lệnh tôn giáo ban hành ngày 18/6/2004, đòi hỏi các chức sắc tôn giáo, nói chung, hầu như làm gì cũng phải xin phép và có được nhà nước cho phép mới được làm. Các chức sắc thuộc loại dễ bảo thì xin phép gì cũng dễ dàng được chấp thuận. Nhiều người trong số này không xin phép vẫn làm cũng được dễ dàng bỏ qua. Còn chức sắc nào thuộc loại không dễ bảo thì xin phép gì cũng gặp khó khăn, bị hoạnh hẹ đủ điều, dù là xin những điều thật chính đáng. Thật vậy, nhiều chùa chiền, nhà thờ Công Giáo hoặc Tin Lành do các chức sắc thuộc loại dễ bảo trụ trì hoặc quản nhiệm thì dễ dàng được phép xây dựng nguy nga đồ sộ; ngược lại, việc xin phép xây dựng rất khó khăn…

Hà Nội, ngày 22/01/2020

Với các chiến thuật và bước đi nêu trên, tôn giáo ở Việt Nam đã bị biến chất hoàn toàn. Những nội dung, giáo lý và nghi lễ chỉ còn lại hình thức. Một hệ quả tất yếu đưa tới với các tôn giáo đã bị biến chất là: 1- im lặng, không đả động hay phản đối cái xấu, cái bất công và cái ác do chế độ gây ra, dù cái ác có đến mức rõ ràng hay đã tràn lan khắp nơi trong xã hội; 2- chủ yếu phát triển những sinh hoạt tôn giáo mang nặng hình thức như các lễ nghi, rước sách, đình đám, xây cất những nơi thờ tự nguy nga, ra nước ngoài tu học, xuất ngoại để lo đời sống tâm linh cho người Việt hải ngoại…; 3- coi nhẹ những sinh hoạt nặng phần nội tâm như dạy giáo lý, phát triển hội đoàn, nhất là tránh rao giảng về lương tâm, ý thức trách nhiệm đối với xã hội trong việc chống ác, chống bất công do chế độ gây ra, tránh thể hiện tinh thần liên đới với các nhà tranh đấu tự do dân chủ (như cầu nguyện cho họ, ủng hộ họ…); 4- im lặng chấp nhận cho chế độ xen vào việc tổ chức nội bộ, bổ nhiệm nhân sự…

 2/ Biến tôn giáo thành công cụ, tay sai và tổ chức ngoại vi phục vụ chế độ

Không chỉ làm biến chất tôn giáo, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam còn thực hiện việc biến các tôn giáo thành công cụ, tay sai và thành tổ chức ngoại vi phục vụ cho chế độ. Các tôn giáo bị biến chất, bị cài cắm người vào hàng ngũ chức sắc, và buộc phải quy phục nhà nước để được hoạt động thì việc làm tay sai, làm công cụ cho nhà nước là diễn tiến hoàn toàn tự nhiên, bình thường. Việc các tôn giáo làm công cụ, tổ chức ngoại vi phục vụ chế độ biểu hiện trên các phương diện sau.

– Các tôn giáo đều có đại diện tham gia Ban tôn giáo chính phủ, tham gia Mặt trận tổ quốc các cấp. Mặc dù nhà cầm quyền dùng chiêu bài tôn giáo không làm chính trị để phê phán, tấn công những người lên tiếng chống bất công, chống cái ác nhưng lại hoàn toàn lờ đi việc ép các tôn giáo có đại diện trong các tổ chức của nhà nước. Việc tham gia các tổ chức như trên để đại diện các tôn giáo nắm được chủ trương đường lối chính sách của đảng trong các lĩnh vực và vận động tín đồ, giáo dân thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách đó.

– Các tôn giáo phải nhận một số nhiệm vụ như tuyên truyền một số chính sách của đảng cộng sản (hạn chế sinh đẻ; vận động tín đồ, giáo dân đi bầu cử, đi nghĩa vụ quân sự, làm thủy lợi…); một số trách nhiệm mà đúng ra chế độ phải cáng đáng như: săn sóc các bệnh nhân siđa, nghiện hút, săn sóc người già.

– Các tôn giáo đứng về phía nhà nước trong việc chống lại nhưng phê phán vi phạm tự do tôn giáo của quốc tế. Đây là nhiệm vụ quan trọng và khá thường xuyên của các tôn giáo khi đã chấp nhận trở thành công cụ cho nhà cầm quyền.

– Cuối cùng, đương nhiên là việc các tôn giáo phải làm là phê phán những cá nhân, chức sắc hoặc tín đồ, giáo dân lên tiếng đấu tranh cho tự do tôn giáo hay tự do dân chủ, nhân quyền nói chung.

  3/ Duy trì liên tục việc cấm đoán, đàn áp và bức hại các tôn giáo ly khai

Việc cấm đoán các tôn giáo ly khai được thực hiện thông qua một hệ thống các quy định bằng pháp luật về các việc như:

– Công nhận tư cách pháp nhân, tức là một tôn giáo muốn hoạt động được, muốn được hoạt động phải được nhà nước công nhận, cho phép. Đối với những tôn giáo mà nhà nước kiểm soát được hoặc khống chế được thì các giấy phép được cấp một cách dễ dàng. Ngược lại, các tôn giáo của người dân tự lập ra, các tôn giáo không quy phục đảng cộng sản đều không được cấp phép hoạt động.

– Các sinh hoạt tôn giáo tập trung nhiều người đều phải xin phép, chỉ được thực hiện các sinh hoạt đó khi có giấy phép của nhà cầm quyền các cấp.

– Về các quan hệ quốc tế, Điều 35 trong Pháp lệnh Tôn giáo Tín ngưỡng quy định: “Khi tiến hành các hoạt động quan hệ quốc tế sau đây phải có sự chấp thuận của cơ quan quản lý Nhà nước về Tôn giáo ở trung ương: 1. Mời tổ chức, người nước ngoài vào Việt Nam hoặc triển khai chủ trương của Tổ chức Tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam; 2. Tham gia hoạt động Tôn giáo, cử người tham gia khóa đào tạo về Tôn giáo ở nước ngoài”.

– Đối với vấn đề nhân sự của các tôn giáo, nhà cầm quyền kiểm soát việc huấn luyện, tấn phong, bổ nhiệm các chức sắc, nhất là chức sắc lớn. Mọi tín đồ muốn trở thành tu sĩ hay chức sắc đều phải ghi danh tại UBND cấp xã (Pháp Lệnh Tôn giáo điều 21.2). Việc tuyển chọn, đào tạo, phong chức, bổ nhiệm và thuyên chuyển các chức sắc tôn giáo đều phải xin phép nhà nước, có được nhà nước chấp nhận thì mới thực hiện được. Ứng viên vào các chức vụ cao cấp trong các tôn giáo phải được nhà nước cấp trung ương xét duyệt và chấp nhận thuận thì tôn giáo mới được phong chức cho họ…

Việc đàn áp và bức hại các tôn giáo lý khai cũng được duy trì liên tục. Gần đây, các báo cáo vi phạm tín ngưỡng, tự do tôn giáo liên tục cập nhật các thông tin đối với quốc tế. Đó là những hành vi rất phản cảm, và càng ngày càng gia tăng mức độ khốc liệt, dã man.

– Sách nhiều, phá hoại các buổi Lễ, tưởng niệm như các ngày Lễ húy, kỵ Đức Thầy Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài. Phá hoại, sách nhiễu những cơ sở đào tạo, tu tập của các tôn giáo như Tin lành Menonite, Đan viện Thiên An, Chùa Liên Trì II của Hòa thượng Thích Không Tánh và tu sĩ Thích Đồng Long…

– Đánh đập, khủng bố các vị chức sắc tôn giáo, các tu sĩ, đan sĩ… như vụ đánh đập, cắt râu Chánh trị sự Cao Đài Hứa Phi, khủng bố và đe dọa đại đức Thích Ngộ Chánh, đánh đập mục sư Nguyễn Hồng Quang, mục sư  Phạm Ngọc Thạch… tu sĩ Đan viện Thiên An và rất nhiều người khác.

– Cô lập, uy hiếp, xúi bẩy phật tử  từ bỏ các cơ sở tôn giáo họ đang tham gia. Chùa Phước Bửu (Bà Rịa – Vũng Tàu) bị các cán bộ tôn giáo, các cán bộ địa phương vận động người dân, uy hiếp phật tử không theo, không tham gia vào các hoạt động của Chùa… ngoài ra, nhà cầm quyền còn đánh phá những cá nhân, gia đình ủng hộ, liên hệ với các cơ sở tôn giáo, nhằm cắt đứt liên đới xã hội của các tôn giáo độc lập với người dân, với người đấu tranh. Ví dụ vụ đánh phá doanh nghiệp anh Nguyễn Thanh Hải ở Vũng Tàu…

– Đập phá các cơ sở tôn giáo, thờ tự. Điển hình nhất gần đây là chùa Liên Trì của hòa thượng Thích Không Tánh, chùa An Cư của thượng tọa Thích Thiện Phúc ở Đà Nẵng, chùa Linh Sơn ở Dak Lăk, cướp đất ở Đan viện Thiên An (Huế)… ./.

Hà Nội, ngày 23/01/2020

N.V.B

RFA

 

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen