Mục lục
Lời nói đầu & giới thiệu

https://marcuschensoreal.wordpress.com/mac-dich-2/loi-noi-dau-gioi-thieu/
Tóm tắt: Trong phần Lời giới thiệu, tác giả xác định mục đích cốt lõi của cuốn sách là vạch trần bản chất thực sự của chủ nghĩa cánh tả và hóa giải “Sự hiểu lầm vĩ đại Âu – Mỹ”, vốn đang làm chệch hướng các chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ông lập luận sắc bén rằng các hệ tư tưởng mang màu sắc cánh tả dưới nhiều vỏ bọc khác nhau -từ chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa phát xít cho đến “chủ nghĩa tự do” hiện đại ở Mỹ – thực chất chỉ là những đối thủ cạnh tranh cùng chung cội rễ, chứ không phải là kẻ thù của nhau.
Điểm mấu chốt của vấn đề nằm ở sự nhầm lẫn tai hại khi giới tinh hoa chính trị đánh đồng “dân chủ” với “tự do cá nhân”; bởi lịch sử từ sau Cách mạng Pháp 1789 đến nay đã nhiều lần chứng minh các phong trào dân chủ quần chúng thường mở đường cho chủ nghĩa tập thể, các chế độ độc tài tàn bạo hoặc một dạng nô lệ phi bạo lực. Bằng việc thẳng thắn khẳng định lập trường tôn thờ quyền tự do cá nhân thay vì nền dân chủ đại chúng, tác giả tuyên bố cuốn sách này là một cuộc chiến tư tưởng nhằm bảo vệ phẩm giá cao quý của con người trước những triết lý chính trị sai lệch đang âm mưu hạ thấp nhân loại xuống thân phận của một bầy côn trùng vô tri.
Tác giả của cuốn sách đồ sộ này nghĩ rằng ông có nghĩa vụ phải giãi bày “hành trang” của mình với độc giả, nói đôi điều về mục đích của cuốn sách này cũng như về chính bản thân ông.
Tôi là một người Áo với một nền tảng khá đa dạng và sở hữu một phần không nhỏ những trải nghiệm khác lạ. Sinh năm 1909, là con trai của một nhà khoa học (chuyên về radium và tia X) – người đã qua đời như một nạn nhân trong chính công trình nghiên cứu của mình. Từ thuở nhỏ, tôi đã đi du lịch khá nhiều và tích lũy được kiến thức về một vài ngôn ngữ. Đến nay, tôi có thể đọc được hai mươi ngôn ngữ với các mức độ thành thạo rất khác nhau và nói được tám thứ tiếng. Ở tuổi mười sáu, tôi đã là phóng viên thường trú tại Vienna của tờ The Spectator (London), một tuần báo lừng danh do Addison và Steele sáng lập.
Bắt đầu học luật và lịch sử Đông Âu tại Đại học Vienna vào năm mười tám tuổi, một năm sau, tôi chuyển sang Đại học Budapest (nhận bằng Thạc sĩ Kinh tế và Tiến sĩ Khoa học Chính trị). Sau đó, tôi bắt tay vào nghiên cứu thần học ở Vienna, nhưng đã sang Anh vào năm 1935 để trở thành giáo sư (Master) tại Trường Cao đẳng Beaumont, và sau đó là giáo sư tại Khoa Sau đại học về Dịch vụ Đối ngoại thuộc Đại học Georgetown từ năm 1937 đến năm 1938. Tôi được bổ nhiệm làm trưởng khoa Lịch sử tại Trường Cao đẳng St. Peter ở Jersey City (1938–1943) và làm giảng viên tiếng Nhật tại Đại học Fordham. Cho đến năm 1947, tôi giảng dạy tại Trường Cao đẳng Chestnut Hill ở Philadelphia. Xen kẽ giữa những năm tháng học tập và các chức vụ giảng dạy này là những chuyến du hành và các dự án nghiên cứu sâu rộng, bao gồm cả chuyến đi đến Liên Xô ngay từ những năm 1930–1931.
Trong những năm sống ở Mỹ, tôi đã đi qua mọi tiểu bang: chỉ còn vùng đông nam Oregon và vùng bắc Michigan là những “điểm trắng” duy nhất của tôi. Năm 1947, tôi trở lại châu Âu và định cư ở vùng Tyrol, nằm ở khoảng giữa Paris và Vienna, cũng như giữa Rome và Berlin, với niềm tin chắc chắn rằng mình phải lựa chọn giữa giảng dạy và nghiên cứu. Từ năm 1949 trở đi, tôi đều đặn quay lại Hoa Kỳ trong các chuyến lưu diễn giảng bài hàng năm. Kể từ năm 1957, năm nào tôi cũng đi du lịch, khi thì vòng quanh thế giới, khi thì xuống phía nam Xích đạo.
Một trong những hoài bão của tôi là hiểu biết thế giới; một hoài bão khác là thực hiện nghiên cứu trong các lĩnh vực được lựa chọn một cách tùy ý nhằm phục vụ cho sự phối hợp giữa các nhánh khác nhau của khoa học nhân văn: thần học, khoa học chính trị, tâm lý học, xã hội học, địa lý nhân văn, lịch sử, dân tộc học, triết học, và nghệ thuật. Tôi thực sự kinh sợ sự chuyên môn hóa vĩnh viễn, phiến diện một chiều. Tôi cũng hoạt động tích cực với tư cách là một tiểu thuyết gia và họa sĩ. Sách, tiểu luận và các bài báo của tôi đã được xuất bản ở năm châu lục và tại hai mươi mốt quốc gia.
Giới thiệu về bản thân tôi như vậy là đủ. Mục đích của cuốn sách này là chỉ ra đặc tính của chủ nghĩa cánh tả, cũng như mức độ và cách thức mà đại đa số các hệ tư tưởng cánh tả – những thứ đang thống trị hoặc đe dọa phần lớn thế giới hiện đại – thực chất là những đối thủ cạnh tranh của nhau chứ không phải là kẻ thù. Chúng tôi cho rằng đây là một sự phân biệt quan trọng. Nhà máy giày A là đối thủ cạnh tranh của nhà máy giày B, nhưng một phong trào cổ xúy việc không đi giày dép vì lý do sức khỏe lại là kẻ thù của cả hai.
Thật không may, trong lĩnh vực chính trị ngày nay, sự phân biệt này lại kém rõ ràng hơn và phần lớn bị che khuất bởi sự nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa. Tình trạng cụ thể này đã đủ tồi tệ ở châu Âu, nhưng nó thậm chí còn tệ hơn ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Tình trạng này, đến lượt nó, lại ảnh hưởng bất lợi đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ – vốn dĩ trong quá khứ và hiện tại không chỉ được định hình bởi những gì (thực sự hoặc có vẻ như là) lợi ích tự thân của nước Mỹ, mà còn bởi những định kiến về hệ tư tưởng. Theo một cách rất thường xuyên, những niềm tin tư tưởng này đã nhuốm màu lên quan điểm, mục tiêu, và các chính sách của những người Mỹ chịu trách nhiệm về đường lối ngoại giao (không chỉ các Tổng thống, thành viên nội các hay nghị sĩ, mà còn cả các giáo sư, bình luận viên đài phát thanh và nhà báo), và trên thực tế lại đi ngược với lợi ích cốt lõi của nước Mỹ cũng như lợi ích đích thực của nhân loại.
Không có lý do gì để tin rằng các hệ tư tưởng – tức là các triết lý chính trị – xã hội mạch lạc, có hoặc không có nền tảng tôn giáo – chỉ mới bắt đầu phát huy tác dụng ở Mỹ trong thế kỷ này, khi nước Mỹ tham gia vào hai “cuộc thập tự chinh” dưới hai đời chính quyền Đảng Dân chủ. Chúng tôi cũng không tán thành quan điểm vốn rất được lòng một số người “bảo thủ” khi họ đơn thuần đánh đồng chủ nghĩa cánh tả với hệ tư tưởng.
Tôi cho rằng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ non trẻ vào cuối thế kỷ mười tám đã nằm trong vòng xoáy của các triết lý chính trị xung đột lẫn nhau, mang cả những khía cạnh tích cực và tiêu cực. Ngay từ thời điểm đó, tác động tư tưởng của những ý tưởng này đã được cảm nhận sâu sắc ở châu Âu, nơi mà tôi phải buồn bã thừa nhận rằng nội hàm của chúng thường nhanh chóng bị hiểu sai và bóp méo. Cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ có ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với Cách mạng Pháp, và sự kiện sau đó (Cách mạng Pháp), theo dòng thời gian, lại có một tác động tồi tệ đối với nước Mỹ.
Tuy nhiên, chỉ đến thế kỷ hai mươi, trong thời đại của chúng ta, nước Mỹ mới can thiệp một cách quyết đoán vào các vấn đề thế giới, và châu Âu đột nhiên thấy mình là “bên tiếp nhận” chính sách đối ngoại của Mỹ. Những quyết định được đưa ra tại Washington (dù có hay không có lời khuyên hay sự xúi giục của những người tị nạn) đã ảnh hưởng sâu sắc và thường là theo hướng bất lợi đến Trung Âu – nơi tôi coi là quê hương của mình. Những năm tháng dài mà tôi trải qua một cách khá tình cờ ở Mỹ đã giúp tôi nhận ra nguồn gốc, lý do, và căn nguyên tâm lý của Sự hiểu lầm vĩ đại Âu-Mỹ (Great Euramerican Misunderstanding), mà đúng như ta có thể dự đoán, bao gồm một số khía cạnh:
(1) việc thiếu khả năng tự nhận thức của nước Mỹ (song song với sự vắng bóng khả năng tự nhận thức của châu Âu);
(2) sự sai lệch thông tin của người Mỹ về châu Âu (cộng với sự thiếu hiểu biết của châu Âu về nước Mỹ);
Và 3) sự thiếu hụt hoàn toàn trong việc nhận thức được vị trí lịch sử hiện tại của tất cả chúng ta, bản chất thực sự mà các hệ tư tưởng lớn mang tính động lực đang đại diện, cũng như cách chúng liên hệ với nhau.
Và chúng ta không nên bỏ qua thực tế rằng cả ba điểm này đều ít nhiều có sự kết nối với nhau, vì cả nước Mỹ (hay đúng hơn là thế giới nói tiếng Anh) và châu Âu (hay cụ thể hơn là lục địa châu Âu) đều không thể được hiểu một cách thấu đáo nếu không có một bước đi sâu vào lĩnh vực hệ tư tưởng. Ngay cả văn hóa dân gian cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của các “triết lý”. Một câu nói như “Bất kỳ ai cũng tốt ngang với những người khác, nếu không muốn nói là tốt hơn một chút” (“One man is as good as any other man if not a little bit better”) tự động gợi nhớ đến một bộ phận tình cảm nhất định của người Mỹ. Nó mang đậm màu sắc lãng mạn của văn hóa dân gian kiểu Sandberg. Mặt khác, dòng chữ suum cuique (mỗi người đều nhận được những gì xứng đáng với mình) vẫn được khắc tại Trường Luật Innsbruck.
Tuy nhiên, cũng hoàn toàn đúng khi nguyên tắc pháp lý vĩ đại của Ulpian cũng có ý nghĩa đối với một số người Mỹ, trong khi các quan niệm về chủ nghĩa quân bình ngày nay lại đang tràn lan ở châu Âu. Đại Tây Dương, cũng giống như Eo biển Manche, đang thu hẹp lại và chầm chậm nhưng chắc chắn; những sự nhầm lẫn của chúng ta đang hòa vào nhau. Tệ hơn nữa, ngôn ngữ học/ngữ nghĩa tương ứng của chúng ta vẫn còn cách xa nhau.
Sự thấu hiểu tích cực và mang tính xây dựng giữa nước Mỹ và một châu Âu tự do cũng cần thiết không kém gì việc nhận thức được trật tự chính trị và kinh tế nào là tốt, đúng đắn và hiệu quả. Do đó, cuốn sách này cố gắng phục vụ một mục đích kép: làm giảm đi, nếu không muốn nói là xóa bỏ Sự hiểu lầm Vĩ đại giữa các lục địa (Great Intercontinental Misunderstanding), cũng như Cuộc tìm kiếm Chân lý (Quest for Truth), qua đó vạch trần kẻ thù nhiều mặt, nhiều đầu mang tên chủ nghĩa tả khuynh
Tuy nhiên, để công bằng, tôi nghĩ mình nợ độc giả việc thông báo cho họ biết về điểm xuất phát của tôi, những tiền đề mà từ đó tôi triển khai. Tôi là một tín đồ Cơ Đốc giáo: Tôi dứt khoát không phải là một người ủng hộ dân chủ, mà là một người cống hiến hết mình cho lý tưởng tự do cá nhân. Tôi hoàn toàn đồng tình với những lời của Alexis de Tocqueville khi ông viết: “Chế độ chuyên chế đối với tôi là điều đặc biệt đáng sợ trong các thời đại dân chủ. Tôi nghĩ rằng mình sẽ yêu tự do trong mọi thời đại, nhưng trong thời đại hiện nay, tôi sẵn sàng tôn thờ nó.”
Tất nhiên, có những lý do “châu Âu” ích kỷ cho việc tôi viết cuốn sách này, nơi chứa đầy những quan điểm thường không được thể hiện hay thấu hiểu đúng mức ở Mỹ. Chính sự đánh đồng một cách vô căn cứ giữa nền dân chủ và quyền tự do đã gây ra vô số bi kịch lặp đi lặp lại trong chính sách đối ngoại của Mỹ (cũng như một số tai ương nội bộ của chính nước Mỹ!). Chúng ta phải nhớ lại mọi cuộc chiến tranh, mọi hoạt động tuyên truyền, mọi chiến dịch gây áp lực vì sự nghiệp dân chủ, và làm thế nào mà mỗi chiến thắng của nền dân chủ được tung hô và tán thưởng lại kết thúc bằng một thất bại tồi tệ đối với tự do cá nhân – lý tưởng thực sự thiêng liêng trong trái tim người Mỹ.
Đây hoàn toàn không phải là một câu chuyện mới mẻ. Ngay cả Burke cũng từng hoan nghênh Cách mạng Pháp lúc ban đầu. Những người Mỹ lỗi lạc đã ca ngợi nó. Nhưng tất cả đều kết thúc bằng một rừng máy chém. Ông Woodrow Wilson đã nhiệt tình chào đón chính phủ của Alexander Kerensky, chính phủ vốn được kỳ vọng sẽ giúp nước Nga “xứng đáng gia nhập vào một liên minh danh dự.” Nhưng điều đó kéo dài được bao lâu? Cộng hòa Weimar, nền quân chủ tiệm cận cộng hòa của Ý, nước cộng hòa Tây Ban Nha, các quốc gia tự do được “giải thuộc địa” từ Haiti đến Tanzania, từ Bắc Việt Nam đến Indonesia, châu Mỹ Latinh từ Santo Domingo đến Buenos Aires – tất cả đều là những nỗi thất vọng đau buồn đối với những người Mỹ “cấp tiến”, tất cả đều chấm dứt trong các chế độ độc tài, nội chiến, các nhà tù chật cứng, báo chí bị tịch thu, giá treo cổ và đội xử bắn, những chế độ chuyên chế độc đảng, các vụ tịch biên, quốc hữu hóa, và các biện pháp “kiến tạo xã hội”.
Tuy nhiên, vượt lên trên những thất bại hiển nhiên này, bên cạnh việc loại bỏ một cách tàn bạo và công khai quyền tự do và sự tử tế, còn có một thứ – điều đã được de Tocqueville tiên đoán rất rõ ràng – đó là sự tiến hóa của nền dân chủ hướng tới chế độ nô lệ phi bạo lực, bắt nguồn từ một sự chuyển biến trong tâm trí và thế giới quan về cơ bản giống hệt như thứ dẫn đến các hình thức chuyên chế rõ rệt hơn. Người ta không nên ngạc nhiên về điều này, bởi vì nguồn gốc của cái ác về mặt lịch sử – di truyền học là giống nhau trên toàn thế giới phương Tây. Năm định mệnh là 1789 và biểu tượng của sự bất công là chiếc mũ Jacobin.
Tính dị giáo của nó nằm ở việc chối bỏ nhân cách và tự do cá nhân. Các hiện thân cụ thể của nó là nền dân chủ quần chúng Jacobin, mọi hình thức của chủ nghĩa tập thể quốc gia và chủ nghĩa nhà nước (statism), chủ nghĩa Marx sản sinh ra chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít, và chủ nghĩa xã hội quốc gia, chủ nghĩa cánh tả trong tất cả các vỏ bọc và biểu hiện hiện đại của nó – thứ mà ở Mỹ, khá trớ trêu thay, lại đang được gán cho một danh từ mĩ miều là “chủ nghĩa tự do”. Vấn đề cốt lõi là cuộc chiến giữa con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa và loài mối mọt mang vỏ bọc con người. Chính vì mục đích bảo vệ con người và phản đối những giáo lý sai lệch muốn hạ thấp con người xuống vị thế của một loài côn trùng mà cuốn sách này được viết ra.
PHẦN 1: Tư duy tả khuynh.
Chương 1: Tính đồng nhất và Tính đa dạng
CHƯƠNG 2: Bình đẳng và Tự do

Chương 3: Dân chủ và Chủ nghĩa tự do
Tóm tắt chương 3: Dân chủ và Chủ nghĩa tự do
Dân chủ là một hình thái chính trị, một hệ thống chính quyền. Nó không có nội hàm xã hội, mặc dù thường bị lạm dụng theo nghĩa đó. Sẽ là sai lầm khi nói: “Ông Green rất dân chủ; trong các chuyến đi, ông ấy ngồi ăn trưa cùng tài xế của mình.” Đúng hơn, ông ấy là người bạn của những con người bình dân, và do đó, gọi ông là người yêu bình dân (demophile) thì chính xác hơn là người dân chủ.”Democracy” (Dân chủ) là một từ tiếng Hy Lạp được ghép từ demos (nhân dân) và kratos (quyền lực theo một nghĩa mạnh mẽ, gần như tàn bạo). Hình thức nhẹ nhàng hơn sẽ là arché, hàm ý sự dẫn dắt (leadership) hơn là sự cai trị (rule). Do đó, “quân chủ” (monarchy) là sự cai trị mang tính gia trưởng (như một người cha) của một cá nhân vì lợi ích chung, trong khi “độc quyền” (monocracy) là sự bạo chúa của một cá nhân. Aristotle cùng các học giả Kinh viện thời kỳ đầu và thời kỳ sau này đã phân chia các hình thức chính quyền theo bảng dưới đây:
Chính thể tốt
Quân chủ (Monarchy): Sự cai trị của một người vì lợi ích chung.
Quý tộc (Aristocracy): Sự cai trị của một nhóm người vì lợi ích chung.
Cộng hòa hay Chính thể (Republic / Polity): Sự cai trị của bộ phận người dân ưu tú hơn vì lợi ích chung
Chính thể xấu
Bạo chúa (Tyranny): Sự cai trị của một người vì tư lợi của riêng hắn.
Quả đầu (Oligarchy): Sự cai trị của một nhóm người vì lợi ích riêng của họ.
Dân chủ (Democracy): Sự cai trị của bộ phận người dân yếu kém (tồi tệ) hơn vì lợi ích riêng của họ.
Ở đây, cần nhớ rằng về sau, “quý tộc” (aristocracy) không còn mang ý nghĩa là một hình thức chính quyền mà dùng để chỉ tầng lớp xã hội cao nhất. Thuật ngữ “cộng hòa” (republic) về sau mang nghĩa là mọi hình thức chính quyền (bề ngoài) phi quân chủ và mang tính “công cộng”. Rzeczpospolita là một thuật ngữ được sử dụng cho Nhà nước Ba Lan trước năm 1795 và sau năm 1918, trong khi các học giả Mỹ và Anh nói về “Thịnh vượng chung Ba Lan” (Polish Commonwealth) để chỉ vương quốc bầu cử sau năm 1572. Thế nhưng thuật ngữ “cộng hòa” thực sự bao trùm vô số hình thức chính quyền nếu chúng ta không chỉ nghĩ đến Vương quốc Ba Lan trước năm 1795, mà còn đến Cộng hòa Venice mang đậm tính quý tộc (Christanissima Res Publica), Cộng hòa Xô Viết (Liên Xô), Cộng hòa Pháp hiện tại (theo chế độ tổng thống), và Cộng hòa San Marino không có tổng thống mà được điều hành bởi năm vị Nhiếp chính quan (capitani reggenti). Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trên thực tế (de facto) là một nước cộng hòa, nhưng lại không được gọi như vậy trong Hiến pháp. Chỉ các tiểu bang của Liên bang mới được yêu cầu phải có một “Hình thức Chính quyền Cộng hòa” (Điều khoản IV.4).
Dựa trên những ngữ nghĩa này trong một góc nhìn lịch sử, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để định nghĩa nền dân chủ (vốn từng là một nhãn dán mang tính miệt thị) theo các thuật ngữ hiện đại. Câu trả lời của nền dân chủ cho câu hỏi “Ai nên cai trị?” là: “Đa số những công dân bình đẳng về mặt chính trị có thể đích thân cai trị hoặc thông qua các đại diện của họ.” Tiêu chí thứ hai (thông qua đại diện) đề cập đến dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Tuy nhiên, cách diễn đạt này lại làm nảy sinh một loạt các câu hỏi phụ.
Một trường phái khăng khăng cho rằng chỉ có dân chủ trực tiếp mới là nền dân chủ thực sự, trong khi các đại biểu được bầu ra thực chất chỉ tạo thành một chế độ đầu (oligarchy) có thời hạn. Tồn tại một cái gọi là “trường phái quả đầu” về cách diễn giải nền dân chủ này, và những người phản đối hàng đầu của nó là Vilfredo Pareto, Gaetano Mosca và Roberto Michels (một cựu đảng viên Xã hội Đức đã được Ý hóa). Cả ba người này có thể được xem là những người có cảm tình với chủ nghĩa phát xít, nhưng có lẽ chính môi trường trí thức và thực tế của nước Ý, vốn vô cùng thù địch với mọi hình thức ảo tưởng, đã ảnh hưởng đến tư duy phản biện của họ. Một trường phái khác lại duy trì quan điểm rằng việc bầu chọn các đại diện – những người bị ràng buộc bởi lương tâm phải nói lên quan điểm của các cử tri đã bầu cho mình – là một màn trình diễn dân chủ; trong khi đó, những đại diện mà trong suốt nhiệm kỳ lập pháp lại để bản thân được dẫn dắt bởi sự sáng suốt của chính mình, kiến thức của chính mình, lương tâm của chính mình, thì nên được coi là những người thực thi tinh thần cộng hòa.
Nhiều nhà bình luận thời cổ đại mặc định rằng nền cộng hòa cũng bị cai trị bởi đa số không kém gì nền dân chủ, nhưng trong trường hợp của nền cộng hòa, đa số không chỉ là phần đông hơn (pars maior), mà còn là phần lành mạnh và ưu tú hơn (sanior); trong khi ở một nền dân chủ, đa số lại vô tình là phần kém cỏi hơn của quốc gia. Quả thực, ở mọi quốc gia, “nửa” dưới của kim tự tháp xã hội (nếu cho phép dùng lối diễn đạt này) luôn luôn là “nửa lớn hơn” rất nhiều, điều đó có nghĩa là những người có phẩm chất ưu tú luôn có thể bị áp đảo về số phiếu bầu. Chúng tôi không nói rằng họ chắc chắn sẽ bị áp đảo.
Người ta có thể tưởng tượng ra viễn cảnh những “quý tộc tự nhiên” (natural aristoi) sẽ nằm phần lớn trong hàng ngũ của đảng giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử. Tuy nhiên, họ sẽ hết sạch may mắn nếu một kẻ mị dân (demagogue – ở Hy Lạp cổ đại có nghĩa là “người lãnh đạo nhân dân” trong một nhà nước dân chủ) huy động thành công quần chúng để chống lại họ.
Khi chúng ta nói về “những công dân bình đẳng về mặt chính trị”, chúng ta phải thừa nhận rằng định nghĩa về “công dân chính thức” (những người tham gia cai trị đất nước) luôn mang tính tùy tiện. Ví dụ, ở Thụy Sĩ và Haiti, phụ nữ từng bị tước quyền bầu cử. Thế nhưng, thật khó để lập luận rằng Thụy Sĩ vì thế mà không phải là một nền dân chủ – mặc dù vẫn có thể làm như vậy. Lập luận phản bác chính của Thụy Sĩ, vốn là đặc trưng của một quốc gia có tính quân sự hóa cao này, là phụ nữ không phải phục vụ trong lực lượng vũ trang. Họ không có nghĩa vụ ngang nhau và, vì lý do chính đáng đó, họ không có quyền ngang nhau. Những lý do về giáo dục hay trí tuệ cho sự phân biệt đối xử này không bao giờ được đưa ra, bởi vì điều đó sẽ quá rõ ràng là “phi dân chủ”.
Thậm chí còn tùy tiện hơn nữa là các giới hạn độ tuổi được ấn định nhằm chọn ra những “cử tri trưởng thành”. Nhưng một người (nam hay nữ) có thể đạt được sự trưởng thành từ rất sớm, người khác lại đạt được vào “tuổi bầu cử”, người thứ ba thì muộn hơn, và người thứ tư thì không bao giờ. Có sự trưởng thành nhưng lại thiếu kiến thức và có kiến thức nhưng lại thiếu sự khôn ngoan. Tuy nhiên, những phân tích này có thể dẫn chúng ta đi quá xa khỏi chủ đề chính.
Đối với những ai khăng khăng cho rằng con người không chỉ là động vật xã hội (animalia socialia) mà còn là động vật chính trị (zoa politika), độ tuổi bầu cử được ấn định một cách tùy tiện là một vấn đề nghiêm trọng và cũng không thể giải quyết được: Nếu chúng ta chấp nhận lý luận của các học thuyết này, thì một số người đang bị tước đoạt “quyền do Chúa ban” (vốn dĩ gắn liền với bản tính do Chúa ban cho họ). Ở nhiều quốc gia, độ tuổi bầu cử đã được hạ xuống bằng với độ tuổi đi nghĩa vụ quân sự, rõ ràng là kết quả của việc áp dụng lý luận kiểu Thụy Sĩ về quyền và nghĩa vụ. Chính lý luận này cũng đã dẫn đến – khi được áp dụng ngược lại – việc động viên quân dịch và cuộc tổng động viên (levée en masse) trong nền Đệ Nhất Cộng hòa Pháp.
Tuy nhiên, dù có đưa ra những nhận xét ngoài lề nào đi chăng nữa, thì thực tế vẫn là nền dân chủ dựa trên hai trụ cột: quy tắc đa số và sự bình đẳng chính trị; và điều này vẫn đúng mặc dù một số hiến pháp tạo ra khả năng (dù có hay không có hành vi gian lận bầu cử ranh ma – gerrymandering) một thiểu số công dân vẫn có thể bầu ra một đa số các nghị sĩ. Đại diện tỷ lệ (Proportional Representation – P.R.) loại bỏ khả năng này. Nhiều bất lợi của đại diện tỷ lệ thường xuyên được chỉ ra và ý tưởng này bị chỉ trích gay gắt, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, P.R. có tính “dân chủ” cao hơn hệ thống bầu cử theo đa số như đang tồn tại ở Hoa Kỳ và Anh – tuy nhiên không nhất thiết là tốt hơn.
Dưới đây là bản dịch của đoạn văn, tôi đã loại bỏ các con số bị kẹt (chú thích số 5, 6 và số trang 30) cũng như tinh chỉnh văn phong để giữ được sắc thái triết lý chính luận sâu sắc của tác giả:
Tuy nhiên, tự do không hề liên quan gì đến dân chủ – và nền cộng hòa cũng vậy. Việc 51 phần trăm đàn áp 49 phần trăm, hay 99 phần trăm đàn áp 1 phần trăm là điều hết sức đáng tiếc, nhưng nó không hề “phi dân chủ”. Chúng ta phải ghi nhớ rằng chỉ có nền dân chủ mới biến các khái niệm về đa số và thiểu số thành một thực tế chính trị tuyệt đối: dĩ nhiên, toàn thể nhân dân không bao giờ là người cai trị, mà là phe đa số (thường là) cai trị thông qua các đại diện của mình. Nếu phe đa số này tỏ ra khoan dung với những kẻ mà họ đã đánh bại trong cuộc bầu cử trước đó, thì động lực của họ không xuất phát từ các nguyên tắc dân chủ mà là từ lòng khoan dung. Và nếu lòng khoan dung này được hệ thống hóa thành hệ tư tưởng, chúng ta có thể nói về chủ nghĩa tự do theo đúng nghĩa chân chính của nó, chứ không phải theo cái nghĩa đã bị bóp méo hoàn toàn ở Mỹ. (Xem Chương VIII).
Vì vậy, chúng ta thấy rằng trong trật tự dân chủ, cụm từ “sự cai trị của nhân dân” là một sự gây hiểu lầm. Đa số cai trị thiểu số, điều này gợi nhớ đến câu nói nổi tiếng của George Orwell trong cuốn Trại Súc Vật: “Tất cả các loài vật đều bình đẳng, nhưng một số loài lại bình đẳng hơn những loài khác.” Khái niệm về một bộ phận này thống trị một bộ phận khác làm phật ý những “kẻ sùng bái dân chủ” (democratist), tức là những kẻ ủng hộ chủ nghĩa dân chủ (democratism) – thứ dân chủ được nâng tầm lên thành một hệ tư tưởng. Hắn ta sẽ lập luận rằng những người bị đánh bại trong một cuộc bầu cử, trên thực tế (thông qua sự hợp tác của họ trong tiến trình này), đã giúp phe đa số thực hiện kế hoạch của mình, giống hệt như việc một người mua tờ vé số không trúng giải đã đóng góp vào giải độc đắc mà một người khác giành được. Lý lẽ đó cho rằng một người dân chủ thực sự, khi bỏ lá phiếu của mình, tự trong thâm tâm đã chấp nhận và lường trước thực tế rằng phe đa số sẽ là người chiến thắng.
Tuy nhiên, điều này chắc chắn sẽ không đúng ở những nơi mà chỉ một bộ phận dân chúng tin vào dân chủ như một tín điều. (Trong các cuộc bầu cử ở Đức vào tháng 7 và tháng 11 năm 1932, chỉ một bộ phận rất nhỏ cử tri thực sự tin tưởng vào các tiến trình dân chủ). Thế nhưng, ngay cả khi toàn bộ cử tri bị thuyết phục bởi các giáo điều của chủ nghĩa dân chủ, cái gật đầu “đồng ý” của những cử tri thất vọng vẫn là một sự ưng thuận đầy miễn cưỡng và đôi khi là vô cùng đau khổ. Về mặt hiện sinh, dân chủ hoàn toàn không phải là sự tự quản, và sự tự quản (trừ phi chúng ta chủ trương sự nhất trí tuyệt đối trong một tiến trình dân chủ) vẫn mãi chỉ là một ảo tưởng. Herman Melville đã bày tỏ quan điểm này khi ông nói: “Thà được an toàn dưới trướng một vị vua, còn hơn là phơi mình trước bạo lực của hai mươi triệu vị quân vương, dù cho chính bản thân mình cũng là một trong số đó.”
Thực tế, cử tri không bao giờ biết chính xác lá phiếu của mình sẽ mang lại tác động gì – liệu nó sẽ biến họ thành kẻ chiến thắng hay kẻ thua cuộc. Vào buổi sáng sau ngày bầu cử, anh ta sẽ mua một tờ báo và sau khi kiểm tra xem mình có trúng số hay không, kết quả cá cược đua ngựa ra sao, xu hướng nào đang chiếm ưu thế trên thị trường chứng khoán, cuối cùng anh ta mới lật đến trang nhất và xem mình thuộc phe thắng hay phe thua. Ở nhiều quốc gia, anh ta thậm chí sẽ phải chờ đợi bởi vì có thể xảy ra trường hợp không đảng nào giành được đa số tuyệt đối, và một chính phủ sẽ chỉ được thành lập sau những cuộc đàm phán kéo dài dằng dặc mà cử tri không hề có bất kỳ tiếng nói nào. Anh ta chỉ có thể vui vẻ hoặc tức giận đứng nhìn lá phiếu của mình bị đem ra sử dụng. Thực tế mà nói, “về mặt hiện sinh”, anh ta luôn phải “đối mặt” với một tình thế đã được an bài từ trước: Anh ta phải lựa chọn giữa những ứng cử viên mà anh ta hiếm khi có cơ hội tham gia đề cử (và không bao giờ tự tay mình chọn lọc), do đó, anh ta thường phải chọn kẻ ít tồi tệ nhất trong số những kẻ không ai mong đợi.
Ở các quốc gia lớn, không cần phải bàn cãi, mỗi cử tri chỉ là một đơn vị vi mô bé nhỏ. Nếu toàn bộ cử tri Hoa Kỳ được ví như một vạch đen dày cao bằng Tòa nhà Empire State ở New York, thì trên đồ thị, một lá phiếu duy nhất sẽ chỉ bằng khoảng 4 micron (4 µm), tức là bằng bốn phần nghìn của một milimét (và một milimét chỉ bằng 1/28 của một inch). Khái niệm “tự quản”, trong những hoàn cảnh như thế này, hầu như chẳng có chút ý nghĩa nào.
Thế nhưng, “tự quản” (self-government) lại là một giấc mộng dễ hiểu. Nếu tin chắc rằng chính quyền (Nhà nước) sẽ không tồn tại nếu không có tội tổ tông, chúng ta phải nhìn nhận chủ nghĩa dân chủ như một phong trào mang tính “Thiên đường” (paradisiacal) – cùng với một vài thứ khác hứa hẹn cho chúng ta một xã hội không tưởng chốn Địa đàng, vốn thường được tô vẽ như sự quay trở lại một thời kỳ hoàng kim đã mất. (Thời kỳ hoàng kim này, dưới lăng kính thế tục, không bị đánh mất do tội lỗi nổi loạn của tổ tiên chúng ta, mà là hệ quả của một âm mưu thâm độc của những nhóm thiểu số xấu xa). Khái niệm tự quản ngụ ý rằng chúng ta sẽ không bị cai trị bởi bất kỳ ai khác: chúng ta sẽ tự làm điều đó và nhờ vậy chúng ta sẽ được “tự do”. Do đó, sự cai trị, bạo lực và sự quỵ lụy sẽ đi đến hồi kết.
Chủ nghĩa khỏa thân (nudism) muốn giải quyết vấn đề tình dục bằng cách trút bỏ quần áo. Thế nhưng kết quả chỉ là người ta quen dần với sự khỏa thân trong khi những vấn đề tình dục thực sự của họ vẫn còn nguyên đó (như trường hợp của Nhật Bản). Đơn giản là không có con đường nào để lẻn lại vào Thiên đường bằng cửa sau hay bằng những trò tiểu xảo chính trị. Nỗi khổ nhục khi bị kẻ khác cai trị vẫn còn đó, và nỗi khổ này chỉ có thể được xoa dịu nếu chúng ta yêu thương những người cai trị mình. Sự nô dịch chỉ có thể được hóa giải trong tình yêu thương, nhưng làm sao có thể tồn tại tình yêu dành cho những kẻ cai trị chúng ta khi mà chúng ta thuê mướn và sa thải họ hệt như những kẻ tôi tớ đáng ghét? Chẳng phải các từ “chính trị” và “chính trị gia” đã mang những ý nghĩa miệt thị trong các nền dân chủ rồi sao? Chẳng phải chúng đang thể hiện sự khinh miệt, nghi ngờ, châm biếm và mỉa mai đó sao?
Khi chúng ta nói về sự khoan dung như là bản chất của chủ nghĩa tự do – thứ có thể bước vào hoặc không bước vào vũ đài dân chủ – điều chúng ta muốn nói ở đây là sự sẵn sàng “gánh vác” (theo nghĩa chịu đựng – tolerare), “chịu đựng” sự hiện diện, sự lan truyền và sự trình bày của những quan điểm, ý tưởng và khái niệm mà chúng ta cự tuyệt hoặc phản đối. Chúng ta kìm nén cơn phẫn nộ chực trào của mình, chúng ta tập hợp lòng bác ái, chúng ta cho đồng loại của mình cơ hội để công khai bất đồng quan điểm dù cho cảm xúc của chúng ta hoàn toàn trái ngược. Khoan dung mang trong nó một đức hạnh thực sự, bởi vì nó đòi hỏi sự tự chủ và một thái độ “khổ hạnh”.
Đồng thời, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng sự khoan dung có những giới hạn nhất định. Người ta không thể dung túng cho mọi hành vi, mọi hệ tư tưởng chính trị ở mọi thời điểm: Ví dụ, Hoa Kỳ từng hạn chế nghiêm ngặt việc nhập cư đối với những người vô chính phủ, và những người muốn nhập cư phải tuyên thệ rằng họ không phải là những kẻ vô chính phủ hay những kẻ đa thê. Những người vô chính phủ tin vào “Chiến dịch Hành động” (Propaganda of Deeds), đồng nghĩa với ám sát, phá hoại và cách mạng công khai. Người ta cũng không thể khoan dung với tất cả các đức tin. Có những tôn giáo khuyến khích giết người, ví dụ như giáo phái Thug ở Đông Ấn, những kẻ ám sát khách lữ hành vì vinh quang vĩ đại hơn của nữ thần Kali. (Việc có nên đặt chế độ đa thê vì lý do tôn giáo ra ngoài vòng pháp luật hay không vẫn là một câu hỏi gây tranh cãi.)
Khi tôi chào đời, có khoảng nửa triệu đồng bào của tôi là người Hồi giáo, và nhánh bảo thủ của giáo phái Mormon chắc chắn là một tôn giáo đích thực của nước Mỹ. Hơn nữa, hầu hết các tiểu bang của Mỹ đều cho phép chế độ đa thê theo kiểu “trả góp” [ngụ ý việc ly hôn rồi tái hôn liên tục]. Ví dụ, Tây Đức, dù tốt hay xấu, đã đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật trong nhiều năm. Tuy nhiên, điều đó lại hợp pháp ở Áo, nơi những kẻ ủng hộ phòng ngạt vận áo nâu (chỉ lực lượng phát xít) không được phép có một đảng phái chính trị, trong khi những đao phủ áo đỏ – những kẻ thực thi lối hành quyết bắn xuyên qua gáy (chỉ lực lượng cộng sản) – thì lại được. Trong những vấn đề này, một lần nữa, một sự tùy tiện nhất định lại lên ngôi.
Những kẻ không có nguyên tắc, không có niềm tin vững chắc, không có giáo điều thì không thể khoan dung – họ chỉ có thể thờ ơ, và đó lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Ở một người theo thuyết bất khả tri, người ta mong đợi sự thờ ơ chứ không phải lòng khoan dung, bởi vì anh ta chẳng có lý do chính đáng nào để phải chịu đựng quan điểm của người khác. Đối với anh ta, chân lý hoặc là không tồn tại, hoặc là con người không thể đạt tới được. Một người bất khả tri nghiêm ngặt không đưa ra các phán đoán giá trị, và do đó đối với anh ta không có “tốt” hay “xấu”, trong khi “đúng” và “sai” chỉ mang những ý nghĩa thực dụng, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Đối với một người như Oliver Wendell Holmes Jr., con người chẳng tốt đẹp gì hơn một con khỉ đầu chó hay một hạt cát. Ông ta cũng từng viết: “Con người hiện tại là một loài động vật ăn thịt.
Tôi cho rằng sự thiêng liêng của mạng sống con người chỉ là một ý tưởng thuần túy mang tính địa phương, không có giá trị bên ngoài phạm vi quyền hạn tài phán.” Một người bất khả tri, một kẻ theo chủ nghĩa tương đối về triết học, chỉ có thể nói với đối thủ của mình rằng: “Tôi nghĩ tôi đúng theo cách của tôi, và mặc dù anh khác tôi, anh có thể đúng theo cách của anh. Vậy chúng ta hãy cưa đôi, mỗi bên chịu một nửa (fifty-fifty).” Tất cả những điều này gợi nhớ đến cuộc trò chuyện “thú vị” giữa Franklin D. Roosevelt và Stalin tại Hội nghị Teheran, khi Stalin muốn hành quyết 50.000 “tên địa chủ Junker và bọn quân phiệt”, còn Roosevelt ban đầu đề xuất 49.000 và sau đó đưa ra một con số thỏa hiệp là 49.500. Cuộc trò chuyện mang tính bông đùa, nhưng theo một cách nào đó, lại không hề đùa chút nào. Nó làm ghê tởm ngay cả một kẻ vô đạo như Winston Churchill.
Dẫu vậy, dù xuất phát từ lòng khoan dung hay sự thờ ơ, thì sự sẵn sàng nhượng bộ và thỏa hiệp vẫn là tinh hoa của đời sống nghị viện trong một nền dân chủ. Bản thân nó không tự nhiên mà thuộc về nền dân chủ. (Không một diễn giả vận động tranh cử nào lại hứa hẹn sẽ trở thành một chuyên gia thỏa hiệp siêu việt sau khi đắc cử, mà thường là ngược lại!) Thế nhưng, nó lại là chất bôi trơn và là điều kiện tiên quyết (conditio sine qua non) của nền dân chủ. Đến đây, chúng ta cũng nên nhất trí rằng phần lớn những người được truyền cảm hứng bởi các nguyên tắc tự do ở thế giới phương Tây, khi nói về dân chủ, thường ngầm hiểu đó là một nền dân chủ tự do. Từ đó mới nảy sinh những sai lầm, chẳng hạn như khi người ta gọi việc tịch thu một tờ báo là “phi dân chủ”. Nếu đa số người dân tán thành việc đó, thì hành động ấy mang tính dân chủ rất cao, nhưng chắc chắn nó không hề mang tính tự do.
Vậy thì, chủ nghĩa tự do được hiểu đúng là như thế nào? Chủ nghĩa tự do không phải là một thuật ngữ dành riêng cho chính trị. Nó có thể được áp dụng cho một cuộc cải cách nhà tù, một trật tự kinh tế, hay một nền thần học. Tuy nhiên, trong khuôn khổ chính trị, nó không trả lời câu hỏi (như nền dân chủ vẫn làm): “Ai nên cai trị?”, mà là: “Sự cai trị nên được thực thi như thế nào?” Câu trả lời là: “Bất kể ai cai trị – một vị quân vương, một nhóm tinh hoa, hay phe đa số – chính quyền phải được điều hành theo cách sao cho mỗi công dân được tận hưởng lượng tự do cá nhân lớn nhất có thể.” Giới hạn của tự do hiển nhiên là công ích (lợi ích chung). Đồng thời, phải thừa nhận rằng công ích (cả về vật chất lẫn tinh thần) không dễ gì định nghĩa được; nó dựa trên các phán đoán giá trị và việc định nghĩa nó không bao giờ thoát khỏi một sự tùy tiện nhất định.
Các giới hạn tốc độ cắt giảm tự do vì lợi ích chung. Nhưng vẫn có sự tùy tiện trong việc thiết lập các giới hạn này. Liệu người ta có thể đưa ra một lập luận hợp lý, chặt chẽ tuyệt đối cho việc giới hạn tốc độ ở mức 40, 45 hay 50 dặm một giờ không? Chắc chắn là không. Dẫu vậy, rõ ràng tự do chỉ mang tính tương đối, rằng một người theo chủ nghĩa tự do chân chính chỉ đơn thuần muốn đẩy nó đến những giới hạn khả thi nhất, và rằng tự do không thể giống hệt nhau ở mọi thời điểm, mọi nơi chốn, trong mọi hoàn cảnh, và đối với cùng những con người. (Chẳng hạn, người ta có thể cho phép một thanh niên 18 tuổi lái xe nhưng không cho phép một đứa trẻ 13 tuổi, v.v.) Không phải con người, mà chỉ có Thiên Chúa mới tự do một cách tuyệt đối và hoàn hảo. Nhưng tự do thực sự gắn liền với con người (sinh vật đầy bất an – animal insecurum, theo cách gọi của Wust) bởi vì con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Tự do không thuộc về thế giới động vật, cũng chẳng thuộc về phạm trù của vật chất vô tri.
Tự do, như chúng ta thấy, là định đề duy nhất của chủ nghĩa tự do – trong cả bốn giai đoạn của chủ nghĩa tự do chân chính. Do đó, nếu nền dân chủ mang tính tự do, thì mạng sống, những ý thích bất chợt,và những lợi ích của phe thiểu số sẽ được tôn trọng ngang với phe đa số. Tuy nhiên, rõ ràng là không chỉ có nền dân chủ mà ngay cả một nền quân chủ (chuyên chế hay hình thức khác) hoặc một chế độ quý tộc (tinh hoa) cũng có thể mang tính tự do. Thực tế mà nói, sự tương đồng giữa dân chủ và chủ nghĩa tự do hoàn toàn không lớn hơn sự tương đồng giữa, giả sử như, quân chủ và chủ nghĩa tự do, hay giữa một chính quyền hỗn hợp và chủ nghĩa tự do. (Chẳng hạn, người dân dưới chế độ quân chủ Hy Lạp – vốn là một chính quyền hỗn hợp thực sự hiệu quả chứ không chỉ mang tính biểu tượng – không hề kém tự do hơn người dân ở Costa Rica, nếu chỉ nêu ra một ví dụ).
Dưới lăng kính của hệ thống thuật ngữ mà chúng ta đang sử dụng (vốn phù hợp với các nhà khoa học chính trị hàng đầu), dường như – để trích dẫn một vài trường hợp – các vị quân vương như Louis XIV, Frederick II, hay George II đều là những người theo chủ nghĩa tự do chân chính nếu xét theo các tiêu chuẩn hiện đại. Không một ai trong số những vị vua kể trên có thể ban hành một sắc lệnh bắt lính toàn bộ nam giới vào quân đội, một sắc lệnh quản lý chế độ ăn uống của công dân, hay một sắc lệnh đòi hỏi người chủ của mỗi hộ gia đình phải “thú tội” toàn bộ các hoạt động kinh tế của mình dưới hình thức tờ khai thuế thu nhập.
Chúng ta đã phải đợi đến thời đại dân chủ mới được chứng kiến chế độ quân dịch, lệnh cấm rượu (prohibition), và hệ thống thuế khóa hiện đại được luật hóa bởi những người đại diện cho nhân dân – những kẻ nắm trong tay quyền lực lớn hơn nhiều so với cả những gì các vị quân vương chuyên chế thuở xưa từng mơ tới. (Cũng cần lưu ý thêm rằng ở Tây và Trung Âu, các quân vương “chuyên chế” – nhờ vào các tổ chức trung gian [corps intermédiaires] – chưa bao giờ thực sự chuyên chế tuyệt đối: các nghị viện địa phương [parlements] ở Pháp,và các hội đồng đại diện khu vực [Landtage và Stände] ở các vùng lãnh thổ của Đức chưa bao giờ ngừng nhóm họp).
Các nghị viện hiện đại có thể độc đoán và quyết liệt hơn trong mọi yêu sách của mình bởi vì họ hoạt động dựa trên câu thần chú dân chủ kỳ diệu: “Chúng tôi là nhân dân, và nhân dân – chính là chúng tôi.” (“We are the people, and the people-that’s us.”)
Theo một cách nào đó, các vị quân vương luôn phải bước đi trên băng mỏng. Họ dốc hết sức để truyền lại đất nước cho người nối ngôi. Nếu thất bại thảm hại, đôi khi họ còn bị chém đầu. Họ chẳng thể êm thắm lui về một văn phòng luật sư yên tĩnh như các nghị sĩ hay tổng thống khi thất bại trong việc tái đắc cử. Tồn tại những xu hướng toàn trị và đơn khối vốn dĩ nằm trong nền dân chủ mà ngay cả chế độ quân chủ “chuyên chế” cũng không có, và càng không thể tìm thấy trong chính quyền hỗn hợp – thứ mà không ngoa khi gọi là truyền thống chính trị vĩ đại của phương Tây.
Từ những điều trên, chúng ta có thể thấy rằng dân chủ và chủ nghĩa toàn trị không phải là hai khái niệm bài xích lẫn nhau. Giáo sư J. L. Talmon đã rất đúng đắn khi đặt tên cho một trong những cuốn sách của mình (về Cách mạng Pháp) là Nguồn gốc của Nền Dân chủ Toàn trị (The Origins of Totalitarian Democracy), và không phải ngẫu nhiên mà các “chủ nghĩa” đe dọa tự do từ thế kỷ XVIII cho đến ngày nay đều tự gán cho mình cái nhãn “dân chủ”. Người ta luôn rêu rao rằng đa số, thậm chí là đại đa số nhân dân, đều ủng hộ “làn sóng tương lai” này. Đôi khi, tuyên bố này lại dựa trên một cơ sở thống kê vô cùng vững chắc.
Ngược lại, chủ nghĩa tự do chân chính hiếm khi trở thành một phong trào quần chúng thực sự – còn chủ nghĩa bảo thủ thì tuyệt nhiên không bao giờ. Cuộc hôn nhân giữa dân chủ và chủ nghĩa tự do (chúng ta một lần nữa nhấn mạnh: theo đúng nghĩa từ nguyên của thuật ngữ) xuất hiện khá muộn màng trong lịch sử và đã gieo sẵn những mầm mống của sự ly hôn. De Tocqueville đã nhận thức quá rõ ràng rằng: dù nền dân chủ có thể sa lầy vào sự hỗn loạn, thì mối nguy hiểm lớn hơn lại chính là sự tiến hóa dần dần của nó thành một chủ nghĩa toàn trị áp bức – một hình thái bạo ngược mà thế giới chưa từng chứng kiến trước đó, vốn được tiếp sức một phần bởi các phương thức quản lý hiện đại và những phát minh công nghệ.
Chương 4: Hữu phái và Tả phái
Cho đến nay, chúng ta đã dọn dẹp được một khối lượng lớn những “đống đổ nát” về mặt ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng thường được sử dụng ở thế giới phương Tây (mặc dù đôi khi không phải ở Hoa Kỳ). Nhưng giờ đây chúng ta đã đi đến một định nghĩa rất cần thiết, dù không được chấp nhận phổ quát: định nghĩa về các thuật ngữ “hữu” (right) và “tả” (left).
Nếu đã có sẵn một định nghĩa khả thi, thì công việc của chúng ta sẽ là thừa thãi. Điều này cũng đúng nếu chúng ta có thể loại bỏ hoàn toàn hai từ ma thuật này. Tuy nhiên, chúng có thể được sử dụng rất hiệu quả và thường – như những nhãn dán tiện lợi – thực sự làm đơn giản hóa vấn đề.
Khái niệm “hữu” và “tả” đã được sử dụng trong nền văn minh phương Tây từ thời xa xưa với những ý nghĩa nhất định; hữu (tiếng Đức: rechts) mang hàm ý tích cực, tả mang hàm ý tiêu cực. Trong tất cả các ngôn ngữ châu Âu (bao gồm cả các ngôn ngữ hệ Slav và tiếng Hungary), “hữu” (right) được kết nối với “sự đúng đắn / quyền lợi” (ius), một cách đúng đắn, chính đáng; trong tiếng Đức là gerecht (công lý), tiếng Nga là pravo (luật pháp), pravda (sự thật); trong khi đó ở tiếng Pháp, gauche (bên trái) cũng có nghĩa là “vụng về, lóng ngóng” (trong tiếng Bulgaria là levitsharstvo). Từ sinistro trong tiếng Ý có thể có nghĩa là bên trái, xui xẻo hoặc thảm khốc. Từ sinister trong tiếng Anh có thể có nghĩa là bên trái hoặc nham hiểm/đen tối. Từ chỉ “bên phải” trong tiếng Hungary là jobb, đồng thời cũng có nghĩa là “tốt hơn”, trong khi bal (bên trái) được sử dụng trong các danh từ ghép với ý nghĩa tiêu cực: balsors là sự bất hạnh.
Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, vào Ngày Phán Xét, những người công chính sẽ ở bên phải và những kẻ bị kết án sẽ ở bên trái. Chúa Kitô ngồi ad dexteram Patris (bên hữu Đức Chúa Cha) như Kinh Tin Kính Nicene đã khẳng định. Ở Anh, việc sắp xếp chỗ ngồi cho những người ủng hộ chính phủ ở bên phải và phe đối lập ở bên trái đã trở thành một phong tục. Và khi tiến hành bỏ phiếu tại Hạ viện, những người bỏ phiếu thuận (“ayes”) sẽ đi vào hành lang bên phải phía sau ghế của Chủ tịch Hạ viện, trong khi những người bỏ phiếu chống (“noes”) đi vào hành lang bên trái. Họ được đếm bởi bốn thành viên, những người này sau đó sẽ thông báo kết quả cho Chủ tịch Hạ viện. Do đó, trong “Bà mẹ của các Nghị viện” (chỉ Nghị viện Anh), bên phải và bên trái ngụ ý sự khẳng định hoặc sự phủ định.
Trên Lục địa (châu Âu), bắt đầu từ Pháp, nơi hầu hết các nghị viện có hình móng ngựa (chứ không phải các dãy ghế dài đối diện nhau), các đảng bảo thủ nhất được xếp ngồi ở bên phải, thường được sát cánh bởi các đảng viên tự do; tiếp đến là các đảng phái ở phe trung dung (những người thường giữ các vị trí chủ chốt trong việc hình thành các liên minh chính phủ); sau đó là những kẻ “cấp tiến” và cuối cùng là những người Xã hội, Xã hội Độc lập, và Cộng sản. Ở Đức sau Thế chiến I, một điều vô cùng đáng tiếc là những người Quốc xã (National Socialists) lại được xếp ngồi ở cực hữu, bởi vì đối với những người có đầu óc đơn giản, những người theo chủ nghĩa dân tộc là những người cánh hữu, nếu không muốn nói là những người bảo thủ – một ý tưởng lố bịch nếu ta nhớ lại rằng Metternich, các gia tộc quân chủ, và những người cực kỳ bảo thủ của châu Âu trong quá khứ đã từng bài trừ chủ nghĩa dân tộc đến mức nào. Quả thực, chủ nghĩa dân tộc là một sản phẩm phụ của Cách mạng Pháp (không kém gì chủ nghĩa quân phiệt).
Rốt cuộc, chủ nghĩa dân tộc (theo cách hiểu thuật ngữ này ở châu Âu, mặc dù không phải ở Mỹ) mang tính đồng nhất bản sắc (identitarian), trong khi lòng yêu nước (patriotism) thì không. Ở Trung Âu, chủ nghĩa dân tộc mang một ý nghĩa thuần túy về sắc tộc và ngụ ý một sự nhiệt tình thái quá về văn hóa, ngôn ngữ, văn hóa dân gian và lối sống. Mặt khác, lòng yêu nước lại đặt trọng tâm vào đất nước. Một người yêu nước sẽ cảm thấy hạnh phúc nếu có nhiều dân tộc cùng chung sống trên Tổ quốc của mình, nơi mà âm hưởng chủ đạo phải là sự đa dạng chứ không phải sự đồng nhất. Một người theo chủ nghĩa dân tộc lại thù địch với tất cả những ai không tuân thủ về mặt sắc tộc. Do đó, chủ nghĩa dân tộc (như được hiểu trên lục địa châu Âu) chính là anh em ruột thịt của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
Việc xếp nhầm vị trí của những đảng viên Quốc xã trong tòa nhà Quốc hội (Reichstag) do đó đã khoét sâu thêm sự nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa và tư duy logic vốn đã bắt đầu từ trước đó. Những người cộng sản, xã hội chủ nghĩa và vô chính phủ bị đồng nhất với cánh tả, còn những người phát xít và Quốc xã bị đồng nhất với cánh hữu. Đồng thời, người ta lại phát hiện ra một số điểm tương đồng giữa Đức Quốc xã ở một bên và những người cộng sản ở bên kia. Từ đó, một công thức nổi tiếng và hoàn toàn ngu ngốc đã ra đời: “Chúng tôi phản đối mọi chủ nghĩa cực đoan, dù là từ cánh tả hay cánh hữu. Và, dù sao đi nữa, phe Đỏ và phe Nâu về cơ bản là giống nhau: các thái cực luôn gặp nhau.”
Tất cả những điều này là kết quả của một lối tư duy vô cùng cẩu thả, bởi vì các thái cực không bao giờ gặp nhau. Lạnh cùng cực và nóng cùng cực, khoảng cách xa cùng cực và gần cùng cực, sức mạnh cùng cực và điểm yếu cùng cực, tốc độ nhanh cùng cực và chậm cùng cực, không có cặp nào trong số chúng từng “gặp nhau”. Chúng không trở nên đồng nhất hay thậm chí là giống nhau. Ngay khoảnh khắc người ta phản công và vặn hỏi cái gã đạo mạo vừa mới lên mặt dạy đời về “sự giao nhau của các thái cực” xem rốt cuộc anh ta hiểu thế nào là tả và hữu, anh ta sẽ tỏ ra bất lực trong việc đưa ra bất kỳ một sự phân tích mạch lạc nào về các thuật ngữ này. Anh ta sẽ lấp lửng ám chỉ một cách yếu ớt rằng ở đầu cực là những kẻ phản động – ví dụ như những người phát xít. Khi bị hỏi liệu Cộng hòa Xã hội Ý (Repubblica Sociale Italiana) của Mussolini là một thiết chế phản động hay cánh tả, anh ta sẽ lại lầm bầm điều gì đó về cái nghịch lý giao thoa của các thái cực. Rõ ràng cánh tả mang tính tập thể và tiến bộ; những người Cộng sản là những “người tiến bộ cực đoan”. Nếu anh ta vẫn khăng khăng bám lấy mớ lý lẽ vô nghĩa này, người ta nên chỉ ra cho anh ta thấy rằng một số xã hội châu Phi nguyên thủy với chủ nghĩa tập thể bộ lạc không thực sự “vô cùng tiến bộ” như thế. Đó thường là lúc cuộc trò chuyện đi vào ngõ cụt.
Sai lầm đầu tiên của lối lập luận lỏng lẻo này nằm ở niềm tin đã được đề cập ở trên rằng “các thái cực gặp nhau”; sai lầm thứ hai nằm ở sự thiếu vắng gần như hoàn toàn các định nghĩa rõ ràng về tả và hữu. Nói cách khác, có một sự khiếm khuyết về logic cũng như sự thiếu rõ ràng về ngữ nghĩa. Logic tồn tại độc lập với những ý thích bất chợt của chúng ta, nhưng chúng ta lại hoàn toàn có thể đưa ra những định nghĩa rõ ràng.
Vậy thì, chúng ta hãy thống nhất với nhau rằng cánh hữu là những gì thực sự đúng đắn đối với con người, mà trên hết là sự tự do của anh ta. Bởi vì con người có nhân cách, bởi vì anh ta là một câu đố, một “mảnh ghép” không bao giờ vừa khít hoàn toàn vào bất kỳ bức tranh chính trị hay xã hội đã được dàn xếp sẵn nào, nên anh ta cần “không gian vùng vẫy” (elbowroom). Anh ta cần một Lebensraum (không gian sinh tồn) nhất định, nơi anh ta có thể phát triển, mở rộng, nơi anh ta sở hữu một vương quốc cá nhân nhỏ bé. “L’enfer, c’est les autres” – “Địa ngục, đó chính là kẻ khác,” như Jean-Paul Sartre, một nhà hiện sinh ngoại giáo, đã nói vào cuối vở kịch Huis Clos của ông. Mối đe dọa vĩ đại đang bủa vây quanh chúng ta. Nó nằm ở trục dọc vì nó giáng xuống từ trên cao, nhưng nó cũng nằm ở trục ngang vì nó tấn công chúng ta từ mọi phía. Trong một thứ chủ nghĩa tập thể được nhà nước bảo hộ, chính quyền áp đặt, và – tệ hơn nữa – được xã hội tán thành, thì tự do của chúng ta, nhân cách “phương Tây” của chúng ta, sự phát triển tâm hồn của chúng ta, hạnh phúc đích thực của chúng ta đều đang bị đe dọa.
Và tất cả các “chủ nghĩa” (isms) năng động, to lớn trong 200 năm qua đều là những phong trào quần chúng tấn công vào tự do và sự độc lập của mỗi cá nhân – ngay cả khi chúng luôn giữ chữ “tự do” trên môi. Về mặt cương lĩnh, điều này được thực hiện nhân danh đủ loại lý tưởng nghe có vẻ cao cả hoặc thậm chí là thấp kém: Quốc gia, chủng tộc, mức sống tốt hơn, “công bằng xã hội”, “an ninh”, niềm tin hệ tư tưởng, sự phục hồi các quyền cổ xưa, hay cuộc đấu tranh vì một thế giới hạnh phúc hơn cho tất cả chúng ta. Nhưng trên thực tế, động cơ thúc đẩy của những phong trào này luôn là tham vọng điên cuồng của những trí thức có tài hùng biện hoặc ít nhất là có tài văn chương, cùng với việc huy động thành công những đám đông sục sôi lòng ghen tị và khát khao “trả thù”.
Cánh hữu phải được đồng nhất với tự do cá nhân, với sự vắng bóng của những viễn cảnh không tưởng mà việc hiện thực hóa chúng – ngay cả khi có khả thi – cũng sẽ đòi hỏi những nỗ lực tập thể khổng lồ; cánh hữu đại diện cho những hình thái đời sống tự do và nảy nở một cách hữu cơ. Và điều này đến lượt nó lại ngụ ý một sự tôn trọng dành cho truyền thống. Cánh hữu mới thực sự mang tính tiến bộ, trong khi chẳng có bước tiến thực sự nào trong chủ nghĩa không tưởng – thứ hầu như luôn đòi hỏi, giống như trong bài Quốc tế ca, việc “quét sạch” quá khứ: du passé faisons table rase (tiếng Pháp) hay dyelayem gladkuyu dosku iz proshlago! (tiếng Nga). Nếu quay trở lại điểm số không, chúng ta lại đứng ở nấc thang dưới cùng và chúng ta lại phải bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng. Bernard xứ Chartres từng nói rằng các thế hệ “giống như những người lùn ngồi trên vai những người khổng lồ, nhờ đó có thể nhìn thấy nhiều thứ hơn và ở một khoảng cách xa hơn so với tổ tiên của họ.”
Thực tế mà nói, hầu hết các xã hội không tưởng, mặc dù mang khí chất “vị lai”, nhưng lại luôn rao giảng về sự quay trở lại một thời kỳ hoàng kim giả định, tỏa sáng rực rỡ trong những gam màu hấp dẫn nhất của một phiên bản được lãng mạn hóa một cách dối trá. Một người cánh hữu chân chính không phải là người muốn quay trở lại thiết chế này hay thiết chế kia chỉ vì mục đích hoài cổ; trước tiên anh ta muốn tìm ra điều gì là chân lý vĩnh cửu, là giá trị vĩnh viễn, và rồi sau đó mới phục hồi hoặc thiết lập lại nó, bất kể nó có vẻ lỗi thời, cổ xưa, hay đương đại, hoặc thậm chí là chưa từng có tiền lệ, mới toanh, “cực kỳ hiện đại”. Những chân lý cũ có thể được tái khám phá, những chân lý hoàn toàn mới có thể được tìm ra. Người Cánh Hữu không sở hữu một tâm trí bị trói buộc bởi thời đại, mà là một tâm trí hoàn toàn tự chủ. Nếu là một tín hữu Cơ Đốc, thì theo lời của Sứ đồ Phêrô, anh ta là người quản gia của một Basileion Hierateuma – một Chức Tư tế Hoàng gia.
Cánh hữu đại diện cho tự do, một lối tư duy cởi mở không định kiến, một sự sẵn sàng bảo tồn các giá trị truyền thống (miễn là chúng là những giá trị đích thực), một góc nhìn cân bằng về bản tính con người, coi con người không phải là dã thú cũng chẳng phải thiên thần, đồng thời nhấn mạnh vào tính độc bản của con người – những cá thể không thể bị biến thành hoặc bị đối xử như những con số hay những mật mã vô tri. Nhưng cánh tả lại là kẻ bênh vực cho những nguyên tắc hoàn toàn trái ngược. Nó là kẻ thù của sự đa dạng và là kẻ cổ xúy cuồng tín cho sự đồng nhất. Sự rập khuôn được nhấn mạnh trong mọi xã hội không tưởng của cánh tả – một thiên đường nơi tất cả mọi người đều “như nhau”, nơi sự đố kỵ không còn tồn tại, nơi “kẻ thù” hoặc là đã bị xóa sổ, hoặc phải sống lây lất ngoài cổng thành, hoặc bị chà đạp nhục nhã. Cánh tả căm ghét sự khác biệt, sự lệch chuẩn và sự phân tầng. Bất kỳ hệ thống cấp bậc nào mà nó chấp nhận đều chỉ mang tính “chức năng”. Từ “Một” chính là tư tưởng chủ đạo: Chỉ nên có một ngôn ngữ, một chủng tộc, một giai cấp, một hệ tư tưởng, một tôn giáo, một mô hình trường học, một bộ luật cho tất cả mọi người, một lá cờ, một quốc huy và một nhà nước thế giới tập quyền duy nhất.
Các khuynh hướng tả và hữu không chỉ hiện diện trong lĩnh vực chính trị mà còn len lỏi vào nhiều lĩnh vực, mối quan tâm và nỗ lực khác của con người. Lấy cấu trúc của nhà nước làm ví dụ. Những người cánh tả tin vào sự tập quyền mạnh mẽ. Những người cánh hữu là những “người theo chủ nghĩa liên bang” (theo nghĩa của châu Âu), những “người bảo vệ quyền của các tiểu bang”, bởi lẽ họ tin vào các quyền và đặc quyền của địa phương; họ đại diện cho nguyên tắc bổ trợ (principle of subsidiarity). Nói cách khác, các quyết định nên được đưa ra và thực thi ở cấp độ thấp nhất – bởi cá nhân, gia đình, ngôi làng, thị trấn, thành phố, quận, tiểu bang, và chỉ đến bước cuối cùng mới do cấp cao nhất định đoạt, tức là bởi chính phủ tại thủ đô của quốc gia. Việc chia cắt các tỉnh lỵ cũ huy hoàng của Pháp cùng các nghị viện địa phương của chúng, rồi thay thế bằng các hạt (départements) nhỏ bé, được đặt tên theo một vài đặc điểm địa lý và phụ thuộc hoàn toàn vào chính phủ Paris, chính là một cuộc “cải cách” mang đậm tính cánh tả điển hình.
Hãy nhìn vào giáo dục. Người cánh tả luôn là kẻ tôn thờ chủ nghĩa nhà nước (statist). Anh ta mang trong mình đủ mọi sự bất mãn và thù địch chống lại sáng kiến cá nhân và doanh nghiệp tư nhân. Ý niệm về việc nhà nước thâu tóm làm mọi thứ (cho đến khi, cuối cùng, nó thay thế mọi sự tồn tại của tư nhân) chính là Giấc mộng Vĩ đại của Cánh tả. Do đó, thiết lập các trường học do thành phố hoặc tiểu bang quản lý – hoặc có một bộ giáo dục kiểm soát mọi khía cạnh của nền giáo dục – là một khuynh hướng cánh tả. Chẳng hạn, có một câu chuyện nổi tiếng về vị Bộ trưởng Giáo dục Pháp, người rút đồng hồ bỏ túi ra, liếc nhìn mặt số và nói với vị khách của mình: “Vào chính khoảnh khắc này, tại 5.431 trường tiểu học công lập, bọn trẻ đang cùng viết một bài luận về những niềm vui của mùa đông.”
Các trường học của giáo hội, trường xứ đạo, trường tư thục, hay gia sư riêng hoàn toàn không dung hợp được với tâm thức của cánh tả. Lý do cho thái độ này thì có vô số. Ở đây không chỉ liên quan đến sự khoái trá đối với quyền lực nhà nước, mà ý tưởng về sự đồng nhất và bình đẳng cũng mang tính quyết định; tức là, ý niệm cho rằng những khác biệt xã hội trong giáo dục phải bị xóa bỏ và tất cả học sinh phải được trao cơ hội để tiếp thu cùng một lượng kiến thức, cùng một loại thông tin, theo cùng một cách thức và ở cùng một mức độ. Điều này sẽ giúp chúng ta tư duy theo những cách đồng nhất, hoặc ít nhất là tương tự nhau.
Thật tự nhiên khi điều này lại càng đặc biệt đúng đối với những quốc gia nơi “chủ nghĩa dân chủ” (democratism) đang được thúc đẩy như một hệ tư tưởng. Ở đó, người ta sẽ nỗ lực tìm cách phớt lờ những khác biệt về chỉ số IQ cũng như nỗ lực của từng cá nhân. Đôi khi, điểm số và sổ liên lạc sẽ bị bãi bỏ và việc xét lên lớp sẽ được thực hiện một cách tự động. Rõ ràng là từ góc độ học thuật, điều này mang lại những hậu quả thảm khốc, nhưng đối với một kẻ cuồng tín hệ tư tưởng thực thụ, điều này chẳng thành vấn đề. Khi được thông báo rằng các sự kiện thực tế không hề ăn khớp với những ý tưởng của mình, Hegel từng gay gắt đáp trả: “Um so schlimmer für die Tatsachen” – thế thì càng xui xẻo cho thực tế.
Cánh tả không ưa tôn giáo vì nhiều lý do. Các hệ tư tưởng của nó, bộ máy nhà nước toàn năng và bao trùm mọi mặt của nó luôn đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối. Khi tôn giáo xuất hiện, ít nhất một sự trung thành khác (với Thiên Chúa) – nếu không muốn nói là cả sự trung thành với Giáo hội – sẽ chen vào giữa. Trong việc đối phó với tôn giáo có tổ chức, cánh tả áp dụng hai phương thức hoàn toàn trái ngược nhau. Một là hình thức tách biệt Giáo hội và Nhà nước nhằm loại bỏ tôn giáo khỏi đời sống công cộng, đồng thời tìm cách làm nó teo tóp bằng cách không cho phép nó tồn tại ở bất kỳ đâu ngoài chốn linh thiêng. Phương thức còn lại là biến Giáo hội thành một tổ chức do nhà nước hoàn toàn kiểm soát. Trong hoàn cảnh đó, Giáo hội bị bóp nghẹt cho ngạt thở, chứ không phải bị bỏ đói cho đến chết. Phát xít Đức và Liên Xô đã sử dụng phương pháp trước; Tiệp Khắc vẫn đang áp dụng phương pháp sau.
Tuy nhiên, thiên kiến chống tôn giáo của cánh tả không chỉ dựa vào tinh thần chống giáo sĩ, chống giáo hội hay sự thù địch đối với việc tồn tại của một thể chế khác, một tổ chức khác bên trong ranh giới Nhà nước. Nó lấy động lực không chỉ từ sự ghen tị mà trên hết là từ sự phủ nhận ý niệm về một trật tự siêu nhiên, một trật tự tâm linh. Cánh tả, về bản chất, mang tính duy vật.
“Nhà nước quan phòng” (Provident State) – hay “Nhà nước nô dịch” (Servile State) theo cách gọi của Hilaire Belloc – rõ ràng là sản phẩm của tư duy tả khuynh. Chúng ta sẽ không gọi đó là “Nhà nước Phúc lợi” (Welfare State) vì mọi nhà nước đều tồn tại vì phúc lợi của công dân; ở đây, một cái tên tốt đẹp đã bị lạm dụng cho một điều tồi tệ. Trong lời tiên đoán cuối cùng của Alexis de Tocqueville trong tác phẩm Nền Dân trị Mỹ (Democracy in America), khả năng – hay đúng hơn là xác suất – về sự tiến hóa toàn trị của nhà nước dân chủ hướng tới nhà nước quan phòng đã được dự báo với độ chính xác rất cao. Ở đây, một lần nữa, hai ước muốn của người tả khuynh được hiện thực hóa: sự mở rộng quyền lực của chính phủ và sự phụ thuộc của cá nhân vào nhà nước – nơi kiểm soát số phận của họ từ nôi cho tới mộ. Mọi chuyển động của công dân: sự sinh ra và cái chết, hôn nhân và thu nhập, bệnh tật và giáo dục, huấn luyện quân sự và di chuyển, bất động sản và các chuyến du hành nước ngoài – mọi thứ đều phải nằm trong tầm nắm bắt của nhà nước.
Người ta có thể tiếp tục kéo dài danh sách này đến mức phát chán. Dĩ nhiên, chúng ta phải nói thêm rằng trong thực tế vận hành, luôn có những ngoại lệ vì khuynh hướng tả là một căn bệnh không nhất thiết lan rộng như một hệ tư tưởng nhất quán và bài bản. Đâu đó, một biểu hiện đơn lẻ vẫn có thể xuất hiện ở “phe đối lập”. Đôi khi, lấy một ví dụ, cái nhãn “hữu khuynh” đã được dán cho chính phủ đương thời của Tây Ban Nha. Tuy nhiên, rõ ràng là một số đặc điểm của chính quyền Franco lại mang bản chất tả khuynh, chẳng hạn như xu hướng tập quyền mạnh mẽ, sự hạn chế đối với các ngôn ngữ ngoài tiếng Castilia, sự kiểm duyệt, hay sự độc quyền của các công đoàn do nhà nước điều hành. Đối với hai khuyết điểm đầu tiên – khuynh hướng tả khuynh vốn dĩ là những khuyết điểm – người ta phải nhớ đến ảnh hưởng của quá khứ lịch sử gần nhất.
Chủ nghĩa dân tộc (theo khái niệm của châu Âu) là cánh tả, và chủ nghĩa dân tộc của xứ Catalonia, Basque và Galicia đương nhiên mang một tính chất tả khuynh cực đoan chống lại sự tập quyền của “người Castilia”. Do đó, ở Madrid, hầu hết các phong trào thúc đẩy các quyền và đặc quyền địa phương, cho dù mang tính chính trị hay sắc tộc, đều bị nghi ngờ là cánh tả, vì mặc nhiên chống lại chế độ hiện tại cũng như sự thống nhất của Tây Ban Nha. (Tây Ban Nha là “Một, Vĩ đại, Tự do”!) Khá kỳ lạ – nhưng dễ hiểu đối với bất kỳ ai có kiến thức thực sự về lịch sử Tây Ban Nha – phe cực hữu ở Tây Ban Nha, dĩ nhiên được đại diện bởi những người Carlist chứ hoàn toàn không phải những người Falange, lại ủng hộ chế độ liên bang (mang tính “cục bộ”, chống tập quyền) theo nghĩa của châu Âu. Những người Carlist phản đối các xu hướng tập quyền của Madrid và khi chính phủ trung ương vào cuối năm 1964 nỗ lực hủy bỏ các đặc quyền của vùng Navarra (các fueros), những người Carlist ở Navarra gần như đã phát ra lời kêu gọi nổi dậy – ngay lúc đó, chính quyền nhanh chóng tuyên bố các bước chuẩn bị của mình là một “sai lầm” và phải nhượng bộ.
Tất cả các phong trào bảo thủ ở châu Âu đều ủng hộ chế độ liên bang và phản đối sự tập quyền. Do vậy, chẳng hạn ở Catalonia, chúng ta bắt gặp mong muốn tự trị và việc gìn giữ, phát triển ngôn ngữ Catalan ở cả những người ủng hộ phe cực hữu lẫn phe cánh tả. Những người vô chính phủ khét tiếng ở Catalonia luôn là những người ủng hộ sự tự trị, nhưng chủ nghĩa vô chính phủ chính thống luôn là một sự pha trộn (mixtum compositum) kỳ lạ. Những viễn cảnh tối hậu của nó mang tính tả khuynh, về bản chất là xã hội chủ nghĩa, nhưng khí chất của nó lại mang tính hữu khuynh.
Phần lớn “chủ nghĩa cộng sản” ngày nay ở Ý và Tây Ban Nha chỉ đơn thuần là “chủ nghĩa vô chính phủ bị công chúng hiểu lầm” (“popularly misunderstood anarchism”). Nhưng mặt khác, cũng có một chi tiết quan trọng là vào năm 1937, một cuộc chiến công khai đã nổ ra ở Barcelona giữa những người cộng sản và những người vô chính phủ. Và chính những người Vô chính phủ đã chống lại những người Cộng sản ở Nga lâu hơn bất kỳ nhóm nào khác, cho đến năm 1924, họ đã bị tiêu diệt theo đúng nghĩa đen trong tất cả các nhà tù và trại giam của Liên Xô. Hy vọng “thuần hóa” họ đã bị từ bỏ.
Hãy lấy chế độ Metternich ở Trung Âu làm ví dụ. Về cơ bản, nó mang đặc tính hữu khuynh, nhưng vì ra đời trong sự phản kháng có ý thức chống lại Cách mạng Pháp, nó đã – một điều bi thảm thường hay xảy ra – học hỏi quá nhiều từ kẻ thù. Đúng là nó chưa bao giờ trở thành toàn trị, nhưng nó lại khoác lên mình những đặc điểm và khía cạnh độc tài mà người ta phải gọi là tả khuynh, chẳng hạn như hệ thống cảnh sát tinh vi được xây dựng dựa trên hoạt động tình báo, mật thám, kiểm duyệt và kiểm soát về mọi phương diện.
Điều tương tự cũng đúng với chủ nghĩa Maurras (Maurrasism), vốn cũng là một sự pha trộn kỳ lạ giữa các quan niệm hữu khuynh và tả khuynh, mang đặc trưng là những mâu thuẫn nội tại sâu sắc. Charles Maurras đồng thời là một người theo chủ nghĩa quân chủ và chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, chế độ quân chủ về cơ bản lại là một thể chế siêu quốc gia. Thông thường, vợ, mẹ của vị quốc vương và hôn phối của con cái ngài đều là người ngoại quốc. Với hai ngoại lệ (Serbia và Montenegro), tất cả các hoàng tộc trị vì có chủ quyền ở châu Âu vào năm 1910 đều có nguồn gốc ngoại quốc. Ngược lại, chủ nghĩa dân tộc mang tính “dân túy”,và các bản hiến pháp cộng hòa điển hình luôn khăng khăng rằng tổng thống phải là người bản xứ. Không thể phủ nhận rằng Maurras có những kiến giải xuất chúng và rất nhiều người bảo thủ ở châu Âu đã vay mượn tư tưởng của ông. Nhưng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà ông lại hợp tác với Đức Quốc xã khi chúng chiếm đóng đất nước mình. Trong phần lớn cuộc đời, ông cũng không phải là một tín hữu Cơ Đốc. Tuy nhiên, ông đã trở về với Đức tin một thời gian trước khi qua đời. 8
Do vậy, nếu ta hiểu một cách khái quát rằng cánh hữu gắn liền với tự do, tính cá nhân và sự đa dạng, còn cánh tả gắn liền với sự nô dịch, chủ nghĩa tập thể và tính đồng phục, thì chúng ta đang sử dụng các phạm trù ngữ nghĩa hoàn toàn hợp lý. Khi đó, cái lối giải thích ngớ ngẩn cho rằng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa Quốc xã giống nhau vì “các thái cực luôn gặp nhau” sẽ không còn khiến chúng ta phải bận tâm nữa. Đứng cùng phe với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa phát xít, và thứ tả khuynh đặc biệt mơ hồ mà ở Hoa Kỳ bị gọi một cách trớ trêu là chủ nghĩa tự do (liberalism), còn có một hiện tượng sẽ được giải thích ở chương 14. Tuy nhiên, điều này lại không đúng với chủ nghĩa tự do ở châu Âu. Đáng chú ý là Đảng Tự do Ý (PLI) lại có vị trí ghế ngồi (trong quốc hội) ở bên phải Đảng Dân chủ Cơ Đốc (Democristiani), ngay cạnh những người bảo hoàng.
Khái niệm cánh hữu và cánh tả sẽ luôn được sử dụng trong cuốn sách này theo đúng ý nghĩa mà chúng ta đã phác thảo ở đây, và chúng tôi tin chắc rằng sự phân định về ngữ nghĩa này thực sự mang tính sống còn khi bàn luận về bối cảnh chính trị của thời đại chúng ta.
PHẦN 2: Chủ nghĩa tả khuynh trong lịch sử
Chương 5: Nguồn gốc lịch sử của tả phái
Hành trình truy nguyên cội rễ này bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại, nơi tác giả chỉ ra những mầm mống đầu tiên của tư tưởng cào bằng nằm ngay trong lòng nền dân chủ Athens. Nền dân chủ này không hướng tới việc bảo vệ tự do cá nhân theo quan niệm hiện đại, mà bị chi phối mạnh mẽ bởi tính chất cai trị của đám đông (vox populi) và sự ác cảm đối với bất kỳ cá nhân nào vượt trội – mà bi kịch của việc kết án tử hình triết gia Socrates là một minh chứng điển hình. Tương tự, khi xem xét lịch sử La Mã, tác giả đánh giá sự cai trị của Julius Caesar không đơn thuần là một chế độ quân chủ chuyên chế truyền thống, mà thực chất là hình mẫu sơ khai của chế độ độc tài dân túy cánh tả (Caesarism), nơi quyền lực tập trung được hợp thức hóa thông qua việc kích động và dựa dẫm vào tầng lớp bình dân.
Tiếp nối mầm mống từ thời cổ đại, khuynh hướng này tiếp tục chuyển mình và thẩm thấu vào đời sống tinh thần thời Trung cổ. Trái với quan niệm phổ biến cho rằng Trung cổ là thời kỳ toàn trị tối tăm, tác giả khẳng định trật tự xã hội dòng chính khi đó vốn mang bản chất của một “chính quyền hỗn hợp” phân tán quyền lực, nơi quyền uy của nhà vua bị giới hạn bởi luật pháp và hệ thống phong kiến. Tuy nhiên, tư tưởng cánh tả vẫn ngầm nảy nở thông qua các giáo phái dị giáo mang cội rễ Ma-ni giáo, tiêu biểu như phái Waldensians. Những phong trào này cổ xúy sự nghèo khổ cực đoan, thể hiện sự thù ghét sâu sắc đối với tư hữu, hệ thống cấp bậc và tầng lớp trí thức. Dưới góc độ tâm lý học, tác giả phân tích và phân loại động lực này thành ba dạng đố kỵ cơ bản: đố kỵ vật chất (uất hận trước sự giàu có), đố kỵ trí tuệ (ác cảm với sự phức tạp của tri thức thần học) và đố kỵ tâm linh.
Sự tích tụ của những xung lực tâm lý này cuối cùng đã bùng nổ thành các phong trào xã hội quy mô lớn ở thời kỳ tiền-Cải cách, tiêu biểu là phong trào Taborite tại Bohemia vào thế kỷ 15 – nhánh cấp tiến của phong trào Hussite. Tác giả đánh giá Taborite là “cuộc cách mạng bản sắc” đầu tiên của châu Âu và là nguyên mẫu hoàn hảo cho các chủ nghĩa toàn trị hiện đại. Tại đây, sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội, sự cuồng tín tôn giáo mang tính thuyết ngàn năm (chiliasm) và bạo lực quân sự đã tạo ra một mô hình xã hội cực đoan, nơi tài sản tư hữu bị xóa bỏ triệt để nhằm thiết lập một trật tự cào bằng tuyệt đối.
Từ hiện tượng Taborite, tác giả nâng cấp luận điểm lên tầm mức triết học khi đưa ra khái niệm “tôn giáo thế tục” (Religionsersatz). Theo tác giả, các hệ tư tưởng toàn trị hiện đại như Chủ nghĩa Cộng sản hay Chủ nghĩa Quốc xã không thể chung sống hòa bình với Cơ Đốc giáo chính thống bởi vì bản thân chúng chính là những bản sao bóp méo của tôn giáo. Chúng tước đoạt cấu trúc tư tưởng Cơ Đốc nhưng thế tục hóa nó: thay vì hứa hẹn sự cứu rỗi và Thiên đường ở thế giới bên kia, chúng hứa hẹn một xã hội hoàn hảo ngay trên mặt đất; đồng thời biến tổ chức đảng phái thành một “giáo hội” thế tục đòi hỏi sự phục tùng và hy sinh tuyệt đối từ cá nhân.
Quá trình thế tục hóa và công cụ hóa tư tưởng này đạt đến điểm bùng nổ tiếp theo trong thời kỳ Cải cách tôn giáo. Tác giả tái định giá sự kiện này khi cho rằng thay vì là điểm khởi đầu cho tự do và dân chủ, Cải cách Tôn giáo ở một khía cạnh quan trọng thực chất mang tính chất phản nhân văn, ủng hộ sự toàn năng của nhà nước – mà tư tưởng của Martin Luther là một đại diện. Tiền đề này đã mở đường cho các giáo phái cực đoan như Anabaptist (Tái tẩy giả) thiết lập nên những chế độ thần quyền cộng sản bằng bạo lực đẫm máu, điển hình như cuộc nổi dậy tại Münster dưới sự lãnh đạo của Thomas Müntzer và Jan van Leyden, nơi của cải bị sung công và xã hội bị vận hành bằng chính sách khủng bố toàn diện.
Tổng kết lại toàn bộ diễn trình lịch sử, chương sách phác họa khuynh hướng cánh tả không phải như những lý tưởng rời rạc phát sinh theo từng thời kỳ, mà là một dòng chảy liên tục và có tính kế thừa sâu sắc. Dòng chảy ấy biến hình từ các dị giáo cào bằng thời Trung cổ thành các phong trào chính trị thế tục cuồng nhiệt của thời hiện đại. Dù ẩn mình dưới lớp vỏ bọc cứu rỗi tâm linh hay lý tưởng tiến bộ xã hội, bản chất bất biến của khuynh hướng này vẫn là việc can thiệp bằng bạo lực nhà nước để san phẳng mọi sự khác biệt tự nhiên, xóa bỏ hệ thống cấp bậc truyền thống và triệt tiêu tính độc lập của cá nhân trong xã hội.
Những cội nguồn sớm nhất
Cánh tả ở thế giới phương Tây có những cội rễ vươn dài về một quá khứ mờ mịt. Những ý tưởng và khái niệm cánh tả đã hết lần này đến lần khác bộc lộ rõ trong giai đoạn cuối thời Trung cổ và lịch sử cận đại, nhưng để tìm thấy sự bùng phát và cụ thể hóa đầu tiên mang tính định mệnh của nó, chúng ta phải nhìn vào Cách mạng Pháp.
Theo hệ thống thuật ngữ đã phác thảo ở trên, các khuynh hướng cánh tả đã tồn tại từ thời Hy Lạp cổ đại. Nền dân chủ Hy Lạp (tại Athens) không chỉ khăng khăng đòi hỏi sự cai trị của số đông mà còn mang một khuynh hướng cào bằng (egalitarian) mạnh mẽ. Đương nhiên, ý niệm về sự bình đẳng chỉ áp dụng cho những công dân đầy đủ, chứ không dành cho phụ nữ, nô lệ và người nước ngoài (metoikoi), do đó, cử tri đoàn trong các nền dân chủ Hy Lạp luôn tạo thành một phe thiểu số.
Chúng ta phải nói thêm rằng các nền dân chủ Hy Lạp, tuy thường xuyên mang tính áp bức nặng nề nhất, vẫn có một số khía cạnh tự do; sự tôn trọng đối với những người ở vị thế cao không được chú trọng, và sự vắng bóng của một giai cấp thống trị được cụ thể hóa mạnh mẽ cũng như sự thiếu hụt hoàn toàn của bất kỳ thứ gì giống với “chế độ tổng thống” đã làm suy yếu tính quyền uy. Trong các mô tả về nền dân chủ của Plato và Aristotle, chúng ta nhận thấy những yếu tố của sự bình đẳng và tự do xã hội, mặc dù không nhất thiết là tự do chính trị. Lòng đố kỵ được thể hiện rõ nét và sự xuất chúng luôn bị nghi ngờ. Nỗi sợ hãi về việc phục hưng chế độ quân chủ là một đặc điểm thường trực; do đó, mọi sự tập trung quyền lực đều đáng sợ. Nếu bất kỳ ai quá xuất chúng về công trạng và uy tín, sự lưu đày thông qua hình thức bỏ phiếu tẩy chay (ostracism) sẽ đe dọa anh ta.
Dẫu vậy, trong khi các quyền tự do xã hội có lẽ rất rõ nét, các quyền tự do chính trị lại rất ít ỏi, mặc dù ở đây chúng ta phải nhớ rằng khái niệm “cá nhân” (person) như chúng ta biết ngày nay không hề tồn tại trong thời cổ đại. Nó chỉ xuất hiện ở thế giới phương Tây – và duy nhất ở thế giới phương Tây – cùng với sự ra đời của Cơ Đốc giáo. Khi Aristotle gọi con người là một sinh vật chính trị (zoon politikon), ông ám chỉ một sinh vật gần như bị hấp thụ hoàn toàn bởi thành bang hoặc nhà nước.
Sự thù địch của Plato đối với nền dân chủ (thể hiện rõ trong cuốn Politeia [Cộng hòa] hơn là trong cuốn Nomoi [Luật pháp]) cũng tương tự như của Aristotle – người cuối cùng đã chạy trốn khỏi sự cai trị dân chủ của Athens và đến lưu vong tại Chalcis trên đảo Euboea với mục đích được thừa nhận là để tránh chung số phận với Socrates. Thành kiến bài dân chủ của Plato không chỉ là phản ứng tự động của một trí thức chống lại một hình thái chính quyền không hề đánh giá cao lý trí hay kiến thức; nó còn là kết quả của trải nghiệm sâu sắc về cái chết của người thầy mình.
Một người Mỹ hoặc người châu Âu có học thức trung bình, mặc dù biết rằng Socrates đã bị xử tử vì tội “bất kính” khi truyền bá những vị thần xa lạ và vì tội “làm hư hỏng” giới trẻ, hiếm khi biết được toàn bộ câu chuyện. Lời buộc tội cuối cùng này (hoàn toàn không liên quan gì đến tình dục) đã được chia nhỏ (theo Xenophon) thành một vài cáo buộc: (1) rằng ông dạy các môn đồ của mình coi thường các thiết chế của nhà nước; (2) rằng ông đã qua lại với Critias và Alcibiades; (3) rằng ông đã dạy giới trẻ bất tuân cha mẹ; và (4) rằng ông liên tục trích dẫn Homer và Hesiod để chống lại đạo đức và nền dân chủ (đặc biệt là trong Iliad, quyển II, 198-206). Không chỉ chính quyền dân chủ mà cả “nhân dân thân yêu” cũng chống lại Socrates, và không hề cường điệu chút nào khi gọi ông là một nạn nhân của nền dân chủ, của tiếng nói đám đông (vox populi).
Salvador de Madariaga từng nói rằng nền văn minh phương Tây tựa trên hai cái chết – cái chết của Socrates và cái chết của Chúa Christ. Và quả thực, cuộc đóng đinh trên thập tự giá (Crucifixion) cũng là một sự kiện mang tính dân chủ. Khi Chúa của chúng ta bị giải đến trước Pilate và nói với ông ta rằng Người đến như một nhân chứng cho Chân lý, vị tổng trấn, như một kẻ bất khả tri thực thụ, đã hỏi Người: “Chân lý là gì?” Và không chờ đợi câu trả lời, ông ta bỏ qua Người và quay sang tham vấn “nhân dân”. Tiếng nói đám đông (vox populi) đã kết án tử hình Chúa của chúng ta giống như cách nó đã làm với Socrates hơn ba thế kỷ trước đó. Nhưng nếu chúng ta tuyệt vọng về chân lý, nếu chúng ta tin rằng chân lý hoặc là không tồn tại hoặc con người không thể đạt tới, chúng ta sẽ phải phó mặc mọi thứ cho sự tình cờ hoặc đi tìm kiếm những sở thích đơn thuần – những sở thích cá nhân hoặc “những sở thích đạt được thông qua thống kê” (điều thường đồng nghĩa với việc chấp nhận “phán quyết của đa số”). Đây là một phương tiện tiện lợi để giải quyết những khác biệt về quan điểm, nhưng nó không hề cho chúng ta biết đâu là sự thật, cũng chẳng đưa ra được những giải pháp hợp lý cho các vấn đề nhức nhối.
Nền dân chủ Hy Lạp đã bị chôn vùi dưới cuồng vọng quyền lực của Macedonia, nhưng điều này lại được Isocrates tán thưởng. La Mã chưa bao giờ là một nền dân chủ thực sự, ngay cả theo nghĩa rộng của thuật ngữ này được sử dụng thời cổ đại. Thế nhưng Marius chắc chắn là đại diện cho cánh tả La Mã, và cháu trai của vợ ông, Caesar, thực sự đã trở thành một nhà độc tài cánh tả, qua đó đóng vai trò như sự ứng nghiệm của vòng tuần hoàn chính trị (anakyklosis) như Polybius đã định nghĩa và Plato đã dự báo, đó là: sự tiến hóa từ quân chủ sang quý tộc, quý tộc sang dân chủ, dân chủ sang chuyên chế, và chuyên chế lại quay về quân chủ. Tuy nhiên, chúng ta phải đặt câu hỏi liệu Chủ nghĩa Caesar (Caesarism) của La Mã có bao giờ là một chế độ quân chủ chân chính hay không, hay nó chỉ là, như Metternich từng lập luận, một hình thức của “Chủ nghĩa Bonaparte” – chế độ độc tài quân sự.
Cho đến tận thời của Diocletian, người La Mã hầu như không nhận thức được một thực tế là nền Cộng hòa (Res Publica) của họ đã không còn tồn tại, bởi vì nó vẫn mang cái mác đó. Rốt cuộc, “Hoàng đế” (Imperator) cũng chỉ có nghĩa là “vị tướng”, còn “Hoàng thân” (princeps) là “người đàn ông đứng đầu” (giống như “Đệ nhất Phu nhân” là tước hiệu không chính thức của vợ Tổng thống Mỹ). Với Diocletian, tình hình rốt cuộc cũng trở nên rõ ràng: ông ta tự đội lên đầu một chiếc vương miện bằng vàng và đòi hỏi nghi thức phủ phục (proskynesis) theo đúng kiểu phương Đông nhất; Viện Nguyên lão mất đi toàn bộ tầm quan trọng của nó. Vào thời điểm đó, có lẽ ngay cả những người La Mã giản đơn nhất cũng nhận ra rằng nền Cộng hòa đã đi vào dĩ vãng, và giờ đây La Mã đã có một hiến pháp khác biệt về cơ bản – một thực tế mà Tacitus trước đó đã nghi ngờ sâu sắc.
Trong suốt thời Trung cổ, “dân chủ” mang một hàm ý tồi tệ trong giới trí thức – những người duy nhất thực sự hiểu ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại trong các xã hội nhỏ biệt lập, chẳng hạn như ở các ngôi làng trên vùng núi cao Alps và Pyrenees, ở Iceland và Na Uy, và tại các ngôi làng của người Slav dưới hình thức hội đồng vyetche. Các xã hội chính trị lớn hơn và phát triển hơn phần lớn sở hữu một chính quyền hỗn hợp với một vị quân vương ở trên cùng – người có được địa vị của mình hoặc nhờ dòng máu hoặc nhờ sự bầu chọn bởi một nhóm nhỏ tinh hoa. Chính quyền Hỗn hợp (Regimen Mixtum) thường có một nghị viện (hoặc thậm chí là hai “Viện”) bao gồm đại diện của ba hoặc bốn đẳng cấp. (Ban đầu chỉ có giới quý tộc và tu sĩ được đại diện.) Sau đó xuất hiện một nhân tố mới, “Đẳng cấp Thứ ba”, tức là giới tư sản thành thị, và trong nhiều trường hợp, tầng lớp nông dân trở thành Đẳng cấp Thứ tư, như ở Thụy Điển và Tyrol.
Các chính quyền hỗn hợp là những chính quyền mang tính cân bằng. Nhà vua hoàn toàn không hề toàn năng. Vua phục tùng pháp luật (Rex sub lege) là công thức tiêu chuẩn. Ngài không có quyền tự ý đánh thuế và sự túng quẫn của các vị vua là một đặc điểm thường trực của xã hội Trung cổ và hậu Trung cổ. Quyền lực của nhà vua bị cắt xén bởi các chư hầu hùng mạnh, Giáo hội, nghị viện nơi các đẳng cấp được đại diện, và các đô thị tự do sở hữu những đặc quyền to lớn. Chủ nghĩa chuyên chế và chủ nghĩa toàn trị là những khái niệm hoàn toàn xa lạ trong thời Trung cổ.
Trong suốt thời kỳ đó, từ “dân chủ” chỉ xuất hiện trong các chuyên luận học thuật, nhưng điều quan trọng cần nhớ là các giáo phái hiểm độc với những cương lĩnh chính trị và xã hội mang khuynh hướng cánh tả đã hoạt động trên bề mặt, hay đúng hơn là ngấm ngầm bên dưới, ở phần lớn châu Âu. Những tín đồ phái Albigenses (Bogumilians, Catharoi) không phải là những kẻ tôn thờ chủ nghĩa cào bằng (egalitarians), nhưng người ta có thể nhận ra một đặc tính cánh tả mạnh mẽ ở những tín đồ Waldensians thời kỳ đầu (do Peter Waldo sáng lập). Đối tượng bị họ miệt thị không chỉ là một “giáo hội giàu có, tội lỗi” mà còn là tất cả những kẻ quyền cao chức trọng, sự xa hoa, thói phô trương và quyền lực.
Các giáo phái nhị nguyên mang cội rễ Ma-ni giáo (Manichaean) đã tìm đường từ Cận Đông vào khu vực Balkan và từ đó tràn sang miền bắc nước Ý, miền nam nước Pháp, Bỉ, Bohemia và Anh (nói cách khác, một cuộc di cư địa lý ước chừng từ đông nam lên tây bắc). Họ ôm ấp những viễn cảnh mang tính khải huyền về sự xấu xa của của cải, sự trừng phạt dành cho những kẻ kiêu ngạo, và sự diệt vong của hai tổ chức vĩ đại là Giáo hội và Nhà nước. Đương nhiên, những viễn cảnh này không hề đồng nhất. Trọng tâm của họ thường thay đổi và sự thỏa hiệp với thực tại là điều thường xuyên xảy ra. Nhưng có một sợi chỉ đỏ vô cùng rõ nét: Xét về mặt tư tưởng, các giáo phái này quả thực đã có những ảnh hưởng nhất định đến nguồn gốc của phong trào Cải cách Tôn giáo (Reformation).
Điều phân biệt họ với những Nhà Cải cách chính là tín ngưỡng sùng bái sự nghèo khổ như chúng ta thấy, chẳng hạn, ở nhóm “Những người nghèo thành Lyons” – một nhánh Waldensians thời kỳ đầu. Những tín đồ Waldensians từ Lombardy (để phân biệt với những người ở Pháp) khăng khăng đòi hỏi các đạo hữu của họ phải sống bằng thành quả của lao động chân tay. Đặc biệt là dưới hình thức những hội thợ dệt, họ sống cùng nhau, làm việc cùng nhau, mang thái độ thù địch đối với nghĩa vụ quân sự, cự tuyệt việc tuyên thệ và căm ghét những nhà thờ tráng lệ. Họ dường như cũng mang một thiên hướng bài trí thức. Từ Lombardy, họ đã lan rộng đến tận Bohemia.
Những người tiên phong ở Anh
Ở miền Bắc nước Pháp, chúng ta bắt gặp phái Turlupins, một giáo phái Cơ Đốc rao giảng về sự bình đẳng của con người. Họ dường như có mối liên hệ nào đó với những tư tưởng của tu sĩ Joachim de Floris, người đã rao giảng một thứ thuyết ngàn năm phiếm thần (pantheistic chiliasm), và họ có thể chính là những kẻ đứng sau phong trào Jacquerie – cuộc nổi dậy lớn của nông dân Pháp. Cuộc nổi dậy của nông dân ở Anh, do John Ball và Wat Tyler lãnh đạo, cũng mang một động cơ tôn giáo nhất định. (John Ball là một linh mục và những bài giảng đạo mang tính cách mạng của ông ta thường xoay quanh chủ đề: “Khi Adam cày cuốc và Eva kéo sợi, thì lúc bấy giờ ai là quý tộc?”) Những cuộc nổi dậy này có liên hệ với giáo lý của Wyclif, người mà những giáo thuyết mới của ông đã tạo ra những tác động chính trị sâu rộng: Đương nhiên, mọi sự vi phạm vào nguyên tắc “đừng đánh thức những con chó đang ngủ” (nghĩa là: hãy để mọi chuyện yên ổn) đều sẽ châm ngòi cho một loạt các câu hỏi, các phong trào, và những sự chỉ trích.
Wyclif bắt đầu bằng việc lên án quyền tối thượng của Giáo hoàng, qua đó giành được sự đồng tình của nhà vua. Sau đó, ông ta tiếp tục chất vấn về Phép biến thể (transubstantiation) và các đặc quyền của giới tu sĩ, nhờ đó ông ta nhận được sự ủng hộ của giới quý tộc. Cuối cùng, ông ta thúc đẩy các lý thuyết dân chủ và lên án toàn bộ của cải, và do đó đã tạo động lực cho cuộc nổi dậy của nông dân.
Một diễn biến tương tự đã xảy ra khi Luther (người biết rất rõ các bài viết của Wyclif) tuyên bố Giáo hoàng là kẻ phản Kitô và nhận được sự bảo vệ của các chư hầu nhằm chống lại Hoàng đế; và sau đó, khi ông ta lên án giới tu sĩ và các thể chế tu viện, ông ta đã giành được sự tán thưởng của giới quý tộc. Tuy nhiên, Luther không bao giờ đi xa hơn thế. Khi làn sóng chỉ trích khổng lồ đối với trật tự hiện hành lan đến tầng lớp nông dân và dẫn đến một cuộc bạo loạn đẫm máu, và các tầng lớp trung lưu bậc dưới ở một số khu vực nhất định đi theo phái Tẩy giả lại (Anabaptism – ví dụ như ở Münster), hoặc tham gia vào những cuộc cuồng hoan đập phá thánh tượng (iconoclastic orgies), Luther đã đạp phanh và lên án thứ chủ nghĩa cực đoan này. Wyclif cũng từng có lần phản đối một cách nửa vời đối với Ball và Tyler (những kẻ khăng khăng nhận mình là tín đồ của Wyclif), nhưng ông ta đã qua đời trước khi phong trào Lollardy (những người theo tư tưởng Wyclif) phát triển tới mức toàn diện. Lực lượng “Những nhà thuyết giáo nghèo” của Wyclif chắc chắn là một nỗ lực hướng tới việc “dân chủ hóa” tôn giáo, một dạng “chủ nghĩa dân túy” bám theo các lằn ranh bán-giáo-hội. Những nhà thuyết giáo nghèo này thường là những bậc thầy lão luyện trong việc khai thác lòng đố kỵ của quần chúng.
Tuy nhiên, Wyclif không hề đứng ở vạch xuất phát của một sự phát triển mới. Ông ta là một độc giả của Marsilius xứ Padua, và rất lâu sau này, Luther cũng vậy. Để ủng hộ Hoàng đế Ludwig I và nỗ lực làm suy yếu các yêu sách chính trị của chức vị giáo hoàng, Marsilius cũng tấn công vào địa vị phân tầng cấp bậc của cơ cấu này và cuối cùng phát triển một lý thuyết dân chủ về chính quyền. Ông ta tuyên bố rằng quyền lực chính trị nguyên thủy nằm ở toàn thể nhân dân hoặc ít nhất là ở bộ phận ưu tú hơn (valentior) của nó. Một nguồn cảm hứng khác của Wyclif đến từ các bè phái cực đoan của dòng Phanxicô với việc họ nhấn mạnh vào lối sống nghèo khổ. Có một điều đáng lưu ý là các dòng khất sĩ đã ủng hộ Wyclif rất mạnh mẽ vào giai đoạn đầu trong các hoạt động của ông ta. Như chúng ta sẽ thấy ở phần sau của cuốn sách này, luôn tồn tại một mối quan hệ kỳ lạ giữa những ý niệm bị nhận thức sai lệch về lý tưởng tu viện với các trào lưu cánh tả ở mọi thời đại. Điều này gợi nhớ đến lời cảm thán của Thánh Thomas: Corruptio optimi pessima (“Khi điều tốt đẹp nhất bị tha hóa, nó trở thành thứ tồi tệ nhất”).
Phong trào Lollardy, vốn sống sót qua nhiều thế hệ sau thời Wyclif và vẫn có thể được quan sát thấy vào đầu thế kỷ mười sáu, không đơn thuần chỉ là một thái độ tôn giáo của người nghèo, mà còn nhận được khá nhiều sự ủng hộ từ tầng lớp quý tộc điền trang (landed gentry). Động lực tâm lý cơ bản của nó chính là sự đố kỵ về vật chất và trí tuệ. Sự giàu có của Giáo hội bị chỉ trích kịch liệt vì cho rằng không nhất quán với những lời răn dạy của Chúa Christ. Và cuộc tấn công này cũng không chỉ giới hạn ở Giáo hội. Vào thời điểm đó, huyền thoại dường như đã bám rễ vững chắc rằng Chúa Christ là người con bần hàn của một thợ mộc nghèo khó và các Sứ đồ của Người là một đám dân đen nghèo túng luôn nơm nớp tránh né mọi sự ô uế từ những kẻ giàu có.
Loại đố kỵ thứ hai mang tính phi vật chất: Thần học bị nhìn với ánh mắt e dè như một thứ gì đó phức tạp, không phải là thứ mà những kẻ vô học có thể hiểu được, và bị coi như “tài sản tư hữu” của những kẻ sở hữu diễm phúc về mặt trí tuệ (beati possidentes). Thực tế mà nói, ngay cả trong Dòng Phanxicô, không lâu sau khi thành lập, đã nổ ra một cuộc đấu tranh gay gắt giữa phe trí thức và phe phi trí thức, kết thúc bằng chiến thắng của phe trí thức. Nhờ đó mà chúng ta có được những đại diện xuất chúng của thần học Cơ Đốc giáo như Thánh Bonaventure, Alexander Hales, Occam và Duns Scotus.
Và cuối cùng, một loại đố kỵ thứ ba xuất hiện, một sự đố kỵ bắt nguồn từ nguyên nhân tâm linh: giới tu sĩ giữ độc quyền Chén Thánh (Chalice) cho riêng mình.
Do đó, những đòi hỏi về sự bình đẳng, sự nổi loạn chống lại những khác biệt và đặc quyền ngày càng leo thang. Không phải ngẫu nhiên mà tiếng kêu gọi này lại vang lên đầu tiên ở Anh, một trong những quốc gia có ý thức giai cấp nặng nề nhất trong nền văn minh phương Tây. Nó đã được lặp lại ở đó dưới những hình thức tương tự trong suốt thế kỷ mười bảy khi các giáo phái cào bằng lại trỗi dậy với số lượng lớn và khi lần đầu tiên trong lịch sử châu Âu Cơ Đốc giáo, một vị vua bị chính thức đưa lên đoạn đầu đài.
Cuộc cách mạng mang tính đồng nhất bản sắc (identitarian) thực sự cụ thể và “được hệ thống hóa” đầu tiên ở châu Âu chính là phong trào Taborite, hình thức cấp tiến của phong trào Hussite. Hus không chỉ là người dịch và bình luận của Wyclif mà còn là kẻ sao chép trung thành nhất của ông này. Và ở đây một lần nữa, chúng ta lại thấy mọi tôn giáo tự động và tất yếu biến đổi như thế nào, cũng như những giáo thuyết tôn giáo mới tác động đến các tư tưởng chính trị ra sao.
Tất cả các trào lưu mới đều thù địch với hệ thống cấp bậc và sự phân biệt; chúng đại diện cho tình huynh đệ và công kích cương vị người cha (fatherhood). Cuộc tấn công vào Giáo hoàng (Papa) chính là nhằm vào hình tượng người cha. Về mặt tâm lý, điều này thôi thúc một sự xét lại khái niệm Thiên Chúa như một người cha và, do đó, xét lại cả thuyết Ba Ngôi. (Một số nỗ lực đã được thực hiện trong các thế kỷ mười sáu, mười bảy và mười tám nhằm thành lập các đức tin chống thuyết Ba ngôi, tức là thuyết Nhất vị / Unitarian; ở Transylvania, Ba Lan, Anh, Scotland,và ở New England). Hạ xuống phạm vi chính trị, điều này đồng nghĩa với việc đặt nghi vấn đối với chế độ quân chủ cũng như chính quyền hỗn hợp do một vị quân vương đứng đầu. Cuối cùng, diễn biến này tất yếu làm rung chuyển vị thế của người cha trong gia đình, điều không có gì đáng ngạc nhiên bởi trật tự gia trưởng (patriarchal) vốn tạo thành một thể thống nhất mạch lạc; rốt cuộc, tâm trí con người là một chỉnh thể hữu cơ.
Rõ ràng là những hệ quả tâm lý không nhất thiết phải tuân theo một trật tự logic. Một người hoàn toàn có thể vừa là một người theo chủ nghĩa quân chủ phái Luther vừa là một người gia trưởng (paterfamilias) bạo chúa theo tôn giáo Nhất vị (Unitarian). Chúng ta có những người theo chủ nghĩa cộng hòa Công giáo cho rằng (một cách sai lầm) mọi thông điệp của Giáo hoàng đều là một tài liệu không thể sai lầm, và chúng ta cũng có những người theo chủ nghĩa quân chủ bất khả tri – những kẻ chẳng mấy mặn mà với cương vị làm cha về mặt sinh học và bác bỏ chế độ giáo hoàng hệt như cách họ bác bỏ Đức Chúa Cha trên Trời. Dẫu vậy, không bao giờ được phép phớt lờ những mối liên kết tương đồng về mặt tâm lý. Những người dân New England vào cuối thế kỷ mười tám, những người tin chắc rằng Vua George III đã bí mật cải đạo sang Công giáo, thực chất đã sai lầm về mặt sự kiện nếu chỉ xét đến cá nhân vị quân vương nước Anh; thế nhưng nếu xét về mặt thể chế, sự nghi ngờ của họ, dù sai, lại không hề lố bịch. Kierkegaard (để lấy một ví dụ) từng cho rằng tất cả những người bảo hoàng chân chính đều có khuynh hướng nghiêng về đức tin Công giáo.
Giống như Wyclif, Hus không thực sự là người bênh vực cho “thường dân”. Giống như Wyclif, ông ta nhận được sự ủng hộ phần lớn từ tầng lớp quý tộc bậc dưới, và cũng giống Wyclif, ông ta là một kẻ theo chủ nghĩa dân tộc. Wyclif là một kẻ “Người Anh trên hết” (English Firster), trong khi Hus trở thành người phát ngôn của người dân Czech chống lại thành phần người Đức ở Bohemia-Moravia. Và tại đó, trên những vùng đất của Vương miện Thánh Wenceslas, lần đầu tiên trong lịch sử châu Âu, chúng ta chứng kiến sự bùng phát của những mối hận thù dân tộc, những cuộc đụng độ tại các trường đại học giữa các tổ chức sinh viên quốc gia, và thứ cơn thịnh nộ tập thể đã mang lại sự hủy diệt cho châu Âu trong thế kỷ mười chín và hai mươi. Sân khấu cho các phong trào quần chúng cánh tả đã được dàn dựng xong. Thêm vào đó, ở Bohemia trong một thời gian đã tồn tại một phong trào ngầm khá mạnh mẽ của phái Waldensian hậu kỳ, được bổ sung bởi những tín đồ phái Beghard (Pickart) – phiên bản nam của Dòng Beguine – nhưng lại vô tổ chức và chứa đầy rẫy những tư tưởng dị giáo.
Cái chết tử vì đạo của Hus, người bị thiêu sống trên cọc ở Constance, đã dẫn đến một sự bùng nổ dữ dội của cơn thịnh nộ trong dân chúng tại các khu vực của người Czech ở Bohemia. John XXIII khi đó là ngụy giáo hoàng (counter-pope) và ông ta phải chịu một phần trách nhiệm cho cái chết nhục nhã của Hus. Tuy nhiên, người phải chịu trách nhiệm lớn hơn cả là vị Hoàng đế đã ban cho Hus tờ giấy thông hành an toàn nhưng lại không được Công đồng tôn trọng.
Cái chết của Hus đã dẫn đến việc thành lập hai nhóm: một nhóm ôn hòa hơn, phái Utraquists, bằng lòng với việc thực hành bí tích Thánh thể dưới cả hai hình thức là bánh và rượu; và một nhóm cấp tiến, phái Taborites, vốn tìm thấy trung tâm của mình ở thành phố Tabor mới được thành lập. (Tabor trong tiếng Czech có nghĩa là “doanh trại”.) Những người theo phái Taborites là những kẻ cuồng tín cực đoan và họ được tổ chức theo hình thức quân sự. Lãnh đạo của họ vào thời kỳ đầu là Jan Žižka, hậu duệ của một gia đình gốc Đức mới được phong tước quý tộc. Hệ tư tưởng của họ mang tính chất của thuyết ngàn năm (chiliastic), chủ nghĩa dân tộc, thanh giáo, dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Ở đây, chúng ta có một hình ảnh báo trước một cách thực tế và cụ thể về tất cả các “chủ nghĩa” trong thời đại của chúng ta, được hòa quyện trong một sự tổng hợp đầy tính động lực học. Có lẽ thông qua sự truyền thừa trực tiếp (filiation) nhiều hơn là thông qua sự tương đồng (analogy), các phong trào quần chúng của thời đại chúng ta ngày nay có mối liên hệ mật thiết với phong trào Taborite.
Tuy nhiên, phong trào Taborite chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những người theo phái Waldensian và Beghard hơn là từ thần học Hussite thuần túy. Trong giai đoạn đầu, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa và thanh giáo chiếm ưu thế hơn, và những kẻ cực đoan quá khích – phái Adamite khỏa thân – đã bị Žižka đàn áp khốc liệt. Dẫu vậy, những người phái Taborite vẫn tin vào sự ngự đến của một thời kỳ ngàn năm (millennium) dưới hình thức một Vương quốc Thứ ba (lấy từ các lời tiên tri của Daniel). Một cương lĩnh xã hội chủ nghĩa triệt để về tài sản đã được áp dụng trong những năm đầu, nhưng sau cái chết của Žižka xứ Trocnov, tinh thần cào bằng đã suy yếu dưới sự lãnh đạo của Prokop Holy (người mà rõ ràng cũng có nguồn gốc từ Đức). Các đạo quân Hussite đã xâm lược những vùng lãnh thổ Đức xung quanh và một cuộc thập tự chinh đã được thuyết giảng nhằm chống lại phái Taborite. Đạo quân thập tự chinh bị đánh tan tác gần Domažlice (Taus) và chỉ đến lúc đó, các giai cấp thống trị cũ mới nhận thức đầy đủ về mối hiểm họa. Liên minh với phái Utraquists – những người vẫn giữ được tinh thần Hussite ôn hòa nguyên thủy, phái Taborite cuối cùng đã bị đánh bại trong trận Lipan,và Prokop tử trận. Sự bùng nổ dữ dội của một hỗn hợp pha trộn giữa chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội, và nền dân chủ cấp tiến mang những ẩn ý cộng sản này không chỉ tàn phá phần lớn Bohemia, Moravia, và Thượng Hungary, mà còn làm rung chuyển sâu sắc cấu trúc xã hội và tinh thần của châu Âu. Trong những hệ lụy dai dẳng của chúng, cái bóng của cuộc cách mạng sâu sắc này vẫn đang bủa vây chúng ta và sẽ còn tiếp tục như vậy trong một thời gian nữa.
Proudhon từng nói rằng thật đáng ngạc nhiên khi ở tầng đáy của chính trị, người ta luôn tìm thấy thần học. Độc giả có thể sẽ nghiêng về suy nghĩ rằng sự nhấn mạnh của chúng ta vào các ý tưởng, phong trào và lập luận mang tính thần học (“tôn giáo”) cho đến nay đơn thuần là do đặc tính tôn giáo sâu sắc của thời Trung cổ. Thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Nhìn tít về quá khứ với bi kịch của Socrates, chúng ta thấy rõ nó phần lớn đã bị chi phối như thế nào bởi sự đan xen của các quan điểm và khái niệm chính trị, triết học và tôn giáo. Sự liên kết này đã tồn tại dai dẳng trong suốt 1.700 năm đầu tiên của lịch sử Cơ Đốc giáo, trong khi trong 200 năm qua, có một điều trở nên hiển nhiên là các “chủ nghĩa” (isms) không thể chung sống hòa bình với các tôn giáo hữu thần, mà phải chiến đấu chống lại chúng bằng mọi phương tiện sẵn có. Và ngược lại.
Chính thực tế này – rằng các hệ tư tưởng toàn trị hiện đại, từ chủ nghĩa cánh tả đơn thuần cho đến chủ nghĩa xã hội quốc gia (Quốc xã), chủ nghĩa xã hội quốc tế, và chủ nghĩa cộng sản, không chỉ mang một khía cạnh giả-tu-viện (pseudomonastic) mà còn mang tính “dị giáo” – đã khiến chúng trở nên không thể chấp nhận được và hoàn toàn không tương thích với các tôn giáo lớn của phương Tây: Cơ Đốc giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo. Chúng hút lấy phần lớn sức mạnh của mình, như chúng ta sẽ thấy ở phần sau, từ phiên bản bị thế tục hóa của một vài giáo lý Cơ Đốc giáo. Do đó, tất cả chúng đều là những Religionsersatz (những thứ thay thế tôn giáo), và các đảng phái đại diện cho chúng là những “giáo hội” thế tục với hệ thống cấp bậc, các nghi lễ tương đương với một nền phụng vụ thực sự, những phiên bản thế tục của các bí tích, các “dòng tu”, những cuộc xưng tội (chung), các bộ tuyên truyền, một hệ thống truyền giáo trên toàn thế giới, v.v.
Những nỗ lực vạch ra sự so sánh giữa Vatican và Điện Kremlin thường được thực hiện trong một tinh thần thù địch, nhưng chúng không phải là không có cơ sở nếu chúng ta nhớ rằng các “chủ nghĩa” khác nhau, với tư cách là những tà giáo cơ bản, thực sự là những bức biếm họa xấu xa từ các mảnh vỡ của giáo lý Cơ Đốc giáo, của các thiết chế Cơ Đốc giáo. Ngay từ đầu, các “chủ nghĩa” của chúng ta đã không thể nảy nở trên những mảnh đất phi Cơ Đốc giáo, ngay cả khi chúng có thể được cấy ghép sang những khu vực nơi Cơ Đốc giáo không phải là tôn giáo bản địa. Lý do cho hiện tượng sau này gồm hai mặt: Tất cả con người đều có một “linh hồn Cơ Đốc giáo bẩm sinh” (anima naturaliter Christiana) và toàn bộ địa cầu đang trong quá trình Tây phương hóa, tức là quá trình tiếp nhận các hình thức thế tục của Cơ Đốc giáo.
Nhiệm vụ của chúng ta ở đây không phải là điều tra ảnh hưởng của Hus, Wyclif và Marsilius đối với Luther cũng như giai đoạn đầu của phong trào Cải cách Tôn giáo (Reformation) thế kỷ mười sáu. Chúng ta đã làm điều này ở chỗ khác. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là phong trào Cải cách – trái với một quan niệm lỗi thời vẫn còn tồn tại ở các nước nói tiếng Anh và len lỏi vào cả sách giáo khoa lẫn phim ảnh – hoàn toàn không phải là “sự khởi đầu của chủ nghĩa tự do” (dù là thật hay giả), cũng chẳng phải là bất cứ thứ gì giống như sự viên mãn của thời kỳ Phục hưng, mà là một phản ứng mang tính “tu viện” và thuộc về giai đoạn cuối thời Trung cổ nhằm chống lại chủ nghĩa nhân văn và tinh thần Phục hưng. Đối với Luther, thời kỳ Phục hưng (cũng không kém gì Chủ nghĩa nhân văn) là một sự thỏa hiệp bẩn thỉu giữa Cơ Đốc giáo và đa thần giáo (paganism). Rốt cuộc, theo ông ta, Plato, Socrates,và Aristotle đều đang bị thiêu đốt trong ngọn lửa vĩnh cửu của Địa ngục.
Thật không may, bức chân dung của Luther – một người thực sự vật lộn cùng Chúa Christ – như được trình bày trong nền giáo dục bình dân của Công giáo và Tin Lành giáo (Evangelical) ở Mỹ, phần lớn là một bức chân dung sai lệch đến tận gốc rễ. Ông ta không phải là một kẻ loạn thần kinh muốn kết hôn với một nữ tu; cũng chẳng phải là một kẻ chủ quan theo chủ nghĩa tự do cá nhân (libertarian subjectivist) muốn thúc đẩy việc “diễn dịch cá nhân” đối với Kinh Thánh; ông ta cũng không hề khao khát “tự do cá nhân”. Ông ta đích thị là một người theo chủ nghĩa khắt khe (rigorist), người muốn quay trở lại với những gì ông ta coi là sự thuần khiết nguyên thủy của Giáo hội. Việc cho rằng ông ta đã bị sốc ở Rome trước sự đồi bại của hàng giáo phẩm là một điều nhảm nhí về mặt sư phạm. Tình trạng đạo đức ở Đức cũng chẳng khá hơn chút nào. Và trong thần học kinh viện, các đức hạnh đạo đức bị đánh giá rất thấp. (Ngay cả ở khía cạnh này, Luther cũng là một người mang đậm tư tưởng trung cổ điển hình). Trái với việc ủng hộ bất cứ thứ gì giống như chủ nghĩa tự do cổ điển, Luther rao giảng về sự toàn năng của nhà nước và phản đối mọi hình thức của chủ nghĩa duy lý, dù là của Cơ Đốc giáo hay hình thức nào khác, cũng như phản đối “sự sùng bái con người”. Soli Deo Gloria (Chỉ mình Thiên Chúa được vinh danh) là tiếng hô xung trận của Calvin, nhưng nó cũng hoàn toàn có thể là của Luther – người luôn tin chắc rằng con người không thể thực sự đóng góp bất cứ điều gì đáng kể cho sự cứu rỗi của chính mình; chỉ có huyết của Chiên Con mới có thể gột rửa tội lỗi của anh ta, và những việc thiện đều là vô ích.
Bởi vì phong trào Cải cách là một phản ứng chống lại Chủ nghĩa nhân văn và thời kỳ Phục hưng, chúng ta không nên ngạc nhiên khi thời Trung cổ, theo một nghĩa nào đó, vẫn tiếp tục tồn tại trong thế giới Cải cách. Cho đến tận gần đây, phong cách Gothic vẫn là phong cách được chấp nhận đối với các nhà thờ và trường đại học, ngay cả ở Hoa Kỳ. Bất cứ ai muốn quảng cáo nến, đàn phong cầm (organ), hay lễ phục tu sĩ ở Mỹ cho đến tận ngày nay vẫn sử dụng kiểu chữ Gothic. Tuy nhiên, trong thế giới Công giáo, phong cách Phục hưng đã dần tiến hóa thành phong cách Baroque và sau này là Rococo. Và trong khi thế giới của phong trào Cải cách tiến hóa theo hướng kỷ luật, chủ nghĩa thương mại, công nghiệp, sự lao động chăm chỉ, và của một dạng thức tu viện thế tục nào đó, thì các tư tưởng tu viện và Trung cổ trong thế giới Công giáo vẫn bị đóng khung trong các tu viện và nữ tu viện thực sự; đời sống Công giáo vẫn tiếp tục mang tính nghệ thuật, trí thức, và vô chính phủ.
Kể từ đó, các “giáo phái hoang dã” gần như chỉ còn tồn tại duy nhất trong Mundus Reformatus (Thế giới Cải cách). Thế kỷ mười sáu chứng kiến sự bùng phát dữ dội của thuyết ngàn năm (chiliasm) mang tính giáo phái ở nhiều vùng khác nhau của nước Đức – ở vùng tây nam dọc theo sông Rhine và, trên hết, là ở Münster. Chính Thomas Müntzer, một tín đồ phái Anabaptist (Tái tẩy giả) người Đức, là kẻ đã châm ngòi cho một loạt các cuộc nổi dậy của dân chúng nhân danh tôn giáo, sau khi đến thăm Prague vào năm 1521 để liên lạc với giới Hussite. Ông ta công kích các nhà Cải cách vì đã làm việc nửa vời, vì đã không tiến đủ xa trong lĩnh vực tôn giáo, và vì đã chểnh mảng trong việc thay đổi nhà nước và xã hội. Ông ta thuyết giáo và viết lách nhằm ủng hộ một chế độ thần quyền cộng sản mà bản thân khao khát muốn thấy được thiết lập. Ông ta bị Luther phản đối kịch liệt, người chẳng hề muốn dính dáng gì đến ông ta. Sau khi bắt liên lạc với phái Anabaptist ở Thụy Sĩ, ông ta (cùng với cựu tu sĩ Pfeifer) đã chiếm được thị trấn Mühlhausen ở vùng Thượng Alsace, nơi ông ta thành công trong việc phế truất chính quyền địa phương và cướp bóc các tu viện cũng như nhà cửa của giới nhà giàu. Năm 1525, ông ta gia nhập cuộc Nổi dậy của Nông dân, nhưng cuộc chiến của ông ta chống lại “những vương hầu và tu sĩ vô thần” đã kết thúc trong thất bại. Bị đánh bại trên chiến trường, ông ta và Pfeifer bị bắt làm tù binh và bị chặt đầu.
Jan van Leyden, còn được gọi là Jan Bokelszoon, sinh ra ở Hà Lan nhưng đã trở thành kẻ cai trị Münster sau khi phái Anabaptist chiếm giữ thị trấn này và Jan Matthys – người tiền nhiệm của ông ta và là một nhà thuyết giáo cuồng tín – bị giết trong một chiến dịch quân sự. Ông ta đã thiết lập một “Vương quốc Zion” cộng sản, dựa trên một mớ hỗn hợp kỳ quái giữa các quan niệm xã hội chủ nghĩa và Cựu Ước, đồng thời gieo rắc nỗi kinh hoàng cho toàn bộ dân chúng. Mọi người được phân phát của cải “tùy theo nhu cầu của mình”. Sự đồi bại về mặt tình dục trong “triều đình” của ông ta là không có giới hạn. Cuối cùng, thành phố đã bị Giám mục Bá tước Bernhard von Galen chiếm lại và Jan van Leyden bị xử tử.
Chính tại Münster, phái Anabaptist đã thiết lập nên mô hình trật tự chính trị nổi tiếng nhất của họ, nhưng các khu định cư của họ ở miền nam Moravia vào cuối những năm 1520 và đầu những năm 1530 lại mang tính cộng sản một cách cụ thể hơn. Các nguyên tắc tôn giáo của họ trong khu vực này đã được ghi lại trong “Các Điều khoản Nikolsburg” (Nikolsburg Articles), trong đó nổi bật là sự phản đối đối với chính quyền có tổ chức cũng như mọi hình thức học vấn, đặc biệt là thần học. (Kinh Thánh, dù phải thừa nhận là không dễ hiểu đối với người bình dân, chỉ cần thiết cho những kẻ độc ác và những kẻ ngoại đạo.) Con cái của Thiên Chúa không cần đến chúng. Và rõ ràng, Chúa Christ không phải là Con Thiên Chúa, mà đơn thuần chỉ là một nhà tiên tri.
Điều thú vị hơn cả đức tin tôn giáo của họ chính là tổ chức xã hội của họ ở khu vực đó thuộc Đế quốc La Mã Thần Thánh. Carl A. Cornelius đã để lại cho chúng ta một lời mô tả ngắn gọn nhưng vô cùng sống động:
“Các Giáo thuyết Zurich được tuân thủ dưới hình thức cứng rắn và cực đoan nhất. Các chức vụ chính quyền, việc tuyên thệ và sử dụng vũ khí bị nghiêm cấm hoàn toàn. Không một ai được sở hữu tài sản. Kẻ lạ mặt muốn xin làm Lễ Rửa tội phải nộp toàn bộ của cải trần thế của mình cho cộng đồng, nhưng trong trường hợp bị rút phép thông công hoặc trục xuất, anh ta sẽ chẳng được hoàn lại bất cứ thứ gì. Đời sống gia đình, vốn dĩ không thể mường tượng được nếu thiếu vắng tài sản, đã bị thay thế bằng một trật tự khác. Các cuộc hôn nhân, không cần thông qua sự đồng ý của đôi bên, được ban sắc lệnh và chúc phúc bởi các Tôi tớ của Lời Chúa (Servants of the Word). Trẻ em ngay sau khi sinh ra được giao cho vú em và sau đó được đưa vào ngôi trường chung. Được ăn mặc và nuôi dưỡng theo một cách thức giống hệt nhau, những người trưởng thành chung sống dựa theo nghề nghiệp của họ trong các hộ gia đình lớn hơn dưới sự giám sát của một Tôi tớ của Nhu cầu Thiết yếu (Servant of the Necessity). Toàn bộ cuộc sống quanh năm suốt tháng diễn ra trong những giới hạn chật hẹp nhất. Bất kỳ biểu hiện nào của sự độc lập hay tự do cá nhân đều dẫn đến việc bị trục xuất, điều đồng nghĩa với hố sâu của sự khốn cùng.”
Dẫu vậy, giống như trường hợp của phái Anabaptist ở vùng Hạ Đức (cuối cùng tập trung tại Münster), sự kỳ vọng về một Ngày Phán xét cận kề, định đoạt số phận những kẻ độc ác và suy tôn những tín đồ trung kiên, là vô cùng mãnh liệt. Trong thời đại của chúng ta, mặc dù dưới một phiên bản thế tục hơn, phe cực tả cũng luôn tin vào một thời kỳ ngàn năm (millennium) hoặc (đôi khi để đón trước sự viên mãn mang tính thuyết ngàn năm này) vào một Ngày Phán xét mang đậm tính trần thế, được đội vương miện bởi sự đắc thắng của một chủng tộc được chọn – dù đó là những người “Aryan” thuần chủng, “giai cấp vô sản” hay đơn thuần chỉ là “các lực lượng tiến bộ của nhân loại” – nhằm đè bẹp người Do Thái, tầng lớp nhà giàu ăn không ngồi rồi, hay các thế lực phản động đen tối; hay nói theo cách diễn đạt của Đức Quốc xã, trong một “Đêm của những con dao dài”.
Sự sụp đổ của phái Anabaptist ở đông bắc nước Đức dưới những đòn giáng chung của giới Công giáo và phái Luther đã chấm dứt làn sóng cánh tả lớn trên lục địa trong suốt hơn 200 năm. Làn sóng này về cơ bản mang đặc tính trung cổ và chúng ta đã đề cập đến những nét đặc trưng giả tu viện của nó. Ngay cả phái Waldensian cũng mang lại cho những người cùng thời ấn tượng rằng họ là những tu sĩ “nửa vời” (manqués). Chỉ ở Bắc Âu, chúng ta mới thấy một sự tiếp nối thực sự của tinh thần Trung cổ (nhờ vào đặc tính “Trung cổ” và “Gothic” của phong trào Cải cách Tôn giáo), và do đó, chúng ta lại bắt gặp ở Anh vào giữa thế kỷ mười bảy một sự bùng nổ khác của Chủ nghĩa Cánh tả tôn giáo.
Với sự sụp đổ của nền quân chủ Stuart đầu tiên và vụ xử tử Charles I (một sự kiện thực sự gây chấn động thế giới), một đợt bùng phát mới của chủ nghĩa dân túy đã trỗi dậy từ các tầng lớp xã hội thấp hơn và thậm chí đe dọa cả chế độ của Cromwell. Phong trào của phái San bằng (Levellers) dưới sự lãnh đạo của John Lilburne đã đe dọa kỷ luật quân đội. Lilburne thấy rõ rằng sự lãnh đạo của Cromwell và Ireton đang dẫn đến một chế độ cai trị đầu sỏ (oligarchic rule), và do đó ông ta nhấn mạnh mạnh mẽ vào các đặc quyền của Nghị viện. Cromwell thẳng thừng bác bỏ chủ nghĩa cào bằng và ngay cả Lilburne cũng lên tiếng bảo vệ tài sản tư hữu và phản đối cái mác “Người san bằng”. Nhưng những người phái San bằng cấp tiến nhất, nhóm “Người đào đất” (Diggers), thậm chí còn tiến xa hơn về phía cánh tả.
Do đó, nước Anh vào thế kỷ mười bảy đã chứng tỏ mình là một mảnh đất ươm mầm cho những tà giáo cánh tả, và những quan niệm chính trị – tôn giáo nhất định nảy sinh ở đó vào thời điểm bấy giờ đã tìm đường đến Hoa Kỳ. Không dễ để đặt chúng vào một lăng kính chuẩn xác, tức là, không đánh giá thấp cũng như không phóng đại quá mức tác động của chúng đối với Mười ba Thuộc địa và, sau này, đối với nền Cộng hòa non trẻ của nước Mỹ. Tuy nhiên, cho đến tận thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh giành độc lập, chúng hầu như không được thể hiện một cách rõ ràng.
Dẫu vậy, sẽ là một sai lầm lớn nếu nghĩ rằng có tồn tại bất kỳ yếu tố mang tính cánh tả hay “tiến bộ” đặc thù nào trong Thanh giáo (Puritanism) ở New England. Thái độ chống phái Giám mục (cũng như chống Công giáo và chống quân chủ) của các Tổ phụ Hành hương (Pilgrim Fathers) và các thế hệ con cháu trực hệ hơn của họ không hề mang bất kỳ ngụ ý cào bằng nào. Không hề có thứ chủ nghĩa cào bằng nào cố hữu trong thần học Calvin: thực tế thì hoàn toàn ngược lại.
Thuyết Tiền định (Predestination) phân chia nhân loại một cách tàn nhẫn thành những kẻ bị nguyền rủa và những người được cứu rỗi, và theo đúng truyền thống đẹp nhất của Cựu Ước, những người được cứu rỗi đã được dự phần vào ân sủng của Thần Thánh. Một hình ảnh phản chiếu lờ mờ về niềm phúc lạc vĩnh cửu của họ đã giáng xuống họ ngay trên Trái Đất này. (Chính vì vậy mà dẫn đến những nỗ lực quyết liệt của các cá nhân nhằm chứng minh thông qua hành động và thực tế rằng họ đã được cứu rỗi, điều đã dẫn đến sự trỗi dậy kinh tế to lớn của các quốc gia theo phái Calvin, theo luận điểm của Max Weber và Müller-Armack.)
Paul Kecskemeti đã nói rất đúng: “… ý tưởng cơ bản mà trên đó hệ thống chính trị Thanh giáo được thiết lập là chỉ những thành viên của Giáo hội mới được trao các quyền chính trị. Điều này đảm bảo rằng khối thịnh vượng chung của Thanh giáo không thể là gì khác ngoài một chế độ đầu sỏ. Bởi vì sự giàu có là một trong những tiêu chí (mặc dù hoàn toàn không phải là tiêu chí duy nhất) làm cơ sở để xác định xem một người có thuộc về ‘những kẻ được chọn’ hay không, nên khối thịnh vượng chung đó tất yếu phải bị kiểm soát bởi giới nhà giàu.”
Chương 6: Nước Mỹ thời sơ khai
Tác giả: Erik Ritter von Kuehnelt-Leddihn.
Dịch: Lê Lam Kiều.
Giới thiệu
Các Tổ phụ Hành hương (Pilgrim Fathers) và những người Thanh giáo (Puritans) chắc chắn không phải là những người theo chủ nghĩa dân chủ hay chủ nghĩa tự do. John Winthrop đã tuyên bố rằng dân chủ là “hình thức chính quyền thấp hèn và tồi tệ nhất.” Ông cho rằng phần tốt đẹp nhất của nhân dân luôn luôn là phần ít nhất, và trong cái phần tốt đẹp nhất đó, những người thông thái hơn lại càng ít hơn nữa. John Cotton cũng thẳng thắn không kém: “Dân chủ, tôi không cho rằng Chúa từng ban định nó như một hình thức cai trị phù hợp cho cả giáo hội lẫn quốc gia. Nếu nhân dân là những kẻ cai trị, vậy thì ai sẽ là người bị cai trị? Còn về chế độ quân chủ và chế độ quý tộc, cả hai hình thức này đều được phê chuẩn và chỉ dẫn rõ ràng trong Kinh Thánh.”
Chính quyền của người Hà Lan tại New Amsterdam (New York) cũng không hề có bất kỳ đặc tính dân chủ nào. Hiến pháp Pennsylvania (Các Nhượng bộ của William Penn) có đôi chút tính chất dân chủ, nhưng chỉ những công dân tự do và những người sở hữu tài sản mới có quyền bỏ phiếu. Mặt khác, chỉ có Hiến pháp Pennsylvania mới có thể được gọi là mang tính tự do và nó đã duy trì được đặc tính đó. (Sự khoan dung tôn giáo ở Maryland, sau khi bị rúng động vào năm 1692, đã đi đến hồi kết vào năm 1715 khi những người Công giáo bị tước quyền bầu cử.) Chủ nghĩa dân chủ chắc chắn không có sức hút nào ở khu vực phía nam sông Potomac, và sau khi Mười ba Thuộc địa giành được độc lập, chỉ có duy nhất một bang có quyền bầu cử mang tính cào bằng – đó là Vermont, một bang mãi đến năm 1791 mới được sáp nhập vào Liên bang.
Dẫu vậy, không thể nghi ngờ rằng chính cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ (vốn không phải là một cuộc cách mạng!) đã cung cấp động lực tâm lý chủ đạo cho Cách mạng Pháp. Tất nhiên, cũng có những trào lưu trí thức và chính trị khác góp phần làm nên Cách mạng Pháp. Trước hết, phải kể đến “tấm gương” của nước Anh, nơi thường xuyên được Voltaire viện dẫn một cách không biết mệt mỏi – người đã mang ơn rất nhiều từ quốc gia láng giềng phương bắc này của nước Pháp. Sau đó là tấm gương của Thụy Sĩ, một nơi cực kỳ phù hợp với khí chất lãng mạn của thời đại bấy giờ: một cộng đồng xinh đẹp, mộc mạc, được quản lý tốt, mang tính cộng hòa và tiến bộ nằm ngay trước ngưỡng cửa nước Pháp. Còn có những nhà bách khoa toàn thư (encyclopedists). Còn có Rousseau (đến từ Geneva!) và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Hầu tước de Sade, “Người ông” của nền dân chủ hiện đại.
Dẫu vậy, chúng ta phải nhớ rằng hình ảnh nước Anh, như cách Voltaire nhìn nhận và thấu hiểu, cũng như bức chân dung đậm chất đa cảm về Thụy Sĩ, có rất ít mối liên hệ với thực tế của hai quốc gia này. Liên bang Thụy Sĩ chỉ trở thành một nền dân chủ nhờ vào Hiến pháp năm 1878 của họ, và có thể lập luận rằng một số bang (canton) nhất định của Thụy Sĩ vẫn duy trì cơ cấu quả đầu – quý tộc (oligarchic-aristocratic) cho đến tận bình minh của thế kỷ này. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi “bức tranh lý tưởng hóa” (Image d’Épinal) thứ ba – Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – lại là sự cám dỗ mê hoặc nhất trong tất cả, bởi vì chính sự xa xôi về mặt địa lý lại khiến nó trở thành một mồi nhử lớn hơn đối với những nhà cách mạng so với các nước láng giềng sát vách của Pháp. Việc diễn dịch về một quốc gia, một nền văn hóa và văn minh ngoại quốc, và trên hết, về một phong trào chính trị ngoại quốc, luôn chứa đầy những cạm bẫy.
Nói cách khác, mối liên hệ phả hệ (filiation) giữa cuộc Chiến tranh giành Độc lập của Mỹ và cuộc Cách mạng Pháp tồn tại về mặt hình thức, nhưng xét về khía cạnh tư tưởng và nội dung, chúng ta đang phải đối mặt với một sự hiểu lầm khổng lồ và thảm khốc.
Cần phải nhớ rằng cấu trúc chính trị và Hiến pháp của Hoa Kỳ có được là do nguyện vọng hàng đầu của Mười ba Thuộc địa: muốn thoát khỏi sự giám hộ và thống trị của “London” – cụ thể là của hai thiết chế nằm ở một thành phố cách đó xa xôi: Nghị viện và Vương quyền. Tại thời điểm đó, có lẽ không có một khả năng thực tế nào để [các thuộc địa] có được sự đại diện đích thực tại “Người mẹ của các Nghị viện”. Vị quân vương (người mà lúc đó thỉnh thoảng lại rơi vào trạng thái mất trí) rõ ràng có rất ít sự đồng cảm đối với những bất bình chính đáng của các thần dân bên kia đại dương. Thực tế là, về tổng thể, người dân nước Anh – ngoại trừ một số đảng viên Whig cấp tiến và một vài người Ireland (trong đó có Burke) – đều không hiểu người Mỹ, cũng chẳng đặc biệt quan tâm đến họ. Trong cuộc xung đột với các thuộc địa, người Anh đã thất bại về mặt thu phục nhân tâm và làm rất ít để trình bày những đòi hỏi tài chính (chắc chắn không hề bị phóng đại) của họ dưới góc độ hợp lý và công bằng. Tình hình trở nên thực sự nguy ngập khi khẩu hiệu “Không đóng thuế nếu không có đại diện!” vang lên.
Cả hai đòi hỏi này có lẽ đều chính đáng: khao khát của người Anh nhằm bù đắp một phần chi phí cho cuộc chiến vốn đã dẫn đến việc sáp nhập Canada, và sự đòi hỏi khăng khăng của người Mỹ về quyền được làm công dân đầy đủ của vương quốc. Những nguyện vọng xung đột này gần như chắc chắn – dù không phải là một điều tất yếu tuyệt đối – đã dẫn đến sự ly khai. Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề một cách kỹ lưỡng hơn, người ta còn phát hiện ra những yếu tố khác. Đương nhiên, người ta có thể lập luận rằng nếu một vùng lãnh thổ muốn ly khai khỏi một vùng lãnh thổ khác đang nằm dưới sự cai trị của chế độ quân chủ, và không có một gia tộc địa phương nào đủ sức tuyên bố quyền thừa kế đối với một ngai vàng chưa từng tồn tại, thì việc thiết lập chính quyền cộng hòa là giải pháp duy nhất. Lập luận này thoạt nghe có vẻ hợp lý, nhưng lịch sử của 150 năm qua lại cho chúng ta thấy rằng thực tế không nhất thiết phải diễn ra như vậy.
Trong suốt thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi, các hình thức chính quyền cộng hòa – dân chủ nhìn chung bị coi là thấp kém về mặt bản chất – án mạng của Socrates và sự sụp đổ hỗn loạn của nền Cộng hòa La Mã vẫn hiện lên trong tâm trí những người châu Âu được thụ hưởng nền giáo dục cổ điển một cách sống động, y như những nỗi kinh hoàng của cuộc Cách mạng Pháp và tình trạng vô chính phủ đẫm máu ở Mỹ Latinh! – đến mức các cuộc ly khai đều kết thúc bằng việc thiết lập chế độ quân chủ (monarchical instaurations). Khi người Bỉ ly khai khỏi người Hà Lan, họ đã mời một vị vương công theo đạo Luther thuộc gia tộc Saxe-Coburg lên ngôi (và điều này diễn ra bất chấp thực tế rằng cuộc ly khai ấy phần lớn được thúc đẩy bởi những thù hằn tôn giáo). Vị tân vương này, Leopold I, đã đóng một vai trò quan trọng trên bình diện chính trị châu Âu. (Tất cả những điều này cho thấy rằng nền quân chủ Cơ Đốc giáo là một thiết chế mang tính quốc tế, liên chủng tộc và “đa nguyên” [diversitarian], chứ không phải là một thiết chế mang tính quốc gia, như bản chất vốn có của nền cộng hòa).
Khi người Na Uy chấm dứt “liên minh cá nhân” (personal union) với Thụy Điển vào năm 1905, họ đã mời Vương tử Charles của Đan Mạch, người sau đó đã lấy tước hiệu Haakon VII và cai trị đất nước này cho đến năm 1957. Thoát khỏi ách thống trị của người Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ mười chín, các quốc gia vùng Balkan trong hai trường hợp đã thiết lập được các vương triều bản địa (gia tộc Petrović-Njegoš ở Montenegro và gia tộc Karađorđević ở Serbia), nhưng người Hy Lạp, người Bulgaria và người Romania lại đi mời các vương công ngoại quốc về cai trị. Người Romania ban đầu đã thử nghiệm với một nhà cai trị bản địa, nhưng sau đó lại “nhập khẩu” gia tộc Hohenzollern theo Công giáo. Như chúng ta đã đề cập trước đó, các vương triều của Serbia và Montenegro là những vương triều bản địa có chủ quyền duy nhất ở châu Âu vào năm 1910.
Nói cách khác, việc thiết lập một nền cộng hòa Mỹ (trên thực tế, dù không phải trên danh nghĩa) không phải là một điều tất yếu. Mãi cho đến năm 1787, Nathan Gorham, Chủ tịch Quốc hội theo bản Hiến pháp cũ, cùng Bá tước von Steuben đã “âm mưu” thuyết phục Vương tử Henry của Phổ, em trai của Frederick II (tức Frederick “Đại đế”), đến Hoa Kỳ để đảm nhận chức vụ “thống đốc thế tập” (hereditary stadholder). Rõ ràng là nền Cộng hòa Hà Lan (chính thức được chuyển thành vương quốc vào năm 1815) đã được dùng làm hình mẫu. Các thống đốc (stadhouder) thuộc Gia tộc Oranje-Nassau phục vụ theo chế độ thế tập và mang tước hiệu “vương công” (prince) – một mô hình chính quyền hỗn hợp (regimen mixtum) thực thụ. Tuy nhiên, Vương tử Henry đã từ chối: ông có lẽ lo sợ rằng một “cuộc phiêu lưu” ở Mỹ như vậy có thể sẽ chết yểu.
Khoảng bốn mươi năm sau, khi Tướng San Martín gặp Simón Bolívar tại Guayaquil, ông đã khẩn khoản cầu xin “Đấng Giải phóng” (El Libertador) tìm kiếm một vương công châu Âu sẵn sàng trở thành người cai trị của châu Mỹ gốc Tây Ban Nha, nhưng Bolívar cự tuyệt thẳng thừng, khiến San Martín phải đi sống lưu vong với cõi lòng tan nát. Bi kịch của Mỹ Latinh bắt đầu từ thời điểm đó và đến nay vẫn chưa đi đến hồi kết. Các giải pháp quân chủ sau khi ly khai thành công không hề hiếm gặp, hoặc ít nhất, đã từng được nỗ lực thực hiện. Tờ The New York Gazette and Weekly Mercury viết vào ngày 23 tháng 4 năm 1770: “Xin Chúa đừng để chúng ta bao giờ phải khốn khổ đến mức sa sút thành một nền Cộng hòa.”
Một trong những tổ phụ lập quốc, Alexander Hamilton – có lẽ là người tài năng nhất trong số họ – đã tiếc nuối rằng Hoa Kỳ không thể trở thành một nền quân chủ. Van Buren nhìn nhận Hamilton là một người ủng hộ quân chủ, và chắc chắn đây là một nhận định hoàn toàn có cơ sở thực tế nếu xét đến những bài phát biểu của Hamilton tại Hội nghị Liên bang năm 1787 và 1788 ở New York. Hơn nữa, Francis Lieber đã chỉ ra rất đúng rằng Tuyên ngôn Độc lập thực chất không phải là một văn kiện chống quân chủ. Câu viết: “Một vị vương công mà tính cách được bộc lộ qua mọi hành vi có thể định nghĩa là của một bạo chúa, thì không xứng đáng làm người cai trị một dân tộc tự do” đơn thuần chỉ lên án George III, nhưng đồng thời, lại nói lên sự tôn trọng sâu sắc đối với vương quyền.
Người Mỹ trung bình ngày nay hẳn sẽ ngạc nhiên khi nghe thấy cụm từ “người cai trị một dân tộc tự do” – điều mà trong mắt họ là một sự nghịch lý tự thân (contradictio in adjecto). Nhưng qua những cách diễn đạt như vậy, chúng ta có thể nhận thấy một vài khía cạnh mang tính mâu thuẫn cao trong tính cách và tâm trí của Jefferson. Ông quả thực đứng gần với dòng chính của tư tưởng cánh tả Mỹ và xứng đáng nhận những lời phê phán gay gắt từ Hamilton. Nhưng mặt khác, ông cũng chính là người, trong một bức thư gửi Mann Page, đã gọi dân chúng là “đám đông bầy lợn” (swinish multitudes). Và Gouverneur Morris, đại diện cho phe cực hữu, đã viết cho Nathanael Green vào năm 1781 rằng: “Tôi sẽ đi xa hơn thế; tôi không có hy vọng nào rằng Liên bang của chúng ta có thể tồn tại ngoại trừ dưới hình thức một nền quân chủ chuyên chế.”
Tới đây, mọi lập luận dường như vẫn xác đáng. Tuy nhiên, chúng ta sẽ tự huyễn hoặc mình nếu cho rằng ở Mười ba Thuộc địa không hề tồn tại tâm lý chống quân chủ hay thậm chí là khuynh hướng cánh tả mạnh mẽ nào. Trước đó, chúng ta đã đề cập đến những truyền thống tôn giáo và chính trị tại các thuộc địa – vốn bắt nguồn rõ rệt từ chủ nghĩa Độc lập (independentism) của nước Anh. Cuộc nội chiến ở Anh và sự đối đầu giữa phe Jacobite và phe Hanover cũng để lại dấu ấn sâu đậm tại Bắc Mỹ. Sự kết tinh chính trị của đời sống nghị viện Anh với hai phe phái là Đảng Tory và Đảng Whig cũng không phải là ngoại lệ. Thuật ngữ “Whig” ban đầu mang sắc thái của người Scotland và Giáo hội Trưởng lão (Presbyterian), ẩn chứa những âm hưởng cộng hòa và đồng thời ngụ ý sự khoan dung đối với những người Bất đồng Giáo kiến (Dissenters). Trong khi đó, từ “Tory” có gốc gác Ireland, biểu thị lòng trung thành với nhà Stuart cũng như những khuynh hướng “thân Giáo hoàng” (Popish). Ban đầu, đây chỉ là những biệt danh, nhưng sau đó chúng đã trải qua một quá trình tiến hóa nhất định. Hơn nữa, phe Whig có mối liên hệ với phái Đầu tròn (Roundheads), còn phe Tory lại có liên hệ với phái Hiệp sĩ Bảo hoàng (Cavaliers).
Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ mười tám, có một thực tế rõ ràng là đảng Tory đã trở thành đảng của các đặc quyền vương thất, của tầng lớp quý tộc nhỏ có khuynh hướng nương tựa triều đình (aulic leanings), và của giới tu sĩ thuộc Giáo hội Quốc giáo (Established Church); trong khi đó, đảng Whig đại diện cho tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai rộng lớn, giàu có và có tư tưởng độc lập. Do đó, chính đảng Whig, chứ không phải đảng Tory, mới là đảng đại diện cho tinh thần quý tộc. Cách mạng Pháp đã phần nào che khuất thực trạng này khi tạo ra một liên minh kỳ lạ giữa vương quyền và giới quý tộc – những thế lực vốn là đối thủ cạnh tranh của nhau trong suốt phần lớn lịch sử châu Âu. Rõ ràng là một tầng lớp quý tộc đích thực không bao giờ ủng hộ một nền quân chủ chuyên chế hoặc có quyền lực quá mạnh tay, trừ phi vị quân vương ấy, với tư cách là “người đứng đầu trong số những người bình đẳng” (primus inter pares), chỉ đơn thuần đóng vai trò là người thực thi ý chí của giới quý tộc. “Und der König absolut, wenn er unsren Willen tut!” (Nhà vua có thể chuyên chế ,miễn là ngài làm theo ý chúng ta!)
Các nhà quý tộc thường mang tinh thần cộng hòa một cách triệt để: Trong một chế độ quân chủ, giới quý tộc chỉ có thể đóng vai trò thứ yếu dưới trướng nhà vua, trong khi các nền cộng hòa lại thường mang đặc tính quý tộc độc tôn. Điều này đặc biệt đúng với các nền cộng hòa cổ đại như Venice và Genoa, cũng như với một số bang-thành phố (city-cantons) của Thụy Sĩ. Liên quan đến điều này, cần nhớ rằng các quân vương, thông qua đặc quyền phong tước quý tộc (power to nobilitate), luôn luôn (hoặc đúng hơn là đã từng) có khả năng thúc đẩy quá trình dịch chuyển xã hội, và trên thực tế, họ đã hành động để chống lại tính khép kín độc quyền của giới quý tộc. Do đó, các nền cộng hòa quý tộc (đôi khi bị chi phối bởi một tầng lớp danh gia vọng tộc không có tước vị [patriciate], và thậm chí tính khép kín của họ còn cao hơn cả nhiều tầng lớp quý tộc có tước vị!) thường là những quốc gia mang tính trì trệ và bảo thủ cao độ. Không cần phải bàn cãi, Geneva thuở xưa là một thành phố hẹp hòi và bảo thủ (hidebound) hơn rất nhiều so với, chẳng hạn, Munich, Berlin, hay thậm chí là St. Petersburg.
Vào khoảng cuối thế kỷ mười tám, chúng ta chứng kiến sự chia rẽ giữa phe Whig Mới (New Whigs) và phe Whig Cũ (Old Whigs) tại Anh, một sự tiến hóa không hề diễn ra ở Bắc Mỹ. Rõ ràng là ở Tây Bán cầu, những người phái Whig chính là những kẻ chỉ trích vương quyền và, do đó, chỉ trích mối liên kết với nước Anh. Còn phe Tory một lần nữa lại đóng vai trò là “phe Trung thành” (Loyalists), giống như họ ở Ireland vào thế kỷ mười bảy và đầu thế kỷ mười tám. Người phái Whig là những người thường xuyên được truyền cảm hứng bởi một số quan niệm cộng hòa: họ cảm thấy mình “cũng chẳng kém gì Nhà vua” và họ chính là những người đã thực hiện cuộc Chiến tranh Giành Độc lập chống lại nước Anh, chống lại phe Tory… chống lại phe Tory ở cả hải ngoại lẫn trong nước.
Chính nhờ ngòi bút của Kenneth Roberts – người không chỉ là một tiểu thuyết gia giỏi mà còn là một nhà sử học nghiệp dư hàng đầu – mà qua tiểu thuyết Oliver Wiswell của ông, chúng ta có một bức tranh vô cùng “sống động” về khía cạnh nội chiến của cuộc Chiến tranh giành độc lập của Mỹ: một cuộc nội chiến giữa phe Whig và phe Tory. Đúng như dự đoán, cuộc đấu tranh này cũng có những nét tương đồng và âm hưởng vang vọng tại Anh, nơi những người phái Whig, theo một cách khá thiếu tinh thần yêu nước, đã không thể che giấu niềm hoan hỉ trước chiến thắng của những đồng đạo chính trị (political coreligionists) của mình ở Mỹ.
Và bởi vì người phái Whig mới là kẻ quý tộc đích thực, cuộc Chiến tranh Giành Độc lập của Mỹ – vốn không hề mang đặc tính của một cuộc cách mạng thực sự – đã tìm thấy một sự hưởng ứng thân thiện, nếu không muốn nói là nồng nhiệt, từ giới quý tộc châu Âu. Họ sớm kéo sang Bắc Mỹ làm tình nguyện viên, trong đó đông đảo nhất là người Pháp – những người chưa bao giờ quên những năm tháng của cuộc nổi dậy Fronde và lúc này đang thấm nhuần các tư tưởng tự do.
Và quả thực, nếu ai đó ghé thăm thủ đô của Hoa Kỳ, ngay tại trung tâm Quảng trường Jackson, đối diện Điện Nhà Trắng, người đó sẽ nhìn thấy bức tượng cưỡi ngựa của Andrew Jackson, biệt danh “Old Hickory” (Cây Cùng già), vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dám tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa dân chủ. Tuy nhiên, ở bốn góc của quảng trường có bốn bức tượng dành riêng cho các nhà quý tộc châu Âu đã đến Mỹ để chiến đấu cho tự do, nhưng chắc chắn không phải cho chủ nghĩa dân chủ: Tadeusz Kościuszko, von Steuben, Bá tước de Rochambeau và Hầu tước de Lafayette. Vị quý tộc người Ba Lan Kazimierz Pułaski, vị tướng duy nhất của Liên quân hy sinh trong chiến trận, có tượng kỷ niệm tại Savannah, Georgia; nhưng người quả cảm và đặc trưng nhất trong số họ, Charles-Armand Tuffin, hầu tước de la Rouërie (người mà chúng ta sẽ đề cập sau), lại không hề được tưởng niệm theo bất kỳ hình thức nào. Jean de Kalb (“Bá tước de Kalb”) cũng được vinh danh ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ, nhưng tước vị quý tộc của ông lại có nguồn gốc khá giả mạo.
Do đó, nền tảng của nền cộng hòa Mỹ mang tính quý tộc và mang đậm đặc tính của phái Whig. Như chúng ta đã chỉ ra, điều này, tuy nhiên, không hề mâu thuẫn với một tâm lý chống quân chủ. Hơn nữa, truyền thống chống quân chủ của Hoa Kỳ có rễ sâu bền vững. Nó có lẽ đã tăng lên chứ không giảm đi theo năm tháng, và đã tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ theo một cách thức tai hại nhất – tai hại cho những đối tượng gánh chịu nó, và tai hại cho chính lợi ích bản thân của nước Mỹ. Chủ nghĩa chống quân chủ, như chúng ta sẽ thấy, đã tiêu tốn hàng tỷ đô la không thể đếm nổi và, điều còn đau lòng hơn nhiều, hàng ngàn hàng ngàn sinh mạng người Mỹ – những nạn nhân của một mảng truyền thuyết dân gian Mỹ được kích hoạt và làm trầm trọng thêm bởi những định kiến và tuyên truyền cánh tả.
Dẫu vậy, hệ tư tưởng phái Whig (Whiggery) không phải là nguồn cội duy nhất của tâm lý cộng hòa ở Mười ba Thuộc địa trước năm 1776. Chúng ta tìm thấy tâm lý này như một thứ cảm thức tiềm ẩn được nuôi dưỡng bởi các tôn giáo khác ngoài Giáo hội Anh (Church of England) – đặc biệt là ở những người thuộc Giáo hội Tự trị giáo đoàn (Congregationalists), Giáo hội Trưởng lão (Presbyterians), có lẽ ngay cả Giáo hội Cải cách Hà Lan (Dutch Reformed), phái Quaker và phái Nhất thể (Unitarians). Toàn bộ truyền thống của những người phái Độc lập (Independents – gắn liền với Khối thịnh vượng chung của Cromwell) không chỉ bài xích Công giáo một cách dữ dội (và bài xích Anh giáo ở mức độ vừa phải) mà còn mang tính chống tôn ti trật tự (antihierarchical) và do đó, cũng chống quân chủ.
John C. Miller đã nhấn mạnh đến tính hiệu quả của mối thâm thù đan xen giữa sự bài xích Công giáo và bài xích quân chủ này – một sự thù hằn đặc biệt mạnh mẽ ở vùng New England trong những năm trước cuộc Chiến tranh Giành Độc lập, và chúng ta thậm chí có thể trích lọc được những tài liệu còn thú vị hơn từ cuốn The Protestant Crusade 1800-1860 của Ray Allen Billington. Về tâm lý bài Công giáo, Billington trích dẫn cuốn History of My Own Time của Daniel Barber như sau: “Cảm giác này vẫn mạnh mẽ xuyên suốt giai đoạn đầu của cuộc Cách mạng đến mức Chủ tịch Đại học Princetown [John Witherspoon] tin rằng lòng căm thù chung đối với ‘chủ nghĩa Giáo hoàng’ (Popery) do Đạo luật Quebec gây ra là thứ duy nhất đã gắn kết các nhóm tôn giáo phân kỳ ở các thuộc địa lại với nhau đủ chặt chẽ để cho phép họ tiến hành chiến tranh, một quan điểm cũng được các quan sát viên người Anh chia sẻ.”
Trên thực tế, Đạo luật Quebec – đạo luật trao quyền khoan dung tôn giáo cho những người Canada gốc Pháp – qua một sự vặn vẹo lập luận kỳ lạ nào đó, lại bị coi là một mối đe dọa lớn đối với tự do. Kết quả là, bài vè sau đây đã được hát vang trong thời kỳ Cách mạng:
Nếu những tín đồ Công giáo Pháp (Gallic Papists) có quyền
Được hành đạo theo cách của riêng chúng,
Thì xin vĩnh biệt tự do
Của nước Mỹ đáng thương này.
Đã nảy sinh một sự nghi ngờ rằng George III (người đã từng kiên quyết chống lại việc giải phóng những người Công giáo) đã bí mật cải đạo thành người Công giáo: rốt cuộc thì, các nhà vua ắt hẳn phải ngưỡng mộ các giáo hoàng, và các giáo hoàng sẽ ủng hộ các nhà vua. Trong bài thơ trào phúng McFingal, John Trumbull đã buộc tội nhà vua bằng những lời lẽ như sau:
Mặc cả với các giáo hội La Mã
Để mua lấy quyền vạn thế vô ngộ (Infallibility).
Mở toang cánh cửa cho chủ nghĩa Giáo hoàng,
Kết giao với con điếm đỏ của thành Babel
Những lời buộc tội này, dẫu vô căn cứ, về mặt tâm lý lại không hề thiếu cơ sở, bởi lẽ truyền thống Công giáo vốn là một dạng chính quyền hỗn hợp (mixed government) do một nhà cai trị mang tính quân chủ đứng đầu. Tuy nhiên, ngay cả cho đến ngày nay, bất chấp một thực tế là phần lớn các quốc gia “Tin Lành” (Protestant) ít nhất vẫn đang được cai trị trên danh nghĩa biểu tượng bởi các quân vương, “phương trình” Công giáo – quân chủ (Catholic-monarchic equation) vẫn tiếp tục tồn tại một cách kỳ diệu tại Hoa Kỳ. Đây là một lập luận thường được những kẻ bài Công giáo chuyên nghiệp sử dụng, gây ra không ít sự bực dọc cho một bộ phận người Công giáo Mỹ – những người, vì muốn được coi là “dân Mỹ 200%”, đã quyết tâm chứng minh rằng mọi tín đồ Công giáo ngoan đạo đều phải là một người theo chủ nghĩa cộng hòa dân chủ. Họ hiếm khi nhận ra rằng những nỗ lực tuyệt vọng này chẳng mang lại cho họ bao nhiêu sự tôn trọng về mặt trí thức từ những người hiểu biết. Những ai dấn thân vào “thần học chính trị” (political theology) hầu như luôn luôn cố gắng chứng minh quá nhiều.
Mặc dù chúng ta phải ghi nhớ rằng ở Mười ba Thuộc địa đã từng tồn tại tâm lý chống quân chủ và đôi khi là những cảm thức thậm chí có thể được gọi là mang tính cào bằng (egalitarian), chúng ta vẫn phải nhìn nhận nền Cộng hòa Mỹ non trẻ như một thực thể chính trị (polity) mang đậm tính phái Whig – hay nói cách khác, mang đặc tính quý tộc. Người ta không bao giờ nên quên rằng thuật ngữ “dân chủ” không hề xuất hiện trong Tuyên ngôn Độc lập lẫn Hiến pháp, và thậm chí cả danh từ “cộng hòa” cũng không thể được tìm thấy trong hai văn kiện này. Hiến pháp chỉ đơn thuần nhấn mạnh rằng các bang thành viên của Liên bang phải có một hình thức chính quyền mang tính “cộng hòa” (republican form of government).
Và thực tế, nếu chúng ta phân tích Hiến pháp Hoa Kỳ, chúng ta sẽ thấy rằng, trong hình thức nguyên thủy của nó, nó có thể được coi là một nỗ lực nghiêm túc nhằm thiết lập một chính quyền hỗn hợp hội tụ các yếu tố dân chủ, quý tộc và quân chủ – một chính quyền của cơ chế kiểm soát và đối trọng (checks and balances). Nếu ba yếu tố này có thể bắt nguồn sức mạnh từ các nguồn khác nhau, thì nỗ lực đó có thể được coi là thành công.
Trên thực tế, Hiến pháp đã cung cấp nền tảng cho một nền cộng hòa (hay một thực thể chính trị – polity) thay vì một chính quyền hỗn hợp (regimen mixtum); thế nhưng, kể từ khi mới ra đời, nền Cộng hòa Mỹ đã liên tục phải hứng chịu những ảnh hưởng dân chủ hóa về mặt hiến pháp – sự phụ thuộc của các đại cử tri vào người bỏ phiếu, việc bầu cử trực tiếp các thượng nghị sĩ, thậm chí là tu chính án giới hạn hai nhiệm kỳ, nguy cơ sắp xảy ra của việc bầu cử trực tiếp Tổng thống, v.v. Các bản hiến pháp cộng hòa cũ hơn (và mang tính dân chủ mạnh mẽ hơn) không hề thiết lập chức vụ tổng thống – không có nguyên thủ quốc gia lẫn người đứng đầu chính phủ. Chẳng hạn, “Tổng thống” Thụy Sĩ thực chất chỉ là chủ tịch hội đồng các bộ trưởng nội các (bảy Ủy viên Hội đồng Liên bang) do cả hai Viện của Nghị viện bầu ra. Vị này chỉ được bầu cho một nhiệm kỳ duy nhất kéo dài một năm. Chân dung của vị này không được treo trong các tòa nhà công cộng, thay vào đó là chân dung của vị đại tá chỉ huy. (Chỉ trong những thời kỳ tổng động viên, Thụy Sĩ mới có một vị tướng lĩnh).
Các Tổ phụ Lập quốc, với tư cách là những trí thức của thời đại mình, đã bác bỏ thẳng thừng nền dân chủ, và điều này càng trở nên dữ dội hơn khi sự đàn áp toàn trị trở thành đặc điểm chi phối của Cách mạng Pháp. (Người Mỹ hiện đại cũng quá dễ dãi quên đi rằng Cách mạng Pháp, và sau này là chế độ Napoleon, đã sát hại hoặc lưu đày ba vị cha đỡ đầu của nền cộng hòa Mỹ – các vị vua của Pháp và Tây Ban Nha cùng với Thống đốc [Stadhouder] của Hà Lan). George Washington, Điền chủ vùng Mount Vernon, tuyệt nhiên không phải là một người theo chủ nghĩa dân chủ. Và John Adams, vị Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ, mặc dù ông đã định hình nền dân chủ một cách khá nghiêm ngặt, lại không có gì ngoài sự căm ghét và khinh miệt đối với hình thức chính quyền này.
Chỉ có họ hàng xa với Samuel Adams ở Boston – một người vốn có chút khuynh hướng kích động quần chúng (rabble rouser), nếu không muốn nói là một người cánh tả sơ khai – John Adams là một nhà quý tộc (patrician) thực thụ với một nhân sinh quan mang đậm tính quý tộc. Ông nhận thấy sự quyến rũ gần như nhuốm màu thần bí mà dòng máu hoàng gia tạo ra được đặt nền móng trên sự chú ý chung mà nó thu hút. “Dòng máu cao quý,” ông viết trong tác phẩm Discourses on Davila – vốn gây ra một làn sóng phản đối dữ dội trong phe cánh tả non trẻ của Mỹ lúc bấy giờ, “cho dù giới quý tộc là thế tập hay do bầu cử, và thực tế là, [điều này xuất hiện] ở các chính quyền cộng hòa nhiều hơn ở các nền quân chủ, và ít nhất là ở các chế độ chuyên chế, luôn được trọng vọng vì cùng một lý do.” (Phần in nghiêng của tôi.)
Thực tế là, ông coi một niềm tin dân chủ mang âm hưởng cào bằng là một dấu hiệu của sự non nớt. Jefferson kể cho chúng ta nghe về một cuộc trò chuyện giữa Tiến sĩ Ewen và John Adams, trong đó vị tiến sĩ thông báo với Tổng thống rằng ông có một người con trai út là “người dân chủ” và một người con trai cả là “người quý tộc”. “Chà,” Tổng thống đáp, “một cậu bé mười lăm tuổi mà không phải là một người dân chủ thì chẳng làm nên trò trống gì, và nếu đến hai mươi tuổi mà cậu ta vẫn là một người dân chủ thì cũng chẳng khá khẩm hơn.”
Tuy nhiên, khi John Adams đi vào phán xét nền dân chủ với đúng bản chất của nó, sự phê phán của ông trở nên mạnh mẽ hơn nhiều. Trong một bức thư gửi John Taylor, Adams nhấn mạnh rằng nền dân chủ chắc chắn sẽ tiến hóa thành chế độ quả đầu (oligarchy), và chế độ quả đầu sẽ tiến hóa thành chế độ chuyên chế (despotism) – một quan niệm mà rõ ràng ông đã chia sẻ cùng với Plato và Aristotle. Ông đánh đồng thẳng thừng nền dân chủ với sự ngu muội và khẳng định rằng: “ngay khoảnh khắc bạn trao tri thức cho một kẻ dân chủ, bạn đã biến anh ta thành một nhà quý tộc.”
Trong tác phẩm A Defence of the Constitution of the Government of the United States (Lời biện hộ cho Hiến pháp Chính phủ Hoa Kỳ), ông viết: “Nền dân chủ, nền dân chủ đơn thuần, chưa bao giờ có một người bảo trợ nào trong giới học giả (men of letters). Nhân dân hầu như luôn luôn kỳ vọng được phục vụ miễn phí, và được trả tiền cho vinh dự phục vụ họ; còn những tràng pháo tay và sự tôn sùng của họ thì lại thường xuyên được ban phát cho những thủ đoạn và mánh khóe, cho thói đạo đức giả và sự mê tín, cho những lời xu nịnh, những khoản hối lộ và của bố thí (largesses).”
Trong cùng tác phẩm đó, ông viết rằng “chúng ta có thể viện dẫn mọi trang lịch sử . . . để tìm kiếm những bằng chứng không thể chối cãi rằng dân chúng, khi không bị kiềm chế, cũng bất công, chuyên chế, tàn bạo, dã man và độc ác như bất kỳ vị vua hay thượng viện nào nắm trong tay quyền lực không thể kiểm soát. Phe đa số đã vĩnh viễn và không có bất kỳ ngoại lệ nào tước đoạt quyền lợi của phe thiểu số.” Và ông nói thêm trong một đoạn khác: “Tất cả các mô hình chính phủ được hình thành dựa trên giả định về sự cảnh giác, khôn ngoan, đức hạnh và kiên định liên tục của người dân, khi họ nắm giữ quyền hành tối cao, đều là những trò lừa bịp và ảo tưởng.” Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận xét của ông: “Mệnh đề cho rằng nhân dân là những người bảo vệ tốt nhất cho quyền tự do của chính họ là không đúng sự thật. Họ là những người bảo vệ tồi tệ nhất có thể tưởng tượng được, thực chất họ hoàn toàn không phải là người bảo vệ: họ không thể phán xét, hành động, suy nghĩ hay thể hiện ý chí với tư cách là một thực thể chính trị. 67 Các cá nhân đã từng tự chinh phục được chính mình: nhưng các quốc gia và các nhóm đông người thì không bao giờ.” Adams đã nã loạt đại bác nặng nề nhất vào nền dân chủ cũng trong tác phẩm này khi ông đưa ra mười hai điểm, trong đó chúng tôi chỉ trích dẫn một vài điểm:
- Không có nền dân chủ nào từng hoặc có thể tồn tại….
- Rằng không có tình yêu sự bình đẳng nào, ít nhất là kể từ sự sa ngã của Adam, từng tồn tại.
- Rằng không có tình yêu sự tiết kiệm nào từng tồn tại như một niềm đam mê, mà luôn luôn như một đức hạnh.
- Rằng do đó nền dân chủ của Montesquieu … [chỉ là] tất cả những mảnh vụn của trí óc, một trí tưởng tượng huyễn hoặc.
- Rằng niềm đam mê yêu mến nền dân chủ của ông ấy, đối với các thành viên phe đa số, sẽ chỉ là tình yêu dành cho phe đa số….
- Rằng trên thực tế, từ dân chủ không có nghĩa gì hơn cũng không kém hơn là một quốc gia hay một dân tộc hoàn toàn không có bất kỳ chính phủ nào….
Và trong một bức thư gửi Jefferson, ông khẳng định rằng “Nền dân chủ sẽ đố kỵ với tất cả, tranh giành với tất cả, nỗ lực lật đổ tất cả, và khi tình cờ nó chiếm được thế thượng phong trong một thời gian ngắn, nó sẽ mang tính thù hằn, đẫm máu và tàn ác.” 27 John Adams thấy rõ rằng tài sản tư nhân về cơ bản bị đe dọa bởi nền dân chủ, thứ hầu như luôn nằm trong tay tầng lớp thấp hơn và đông đảo hơn rất nhiều dưới đáy tháp xã hội. Trong bức thư gửi John Taylor, ông nói thêm: “Nếu ngài trao cho những người theo chủ nghĩa dân chủ nhiều hơn một phần trong quyền tối thượng, tức là, nếu ngài trao cho họ quyền chỉ huy hoặc sự áp đảo trong quyền tối thượng, tức là cơ quan lập pháp, họ sẽ bỏ phiếu tước đoạt toàn bộ tài sản khỏi tay những người quý tộc như các ngài, và nếu họ để cho các ngài giữ lại mạng sống, thì đó đã là sự nhân đạo, sự thấu hiểu và sự rộng lượng lớn lao hơn bất kỳ nền dân chủ chiến thắng nào từng thể hiện kể từ thuở khai thiên lập địa.”
Madison, Tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, cũng có những nỗi lo sợ tương tự về nền dân chủ, điều này thể hiện rõ trong bức thư ông gửi cho Jared Sparks, trong đó ông nói rằng luật pháp phải “có khả năng bảo vệ quyền sở hữu tài sản trước tinh thần dân chủ.” Dĩ nhiên, Madison đã phân biệt giữa dân chủ thuần túy và tinh thần dân chủ. Dân chủ thuần túy đối với ông là dân chủ trực tiếp, như có thể thấy qua các định nghĩa của ông trong các bài luận Federalist (Người theo chủ nghĩa liên bang), số 10 và số 14. Tuy nhiên, E. M. Burns đã đúng khi nhận định rằng “thay vì bảo vệ chủ quyền tuyệt đối của đa số, Madison lại chán ghét nó đến mức ông đã tìm mọi cách có thể tưởng tượng ra để ngăn chặn việc thực thi nó.” Madison cũng không phải là một người theo chủ nghĩa bình quân. Trong một bức thư gửi Edmund Randolph, ông thừa nhận rằng “có những vấn đề mà năng lực của phần lớn nhân loại là không đáp ứng được, và trong những vấn đề đó, họ phải và sẽ được cai trị bởi những người mà họ tình cờ quen biết và tin tưởng.” Điều này khác xa với quan điểm của Andrew Jackson, người đã nói trong thông điệp thường niên đầu tiên của mình rằng “nhiệm vụ của tất cả các cơ quan công quyền… vô cùng rõ ràng và đơn giản đến mức những người có trí tuệ có thể dễ dàng tự trang bị cho mình đủ năng lực để thực hiện chúng.”
Cho đến cuối thế kỷ 19, một đảng viên Cộng hòa Mỹ (với chữ “R” viết hoa) sẽ không bao giờ gọi đất nước của mình là một “Nền dân chủ” mà đúng hơn là một “nước cộng hòa đại diện”. Tuy nhiên, trong các quan điểm chính trị cơ bản của mình, Madison dường như chịu ảnh hưởng của Jefferson nhiều hơn là của Hamilton. Thế nhưng, nếu chúng ta tính đến cách Madison đề cập đến các quan điểm quân chủ của Hamilton cũng như sự dè dặt của Hamilton đối với chế độ cộng hòa trong Hội nghị Philadelphia, chúng ta có thể ngờ rằng Madison đã có những sự đồng tình nhất định với những quan điểm đó.
Người ta thường nghe người Mỹ so sánh “nền dân chủ kiểu Jefferson” với “nền dân chủ kiểu Jackson.” Nhưng câu hỏi vẫn còn đó là liệu vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ có thực sự là một người tin tưởng vững chắc vào nền dân chủ hay không. Tiến sĩ Mortimer Adler nói đúng hơn là sai khi ông cho rằng “bình minh của nền dân chủ Mỹ thực sự bắt đầu với Jackson.” Và khi đọc kỹ các ấn bản Washington và Ford về các Tác phẩm của Jefferson, người ta chỉ tìm thấy một sự ám chỉ tích cực duy nhất đến các thuật ngữ “người theo chủ nghĩa dân chủ” và “nền dân chủ”. Thực ra, trong một bức thư viết cho Lafayette, Jefferson khăng khăng rằng Hiến pháp năm 1791 sẽ phát huy tác dụng ở Pháp, với điều kiện là nó phải được giữ trong khuôn khổ của một chế độ quân chủ lập hiến. Dù vậy, Jefferson đã có một ý niệm cường điệu về phẩm chất của người dân Mỹ (chỉ được thay đổi đôi chút trong những năm tháng cuối đời) khi ông viết rằng “nếu tất cả các vị vua chúa ở Châu Âu bắt tay vào việc giải phóng tâm trí của thần dân khỏi sự thiếu hiểu biết và định kiến hiện tại… thì một ngàn năm nữa cũng không thể đưa họ lên được vị thế cao cả mà dân tộc chúng ta đang bắt đầu vươn tới.”
Nhưng để hiểu Jefferson một cách đầy đủ hơn — điều không hề dễ dàng — chúng ta phải nhớ rằng ông là một người lãng mạn theo chủ nghĩa trọng nông, tin tưởng vào những phẩm chất và đức hạnh cao quý của tầng lớp nông dân tự do. Ngôn từ của một trong những người họ hàng của ông, John Randolph vùng Roanoke (người đã phát biểu tại Hội nghị Hiến pháp Virginia: “Tôi là một kẻ quý tộc: Tôi yêu tự do, tôi ghét bình đẳng.”) chắc chắn không phải là ngôn từ của Jefferson.
“Những người lao động trên đất đai,” Jefferson đã viết, “là những người được Chúa chọn, nếu như Ngài thực sự có những người được chọn.” Gửi cho Madison, ông viết: “Tôi nghĩ rằng chính phủ của chúng ta sẽ giữ được sự đức hạnh trong nhiều thế kỷ, miễn là nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, và điều này sẽ kéo dài chừng nào còn đất trống ở bất kỳ vùng nào của châu Mỹ. Khi họ dồn ứ lên nhau như ở các thành phố lớn của châu Âu, họ sẽ trở nên hủ hóa như ở châu Âu.” Vì Jefferson xuất hiện trong truyền thống dân gian của phe cánh tả Mỹ – vào những năm 1930 và 1940 đã có một Trường Jefferson do những người cộng sản điều hành ở New York – nên khá thú vị khi nhớ lại những gì vị chủ nô của trang trại Monticello nghĩ về tầng lớp lao động thành thị. “Đám đông ở các thành phố lớn đóng góp vào việc hỗ trợ cho một chính phủ trong sạch cũng giống như các vết lở loét đóng góp vào sức mạnh của cơ thể con người,” ông đã viết cho John Jay vào năm 1785. Và sau đó ông thú nhận: “Tôi coi tầng lớp thợ thủ công là những kẻ dắt mối cho sự đồi dụy, và là công cụ khiến cho các quyền tự do của đất nước thường bị biến chất.” Trong một bức thư gửi John Adams, khi nói về Hoa Kỳ và sử dụng cùng một ngôn ngữ “phản động”, ông khẳng định rằng “mọi người, nhờ vào tài sản của mình hoặc nhờ vào hoàn cảnh thỏa đáng của mình, đều quan tâm đến việc duy trì trật tự và pháp luật. Và những người như vậy có thể dành riêng cho mình quyền kiểm soát lành mạnh đối với các công việc chung của họ một cách an toàn và có lợi, cùng một mức độ tự do mà nếu rơi vào tay tầng lớp hạ lưu của các thành phố châu Âu, sẽ ngay lập tức biến thành sự sụp đổ và phá hủy mọi thứ thuộc về công cộng.”
Vậy ông đã hy vọng điều gì? Ai mới thực sự nên cai trị? Trong cùng bức thư đó, Jefferson đã chứng tỏ mình là một người theo chủ nghĩa tài trị (timocrat) thực sự: “Tôi coi giới quý tộc tự nhiên là món quà quý giá nhất của tự nhiên dành cho việc chỉ dẫn, sự tin tưởng và việc quản trị xã hội. Và quả thực, sẽ là mâu thuẫn trong sự tạo hóa nếu như tạo ra con người cho một trạng thái xã hội mà lại không cung cấp đủ đức hạnh và trí tuệ để quản lý các công việc của xã hội. Chẳng lẽ chúng ta lại không thể nói rằng hình thức chính phủ tốt nhất là hình thức cung cấp hiệu quả nhất sự lựa chọn thuần túy những aristoi (kẻ ưu tú) tự nhiên này vào các cơ quan của chính phủ hay sao?”
Như chúng ta có thể thấy khá rõ ràng, các Cha đẻ Sáng lập của Hoa Kỳ không phải là những người công khai theo chủ nghĩa dân chủ, và Hoa Kỳ cũng không được thành lập như một “nền dân chủ”. Albert Jay Nock từng viết: “Đôi khi người ta tự hỏi các tiền nhân thời Cách mạng của chúng ta sẽ phản ứng thế nào nếu họ nghe thấy một kẻ bịp bợm chính trị rỗng tuếch nào đó gán cho họ cái công sáng lập nên ‘nền dân chủ vĩ đại và huy hoàng của phương Tây’.” Thượng nghị sĩ Arthur H. Vandenberg từng nhận xét rằng “chính quyền Hoa Kỳ là một nền cộng hòa đại diện chứ không phải là một nền dân chủ thuần túy. Sự khác biệt này ngày nay vẫn sâu sắc như thời điểm nền móng của Hiến pháp được đặt ra từ thuở ban đầu…. Chúng ta là một nền cộng hòa đại diện. Chúng ta không phải là một nền dân chủ thuần túy. . . . Thế nhưng chúng ta lại liên tục tìm cách ghép cái sau vào cái trước, và mọi nỗ lực của chúng ta theo hướng này, chỉ với một vài ngoại lệ, đều là một cú đòn giáng vào cốt lõi của Hiến pháp.”
Bấy nhiêu đó cũng đủ để nói về cái gọi là bản chất cánh tả vốn có của một nước Mỹ thời kỳ non trẻ.
Chương 7: Cách mạng Pháp
Giờ đây, khi nhìn vào bối cảnh của cuộc Cách mạng Pháp – về mặt lịch sử, đây chính là cội nguồn của hầu hết những hiểm họa ý thức hệ đang bủa vây không chỉ nền văn minh phương Tây mà còn cả phần còn lại của thế giới – chúng ta phải làm một cuộc kiểm kê về những gốc rễ của sự tai hại này. Chúng ta tìm thấy sự diễn dịch sai lệch và sự bóp méo các sự kiện ở Mỹ, nhưng cũng có những yếu tố khác dẫn đến Cách mạng Pháp, và chúng ta sẽ xem xét chúng sau.
Khi giải quyết giai đoạn đầu tiên của cuộc Đại ngộ nhận Âu-Mỹ (Great Euramerican Misunderstanding), chúng ta phải thừa nhận rằng có lẽ số lượng người Pháp diễn dịch sai những gì họ chứng kiến và trải nghiệm ở Mỹ còn nhiều hơn số lượng người Mỹ (và người Anh!) truyền bá các tư tưởng ở Pháp. Tất cả những điều này chắc chắn dẫn đến những hậu quả đáng buồn.
Trong mối liên hệ này, chúng ta đã nhắc đến người Anh bởi vì về mặt ý thức hệ, tác động của họ đối với lục địa (châu Âu) rất giống với tác động của Hoa Kỳ. Về mặt địa lý, Anh Quốc không phải là một phần của châu Âu (mặc dù nó đương nhiên thuộc về nền văn minh phương Tây) và có một bộ phận thiểu số tương đối lớn người Anh (trong đó có Winston Churchill và Evelyn Waugh) gọi lục địa này là “châu Âu”, cứ như thể hòn đảo của họ không thực sự thuộc về bán đảo phía tây này của đại lục Á-Âu.
Điều này không có nghĩa là những người Anh và người Mỹ xuất chúng đã không nhiều lần tận hưởng cuộc sống trên lục địa. Thực tế là, lục địa rải rác những ngôi mộ của các nhà bất tuân (non-conformists) lỗi lạc người Anh – những người thà lựa chọn trốn thoát khỏi sự kiểm soát của xã hội Anh. Họ trải dài từ Keats, Shelley và Kemble cho đến Oscar Wilde và D. H. Lawrence. (Thi hài của Byron đã được đưa trở lại Anh.) Những phản ứng của người Mỹ đối với châu Âu đương nhiên cũng cho thấy sự đa dạng to lớn,và thường thì chúng mang theo những ẩn ý chính trị.
Cuốn Discovery of Europe (Khám phá châu Âu) của Philip Rahv cung cấp một dải quang phổ rộng lớn về những đánh giá tích cực, về sự hân hoan và lòng nhiệt thành, mặc dù dành cho lục địa nhiều hơn nhiều so với dành cho nước Anh. Chắc chắn quan niệm do Adet – một đặc tình người Pháp phục vụ cho Chế độ Đốc chính (Directoire) tại Hoa Kỳ – đưa ra rằng tất cả người Mỹ đều là “những kẻ thù bẩm sinh của mọi dân tộc châu Âu”, đã và vẫn luôn là một điều sai sự thật. Tuy nhiên, trong cuốn sách của Rahv vẫn có những giọng điệu bất đồng: John Adams, người quá đỗi cứng nhắc, cùng với Jefferson và Mark Twain, những người mang quá đậm chất tỉnh lẻ và quá thiên về bất khả tri (mặc dù mỗi người theo một cách riêng của mình).
Hamilton tin chắc rằng Jefferson, trong thời gian làm công sứ Mỹ tại Paris, đã đóng một vai trò khá tiêu cực. Hamilton nói rằng “Ở Pháp, ông ấy [Jefferson] chỉ nhìn thấy chính quyền từ lăng kính của sự lạm quyền. Ông ấy đã uống no say về triết học Pháp, về tôn giáo, về khoa học, về chính trị. Ông ấy trở về từ Pháp ngay trong khoảnh khắc của sự sục sôi – một tình trạng mà ông ấy có phần kích động, và ông ấy đã chia sẻ những đam mê cũng như cảm xúc của nó dựa trên cả khí chất lẫn hoàn cảnh của mình.”
Người kế nhiệm của Jefferson sau này, Gouverneur Morris, chắc chắn là một mẫu người hoàn toàn khác. Ông đã dành nhiều năm ở Paris và Tây Âu trước khi được bổ nhiệm làm Công sứ Hoa Kỳ tại Pháp. Ông viết trong nhật ký của mình: “Trong bữa tối, tôi ngồi cạnh ngài de Lafayette, người nói với tôi rằng tôi đang làm tổn hại đến đại cục, bởi vì những quan điểm của tôi liên tục được trích dẫn để chống lại phe chính nghĩa (the good party). Tôi chớp lấy cơ hội này để nói với ông ấy rằng tôi phản đối nền dân chủ chính vì sự tôn trọng đối với quyền tự do.”
Thế nhưng, Morris chỉ là một tiếng kêu lạc lõng giữa chốn hoang vu. Với tư cách là một nhà quý tộc Mỹ, ông giao thiệp trong những giới tinh hoa cao nhất của Pháp và cảm thấy ghê tởm trước những quan điểm cánh tả mà ông bắt gặp ở khắp mọi nơi, không chỉ trong giới quý tộc mà còn trong cả giới tu sĩ. Giám mục xứ Arras – người từng nghĩ rằng Morris sẽ rất vui khi nghe Hiến pháp Mỹ được ca ngợi là bản hiến pháp tuyệt vời nhất thế giới – lại nhận ra rằng ông chẳng hề làm Morris hài lòng chút nào, mặc dù Morris đã góp phần chắp bút cho văn kiện này. Thực tế là Morris luôn bị ám ảnh bởi bóng ma của chế độ độc tài ở Mỹ. Những lời ca tụng giới quý tộc của ông không hề làm vừa lòng các vị nữ bá tước và công chúa mang tư tưởng cộng hòa.
Có lẽ Lafayette là người khiến ông bực bội hơn bất kỳ ai khác. Khi nói chuyện với Lafayette, ông “đã chỉ ra đến lần thứ một trăm rằng mỗi quốc gia cần có một hình thức chính quyền của riêng mình, rằng một bản Hiến pháp Mỹ không thể áp dụng cho Pháp và rằng, trên hết, nước Pháp cần sự ổn định. Ông đã đưa ra những lý do cho lời khuyên của mình một cách rõ ràng và đanh thép, nhưng Lafayette tội nghiệp lại chùn bước trước điều đó,và không thể bị thuyết phục để thực hiện bất kỳ bước đi hiệu quả nào.”
Đây cũng chính là Gouverneur Morris, người mà tại một bữa tiệc do ông tổ chức ở New England vào năm 1815 đã thốt lên: “Nỗi thống khổ dai dẳng đã qua. Nhà Bourbon đã được phục hoàng. Nước Pháp đang ngơi nghỉ trong vòng tay của vị quân vương hợp pháp. Giờ đây chúng ta có thể bày tỏ sự gắn bó của mình với nước Pháp một cách tương xứng với lòng tự tôn của chính chúng ta. . . . Tạ ơn Chúa, cuối cùng chúng ta cũng có thể công khai thừa nhận những tình cảm biết ơn đối với gia tộc cao quý đó, mà dưới sự cai quản của họ, các hạm đội và quân đội của Pháp và Tây Ban Nha đã được dàn trận để bảo vệ nền tự do của nước Mỹ…. Nhà Bourbon đã được phục hoàng. Hãy hân hoan, hỡi nước Pháp! Tây Ban Nha! Các bạn đang được cai trị bởi những vị vua hợp pháp của mình! Hỡi châu Âu! Hãy hân hoan!” Người ta có thể tưởng tượng được sự phẫn nộ của phe cánh tả Mỹ thuở sơ khai khi toàn văn bài diễn văn này được công bố.
Thế nhưng, khó có thể phủ nhận rằng có tồn tại một mối liên hệ phái sinh (filiation) mang tính “kỹ thuật” giữa năm 1776 và năm 1789, và chính mối liên hệ “trên thực tế” này đã che đậy một cách hiệu quả sự ngộ nhận đó. Trước hết, người ta phải ghi nhớ rằng năm 1789 không nhất thiết và không tất yếu dẫn đến năm 1792, cũng như không tất yếu dẫn đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa toàn trị ở châu Âu và sau này là ở mọi khu vực khác trên toàn cầu.
Georges Bernanos luôn nhấn mạnh sự khác biệt giữa giai đoạn đầu của Cách mạng Pháp – vốn nhận được sự ủng hộ gần như đồng lòng của giới quý tộc Pháp (và một bộ phận rất lớn giới tu sĩ) – với chế độ khủng bố của tầng lớp trung lưu bậc dưới, mà nối tiếp sau đó là một phong trào vô sản – nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của Gracchus Babeuf. Nói cách khác, đặc tính quý tộc của Cách mạng Mỹ và của giai đoạn đầu Cách mạng Pháp là rất giống nhau. Nhưng ở cuộc cách mạng sau, ngay từ đầu, chúng ta đã chứng kiến sự cộng tác và can thiệp tích cực của những đám đông khát máu – những kẻ ngày càng gia tăng sức mạnh và sự hung hãn cho đến tận khi chế độ Robespierre sụp đổ.
Giới quý tộc, như de Tocqueville đã chỉ ra, luôn nuôi dưỡng những bất bình cũ của họ đối với mọi hình thức chuyên chế của vương quyền, và chính giới quý tộc mới thực sự là những người thúc đẩy vấn đề này bằng cách khăng khăng đòi Nhà vua phải triệu tập Hội nghị Đẳng cấp (Estates General). Tầng lớp quý tộc áo chùng (noblesse de la robe / quý tộc pháp quan) đã đi tiên phong trong phong trào đó. Nhà sử học A. Mathiez đã tạo ra cụm từ révolte nobiliaire (cuộc nổi loạn của giới quý tộc), và diễn tiến này đơn thuần chỉ cho thấy sự nguy hiểm đến nhường nào khi can thiệp một cách triệt để vào một cấu trúc chính trị trong một thời kỳ chuyển tiếp, khi mà sự thịnh vượng đang gia tăng đáng kể, và khi một kỷ nguyên của các cuộc cải cách đã được khởi xướng.
Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng quý tộc cũ là chống lại quân vương theo đúng phong cách điển hình nhất của phái Whig, đương nhiên còn có những yếu tố nội tại khác đang hoạt động. Một trong số đó là mối hận thù xa xưa của phái Jansenist đối với Vương quyền, điều mà giờ đây lại một lần nữa cho thấy sự hiện diện của nó qua nhiều hình thức khác nhau. Giám mục Henri Grégoire thuộc về phe phái đó:ông đứng đầu nhóm tu sĩ phái Lập hiến (Constitutionalist priests – những người đang trong một cuộc ly giáo thực sự với Rome) và, trước khi qua đời vào năm 1831, đã nhận được lễ xá tội từ một linh mục phái Jansenist. Ông đã đóng một vai trò nổi bật trong suốt cuộc Cách mạng, đã bỏ phiếu chống lại chế độ quân chủ (“trong trật tự chính trị, các nhà vua cũng giống như những con quái vật trong trật tự tự nhiên”) và là một trong những người đầu tiên trong Quốc dân Đại hội (National Convention) đòi đưa Nhà vua ra xét xử.
Lực lượng đối lập tôn giáo khác đến từ phái Huguenot, những người cũng không khoan nhượng khơn Edmund Burke, một tín đồ Anh giáo thuộc về một đức tin không khác biệt mấy so với họ, đã phải thừa nhận rằng: “Tôi rất tiếc phải nói rằng họ đã hành xử một cách đáng kinh tởm kể từ ngay lúc khởi đầu của cuộc nổi loạn, và đã liên lụy một cách đồng loạt vào những hành vi tồi tệ và tàn bạo nhất của nó. Giới tu sĩ của họ cũng đều là những kẻ vô thần giống như những người Công giáo phái Lập hiến kia, nhưng thậm chí còn thâm độc và táo tợn hơn. Ba người trong số họ đã nhận được từ những cộng sự theo chủ nghĩa cộng hòa của mình phần thưởng [sự trừng phạt] đích đáng cho tội ác mà họ gây ra.”
Thái độ này của những người nổi dậy có thể hiểu được nếu xét đến sự bất dung tôn giáo của các vị vua Pháp trong quá khứ. Tuy nhiên, Brienne, giám mục xứ Toulouse, đã đề xuất việc giải phóng cho những người theo phái Calvin vào năm 1787, và đến năm 1788, sự giải phóng đó đã trở thành hiện thực. Bản thân André Siegfried, một người Tin Lành, đã phải thú nhận rằng người Tin Lành Pháp ngay cả ngày nay “về bản chất, gần như tất yếu phải là một người ủng hộ Cách mạng Pháp, hay nói cách khác, người đó bẩm sinh đã là kẻ thù của Chế độ Cũ (Ancien Régime) và của bất cứ thứ gì có thể bị gán mác là ‘phản động’.”
Chủ tịch Quốc hội Lập hiến (Constitutional Assembly), Jean Paul Rabaut St. Étienne, là con trai của một mục sư Giáo hội Cải cách lỗi lạc và, do thuộc về phái Girondins ôn hòa hơn, đã phải chịu một số phận bi đát. Tuy nhiên, trong tâm thức đại chúng, những người phái Huguenot đã trở nên đồng nhất với việc ủng hộ Cách mạng Pháp (và không phải là không có nguyên cớ, như chúng ta đã thấy) đến mức sau thời kỳ Phục hoàng, các cuộc bạo động chống phái Huguenot đã nổ ra, đáng chú ý nhất là cái gọi là “những cuộc thảm sát ở Nîmes” (massacres de Nîmes – một sự đáp trả đối với “những cuộc ẩu đả ở Nîmes” [bagarres de Nîmes]).
Trong số những “ảnh hưởng” từ bên ngoài (chủ yếu là sự “diễn dịch sai lệch” về các quốc gia ngoại quốc và thể chế của họ), chúng ta một lần nữa nên nhắc đến “hình tượng” của Thụy Sĩ và nước Anh. Voltaire thực sự đã bị nước Anh mê hoặc, và chúng ta phải nhìn nhận ông như là người đi tiên phong cho hội chứng cuồng nước Anh (Anglomania) tại Pháp. Metternich luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng việc sao chép nước Anh chính là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của nước Pháp, nếu không muốn nói là của toàn bộ Lục địa; đồng thời ông cũng tin chắc rằng nước Anh cuối cùng sẽ bị hủy hoại do bắt chước các khuôn mẫu của Pháp, do khuất phục trước “trường phái Pháp” (école française).
Trong một bản giác thư bí mật gửi Sa hoàng Alexander I, được viết vào khoảng tháng 12 năm 1820, Metternich viết: “Khó có thể bỏ qua được ảnh hưởng mà nước Anh từ lâu đã áp đặt lên nước Pháp. Tuy nhiên, nước Anh ở trong một hoàn cảnh độc nhất vô nhị đến mức chúng ta có thể khẳng định không ngoa rằng không một hình thái nào phù hợp với Quốc gia đó, không một thói quen hay thể chế nào của nó có thể được áp dụng bởi bất kỳ quốc gia nào trên Lục địa, và khi những thứ này thực sự được lấy làm hình mẫu, kết quả mang lại không gì khác ngoài những rắc rối và hiểm nguy mà chẳng kèm theo bất cứ lợi ích nào.”
Alfred Müller-Armack cũng nhận thấy ảnh hưởng mang tính quyết định sâu sắc này của nước Anh đối với hệ tư tưởng của Cách mạng Pháp. Charles Seignobos thì quả quyết rằng một phiên bản tiền thân phác thảo của Tuyên ngôn Nhân quyền (Déclaration des Droits de l’Homme) đã được đại tá người Anh Sexby trình bày cho những công dân nổi dậy ở Bordeaux. Bản phác thảo này vốn là lời tựa của một dự thảo hiến pháp do Quân đội Anh đệ trình lên Nghị viện vào năm 1648.
Những hình mẫu của Anh và Thụy Sĩ, không cần phải nói thêm, đã phát huy hiệu quả nhờ vào sự nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân ở hai quốc gia này và nhờ vào sự sung túc về kinh tế của các tầng lớp thượng lưu tương ứng. (Sự thịnh vượng chung của Thụy Sĩ là sản phẩm của một thời kỳ muộn hơn nhiều.) Việc di cư và phục vụ trong quân đội ở các quốc gia ngoại quốc là những đặc điểm tiêu biểu của nền kinh tế Thụy Sĩ cho đến tận đầu thế kỷ mười chín. Tuy nhiên, các “Danh gia vọng tộc” [Patricians] thì luôn luôn sống trong sự vô cùng sung túc)
Hình mẫu của Mỹ, do khoảng cách xa xôi so với các hình mẫu của Anh và Thụy Sĩ, ít mang tính cụ thể hơn nhưng lại được bao phủ bởi một vầng hào quang đậm chất lãng mạn. Ban đầu là những tình nguyện viên người Pháp, những người đã đến Mỹ trước khi xảy ra sự đoạn tuyệt giữa Paris và London. Sau đó, những quân nhân chính quy đã chiến đấu kề vai sát cánh cùng người Mỹ. Cuối cùng, có một bầu không khí mang đậm chất Rousseau (Roussellian aura) xoay quanh nước Mỹ: những khu rừng nguyên sinh, những kẻ man dã cao quý (noble savages), những con người tự do, những cuộc đời giản dị, những căn nhà gỗ, những trang viên, và những tòa thị chính theo phong cách Hy Lạp. Những người Mỹ ở Paris – Jefferson, Benjamin Franklin, Silas Deane – đã kích thích trí tưởng tượng của người Pháp đến mức khó tin.
Tuy nhiên, trong việc ngây thơ và vô tình làm cha đỡ đầu cho Cách mạng Pháp, những người Mỹ này có lẽ lại đóng vai trò ít hơn so với những người Pháp – các tình nguyện viên và sĩ quan chính quy – những người đã từng chiến đấu ở Tân Thế giới và trở về nhà với tư tưởng thấm nhuần những khái niệm mà họ đã nhặt nhạnh ngẫu nhiên và chưa kịp tiêu hóa kỹ lưỡng. Bản thân tôi đã phải mất nhiều năm ở Hoa Kỳ mới có thể hiểu được điều gì làm cho quốc gia đó “vận hành” (tick), ý nghĩa sâu xa của một số từ ngữ nhất định là gì, tâm trí và tư tưởng của cả những người Mỹ bình thường lẫn những người xuất chúng ra sao. Sự nhầm lẫn giữa những người Pháp (và các tình nguyện viên khác) hẳn phải rất đáng kể trên nhiều phương diện.
Bằng chứng về sự ngộ nhận này – thứ mà rất nhiều người Pháp đã sa vào và đã góp phần châm ngòi cho cuộc Cách mạng Pháp – được dẫn chứng bằng tài liệu trong một số tác phẩm. Trong số này, tôi chỉ muốn đề cập đến các bài viết của Lafayette, của Bá tước Louis Philippe de Ségur, của phu nhân de Staël, của phu nhân Campan, của Lamartine, của Taine, của Chateaubriand và nhiều người khác.
Về sau, Lãnh chúa Acton, Alexis de Tocqueville, Philippe Sagnac, Georg Jellinek, và Felix Somary đã nhấn mạnh đến những gốc rễ từ nước Mỹ của cuộc Cách mạng Pháp, nhưng đồng thời cũng quả quyết rằng những tư tưởng thịnh hành ở Mỹ vào thời điểm diễn ra cuộc Chiến tranh Giành Độc lập đã bị người Pháp diễn dịch sai lầm một cách thô bạo: Chúng đã khoác lên mình một ý nghĩa mới và, khi được cấy ghép vào mảnh đất Pháp, đã nhanh chóng suy đồi.
Hamilton tin chắc rằng Jefferson không hề vô tội liên quan đến diễn tiến ở Pháp sau năm 1789 (tr. 73), và John Adams thì bị dằn dằn bởi suy nghĩ rằng Hoa Kỳ và chính bản thân ông phải gánh chịu một phần trách nhiệm lớn đối với những nỗi kinh hoàng theo sau sự kiện đánh chiếm đồn Bastille. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ đã viết cho Tiến sĩ Benjamin Rush trong một bức thư ngày 28 tháng 8 năm 1811: “Có phải cả đời tôi đã chỉ làm những chuyện gây hại? Chẳng phải cuộc Cách mạng Mỹ đã mang lại tất cả những tai ương và sự hoang tàn cho nhân loại và cho toàn bộ quả địa cầu kể từ thời điểm đó sao? Dẫu vậy, tôi đã có ý định tốt. Lương tâm tôi trong sạch như pha lê, không chút đắn đo hay nghi ngại. Tôi được thúc đẩy bởi một ý thức trách nhiệm không thể cưỡng lại. Chúa đã làm cho công sức của chúng ta đơm hoa kết trái, và dẫu cho những hậu quả có đáng sợ, kinh hãi và thảm thương đến đâu, tôi vẫn không thể không hy vọng rằng lợi ích tối cao của thế giới, của nhân loại và của đất nước yêu dấu của chúng ta là điều được định sẵn và sẽ đạt được nhờ vào cuộc cách mạng đó.”
Thế nhưng, cho đến nay, lợi ích tối cao đó vẫn chưa đạt được, và chính Adams cũng biết rằng vị độc tài được trao vương quyền nối tiếp cuộc Cách mạng Pháp chính là sản phẩm của cuộc cách mạng ấy. “Napoleon và tất cả các tướng lĩnh của ông ta chẳng qua chỉ là những sinh thể của nền dân chủ,” ông đã viết cho John Taylor xứ Caroline, Virginia. Tuy nhiên, những người khác phải chịu trách nhiệm lớn hơn rất nhiều so với John Adams trong việc thúc đẩy các tư tưởng của Cách mạng Pháp, chẳng hạn như Thomas Paine – một người mang hai quốc tịch Anh-Mỹ, người mà rất lâu sau đó đã trở thành người hùng của nhà soạn kịch Đức Quốc xã Johst. Những kẻ Đức Quốc xã khác, chẳng hạn như một Tiến sĩ Friedrich Schönemann nào đó, đã ca ngợi Jefferson và nguyền rủa Hamilton, khi nhìn thấy ở Jefferson một người tiền nhiệm của sự tiến hóa lịch sử dẫn đến chiến thắng của “Con người Bình thường” (Common Man) – và của Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia Đức. Các tác giả châu Âu trước đó khi viết về Hoa Kỳ đã tán dương George Washington và Alexander Hamilton, đồng thời chỉ trích Jefferson cũng như, về sau này, Đảng Dân chủ Mỹ – lực lượng mà họ coi là kẻ tiếp tay cho “đảng cách mạng” ở châu Âu. Chắc chắn rằng dù là khi đó hay hiện tại, chỉ có một số ít người nhận ra Hoa Kỳ đúng với bản chất thực sự của nó, và về mặt khí chất, vẫn đang là một quốc gia quý tộc (aristocratic state).
Charles-Armand Tuffin, Hầu tước de la Rouërie, là một người Pháp đã tham gia vào cuộc Chiến tranh Giành Độc lập và là người đã nhận thức rõ ràng sự khác biệt giữa cuộc đấu tranh cao quý đó với cuộc Cách mạng Pháp; ông là một người đáng lẽ phải được người Mỹ biết đến nhiều hơn so với một Lafayette vô cùng phù phiếm và mang tham vọng đến mức bệnh lý; một người lẽ ra phải truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ Mỹ, trẻ Pháp, và những người yêu tự do ở khắp mọi nơi, cũng như những người bảo vệ mọi giá trị nhân bản. Ông đến Mỹ trước Lafayette, rời đi sau Lafayette, và đã chiến đấu dũng cảm cho tự do và chống lại nền dân chủ. Không một đài tưởng niệm, không một tên đường, không một con tem, hay bất kỳ công trình tưởng niệm nào ghi nhớ tên tuổi hay chiến công của ông có thể được tìm thấy tại Hoa Kỳ. Cuộc đời của ông được mô tả tóm tắt trong phần Phụ lục (xem các trang 435-443).
Vị quý tộc này khác biệt hoàn toàn so với những nhà quý tộc khác – những người, theo cách riêng của mình, đã đóng góp vào cuộc Cách mạng Pháp. Chúng ta đã nhắc đến Lafayette, nhân vật vẫn còn rất nổi tiếng ở Mỹ, và chúng ta cũng đã đề cập đến Maximilien de Robespierre. Nhưng trên hết, chúng ta nên thảo luận về “người ông của nền dân chủ hiện đại”, Bá tước de Sade, đôi khi được gọi là “Vị Hầu tước Thần thánh” (the Divine Marquis). Ông được biết đến nhiều hơn bởi những lệch lạc tình dục so với triết học của mình – chứng bạo dâm (sadism) được đặt theo tên ông – nhưng tầm quan trọng thực sự của ông lại nằm trong lĩnh vực chính trị, qua một sự can thiệp mang tính lịch sử và, sau đó, qua sự lan truyền các tư tưởng chính trị của ông.
Việc nghiên cứu về de Sade chỉ bắt đầu một cách chậm chạp vào nửa thế kỷ trước: Những nỗ lực nghiêm túc đầu tiên được thực hiện bởi Tiến sĩ Eugen Dühren (bút danh của Iwan Bloch), tuy nhiên, người này chỉ quan tâm đến Sade dưới góc độ bệnh lý học tình dục (sexual pathology). Sau Thế chiến I, Maurice Heine, vốn dĩ là một đảng viên của Đảng Xã hội Pháp – đảng mà, giống như ở Nga, đã trải qua một sự phân liệt sâu sắc và tách ra thành những người Xã hội chủ nghĩa kiểu cũ và những người Cộng sản. Heine đã gia nhập nhóm cấp tiến và sớm trở thành biên tập viên của tờ L’Humanité, nhật báo của Đảng Cộng sản. Ông đã mắc phải một sai lầm không hiếm gặp ở các quốc gia Latinh: ông nhầm lẫn chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa phóng túng vô chính phủ (anarchical libertinism). Theo chỉ thị từ Moscow, ông bị tờ báo của mình sa thải vào năm 1922 và năm sau đó bị trục xuất khỏi Đảng, tức Đảng Cộng sản Pháp (P.C.F.). Sau đó, ông tập trung phần lớn vào de Sade và chứng bạo dâm và dần trở nên ngưỡng mộ de Sade như một tinh thần hoàn toàn tự do, không bị trói buộc và mang đậm tính ác quỷ (diabolical).
Những sự kiện của Thế chiến II đã làm gia tăng sự quan tâm của công chúng đối với de Sade, người nổi lên từ một số bài tiểu luận như một “kẻ giống như bạn và tôi”. Có thể tham khảo cuốn sách của M. Pierre Klossowski, với nhan đề đầy ẩn ý Sade, notre prochain (Sade, đồng loại của chúng ta). Một ấn bản lưu hành nội bộ về các tuyển tập tác phẩm của de Sade đã được xuất bản, cũng như một cuốn tiểu sử nghiêm túc nhưng, theo ý kiến của tôi, vẫn chưa mang tính đúc kết cuối cùng (definitive), do Gilbert Lely chắp bút.
Nhìn chung, những tội ác của Vị Hầu tước Thần thánh đã bị phóng đại: Các hành vi của ông không quá nhiều cũng không quá tàn bạo như lời đồn, bởi lẽ ông đã dành phần lớn thời gian của mình trong các nhà tù và bệnh viện dành cho những tội phạm tâm thần. Tuy nhiên, ông không hề mắc bệnh tâm thần. Là một kẻ vô thần cuồng tín và kiên định, ông hành động ít nhiều phù hợp với những quan điểm của mình, và bên cạnh sự trợ giúp của các nhà thần học và triết gia lão luyện, ông có lẽ cần đến sự quan tâm của một bác sĩ tâm thần có năng lực. Dẫu vậy, ông không phải là một người tâm thần phân liệt, cũng không phải là một kẻ hoang tưởng, và ông hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hành động của mình.
Điều chưa được thực hiện cho đến nay là việc hệ thống hóa tư tưởng triết học và chính trị của ông, vốn chỉ có thể được tìm thấy trong một vài cuốn sách mỏng và các bài tiểu luận nhỏ, trong khi phần lớn lại nằm rải rác trong các tác phẩm khiêu dâm của ông. Người ta sẽ phải lội qua cả một đại dương tục tĩu (có lẽ sẽ gây sốc lúc ban đầu, nhưng về lâu dài chỉ mang lại sự mệt mỏi) để có được một tổng thể mạch lạc. Theo như những gì người ta có thể thấy mà không cần phải thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn này, chúng ta có ở đây một hệ thống tư tưởng thực sự đang chờ được diễn giải. Có cả phương pháp và logic ở con người này. Sách của ông được đọc rộng rãi nhưng, đương nhiên, hiếm khi được trích dẫn vì ngay cả vào cuối thế kỷ mười tám, chúng còn lâu mới được coi là đàng hoàng. Và chính vì đây là những cuốn sách mà người ta không muốn khoe khoang là mình biết, nên sẽ luôn rất khó để chứng minh một cách rõ ràng sự ảnh hưởng của chúng vào thời điểm xuất bản – và sau đó – lớn đến mức nào. Người ta sẽ phải tìm kiếm sự phản chiếu gián tiếp của chúng trong lời nói, bài viết và hành động của những người khác.
Rất có thể hệ tư tưởng – triết học của de Sade là hệ quả của những khuynh hướng và sự lệch lạc của ông – chứ không phải ngược lại. Hoàn toàn có khả năng là tất cả chúng ta đều có những ham muốn bạo dâm, nhưng ở những người bình thường, mức độ trung bình, chúng chỉ tồn tại trong những giới hạn nhất định. Có thể lập luận rằng de Sade trong khía cạnh này không phải là một ngoại lệ, nhưng vì có thể biện minh cho việc nhượng bộ những bản năng này, ông cuối cùng đã trở thành nô lệ của chúng. Chúng chắc chắn thống trị trí tưởng tượng, những giấc mộng giữa ban ngày, các bài viết và toàn bộ trí tuệ của ông.
Donatien Alphonse François, Bá tước de Sade, sinh ngày 2 tháng 6 năm 1740 tại Paris, là hậu duệ của một gia tộc cổ xưa ở vùng Provence, miền nam nước Pháp. Ông phục vụ trong quân đội và vào năm 1763 kết hôn với tiểu thư de Montreuil, người có gia đình giàu có thuộc tầng lớp quý tộc pháp lý (noblesse de la robe). Vài tháng sau đám cưới, ông đã tham gia vào việc tra tấn bạo dâm một cô gái điếm và hậu quả là bị phạt tù mười lăm ngày. Một vụ việc tương tự nhưng nghiêm trọng hơn đã xảy ra vào năm 1768 khi ông đánh đập tàn nhẫn một cô gái và một lần nữa bị tống vào tù. Sau khi được thả, ông đã tham gia vào một bữa tiệc thác loạn trong một nhà chứa ở Marseille, dẫn đến một bản án nghiêm khắc hơn vào năm 1772. Bị giam cầm ở Miolans, ông đã trốn thoát thành công nhưng lại bị bắt ở Paris vào năm 1777 và bị đưa trở lại miền Nam nước Pháp, nơi, nhờ một cuộc vượt ngục khác, ông đã tận hưởng ba mươi chín ngày tự do. Bị bắt một lần nữa, ông trải qua 5 năm rưỡi ở Vincennes, tiếp theo là 5 năm rưỡi ở ngục Bastille, và sau đó là một năm tại bệnh viện dành cho tội phạm tâm thần ở Charenton. Khoảng thời gian bị giam cầm dài đằng đẵng này không phải do một bản án tù, mà là do một lệnh bắt giữ vô cớ của Nhà vua (lettre de cachet), được ban hành theo yêu cầu của mẹ vợ de Sade, Bà Chủ tịch de Montreuil (Présidente de Montreuil).
Khi chính phủ quyết định giải thể khu giam giữ của pháo đài Vincennes, de Sade được chuyển đến Bastille, nơi cũng chịu chung số phận “bị xóa bỏ” trong năm cải cách 1788. Chính phủ muốn san bằng nhà tù nhà nước này và bán khu đất đó để phát triển bất động sản. Lịch sử chỉ đẩy nhanh các sự kiện. Trong thời gian bị giam giữ, de Sade đã miệt mài viết lách, thể hiện các quan điểm phóng túng, vô thần, duy vật và cánh tả của mình. Biết được sự bất ổn ở Paris, ông bắt đầu diễn thuyết khích động người dân từ cửa sổ của mình, nói rằng các tù nhân đang bị tra tấn và ám sát trong các hầm ngục tăm tối của Bastille. Ông đã dùng một cái phễu để làm cho giọng nói của mình to hơn. Chúng ta có một bức thư của M. de Launay, Thống đốc nhà tù, gửi cho M. de Villedeuil, Bộ trưởng Bộ Nhà nước, ngày 2 tháng 7 năm 1789, trong đó vị thống đốc nhấn mạnh rằng trong hoàn cảnh đó, tù nhân của ông nên được chuyển đến bệnh viện dành cho tội phạm tâm thần ở Charenton. Trên thực tế, sau khi tù nhân này lặp lại hành vi của mình vào ngày 3 tháng 7, cuộc chuyển giao đối với ông đã được thực hiện vào sáng ngày 4 tháng 7. Tư liệu liên quan đến những lời kêu gọi ồn ào của de Sade khá đầy đủ, và khi ông bị bắt muộn hơn nhiều vào thời kỳ đỉnh điểm của Thời kỳ Khủng bố, ông đã khoe khoang về đóng góp của mình vào sự sụp đổ của ngục Bastille. Ông nói về “sự nhiệt thành mà tôi đã kêu gọi nhân dân vào ngày ba tháng Bảy phá hủy ngục Bastille nơi những kẻ bạo chúa giam giữ tôi: do đó tôi sở hữu một hồ sơ công dân rực rỡ nhất mà một người theo chủ nghĩa cộng hòa có thể tự hào.”
Vậy de Sade có thực sự là thủ phạm chính trong vụ việc dơ bẩn này? Rất có thể ông chính là thủ phạm, bởi vì việc phá hủy nhà ngục Bastille sắp tới vốn đã được nhiều người biết đến và các tù nhân chính trị hiếm khi, hoặc chưa bao giờ, bị giam giữ đằng sau những bức tường của nó.
Thống đốc nhà ngục Bastille, M. de Launay, một người theo chủ nghĩa tự do khai sáng, chỉ có trong tay một lực lượng đồn trú nhỏ gồm những binh sĩ Thụy Sĩ và một số thương bệnh binh khi đám đông cuối cùng tụ tập quanh tòa nhà vào ngày 14 tháng 7: ông chỉ đưa ra sự kháng cự mang tính chiếu lệ. Các đại biểu của Tòa Thị chính và hai đại diện do đám đông chỉ định đã được đón tiếp và được mời ăn cùng bữa với vị thống đốc. Trong khi đó, cầu cất của sân ngoài đã được hạ xuống và súng được chĩa vào sân trong. Các binh sĩ, nhận thấy rằng họ không có một người chỉ huy nào sẵn sàng chịu trách nhiệm, đã ra hàng. Vị thống đốc đã bị giết sau khi bị tra tấn tàn bạo. Ông đã cầu xin những kẻ quái vật đó kết liễu đời mình, và cuối cùng, khi ông nhận được nhát dao kết liễu, một đầu bếp trẻ “người biết cách xử lý thịt” đã cắt đầu ông bằng một con dao bếp nhỏ. Đầu của ông được diễu hành quanh vùng trong sự ăn mừng chiến thắng cho đến tận những giờ muộn của buổi tối. Ba trong số các sĩ quan cũng bị sát hại một cách dã man và hai thương binh từng chiến đấu anh hùng cho nước Pháp đã bị đám đông gầm hú treo cổ. Họ còn chặt tay của một lính gác Thụy Sĩ. Sự bất ngờ xảy ra khi những “kẻ chiến thắng” chỉ tìm thấy duy nhất bảy tù nhân. Bốn người là những kẻ làm giả giấy tờ đã nhanh chóng tẩu thoát, hai người bị tâm thần (họ ở đó chỉ để theo dõi), và một người là thanh niên ăn chơi đàng điếm thuộc dòng dõi quý tộc, kẻ tự coi mình là anh hùng thực sự của ngày hôm đó: hắn diễn thuyết trước nhân dân bằng những cụm từ mang tính cách mạng. Tóm lại, đây là một màn trình diễn kinh tởm và nhục nhã, chắc chắn không hề thích hợp để làm nền tảng cho một ngày lễ quốc gia – và được truyền cảm hứng theo mọi cách bởi “Vị Hầu tước Thần thánh”.
Chương 8: Từ Dân chủ tới Chủ nghĩa xã hội lãng mạn
Chương 8 khám phá tiến trình phát triển của các tư tưởng cộng sản và xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ những hình mẫu cổ điển như tác phẩm Utopia của Thánh Thomas More. Cuốn sách này phác họa một xã hội do nhà nước kiểm soát chặt chẽ, không có tài sản tư hữu và thiếu vắng các nhân đức đối thần, qua đó mang ý nghĩa châm ngầm đối với các quốc gia Kitô giáo đương thời. Tác giả lập luận rằng những ý tưởng cốt lõi của trật tự cộng sản như sự bình đẳng, lao động chung và việc xóa bỏ tư hữu thực chất bắt nguồn từ cấu trúc và lối sống tu viện. Mặc dù mục đích nguyên thủy của tu viện là sự hiến tế tâm linh tự nguyện, nhưng đặc tính tập thể, kỷ luật khắt khe và sự bảo đảm vật chất của chúng đã vô tình trở thành nguyên mẫu cho các định chế thế tục sau này như nhà tù, doanh trại và nhà máy. Quá trình cải cách tôn giáo, đặc biệt dưới thời Calvin tại Geneva, đã thiết lập nên những cộng đồng kỷ luật và mang tính toàn trị, dọn đường cho tư tưởng bình đẳng và cộng sản phát triển mạnh mẽ ở nhiều khu vực sau đó. Khi các tu viện bị phá bỏ trong các cuộc cách mạng lớn như ở Pháp hay Nga, bản năng tìm kiếm sự an toàn của con người đã chuyển hóa thành chủ nghĩa tu viện thế tục, với hình thái cực đoan nhất chính là chủ nghĩa cộng sản.
Sự hình thành của các học thuyết xã hội chủ nghĩa thời kỳ đầu gắn liền với nhiều nhân vật có tư duy lập dị và cấp tiến. Tomaso Campanella trong tác phẩm “Thành phố Mặt trời” đã đề xuất một xã hội do giới tinh hoa lãnh đạo, loại bỏ tư hữu và xóa bỏ hôn nhân truyền thống. Tiếp nối tư tưởng đó, Morelly qua cuốn “Bộ luật của Tự nhiên” đã vạch ra một mô hình nhà nước bao cấp toàn diện, nghiêm cấm mọi giao thương tư nhân và giam giữ chung thân những kẻ dám chống lại quy định này. Bước sang thế kỷ mười chín, Henri de Saint-Simon hướng sự chú ý đến sự khốn khổ của tầng lớp vô sản công nghiệp, đề xuất một tôn giáo xã hội mới. Tuy nhiên, lý tưởng của ông đã bị những người kế thừa như Enfantin bóp méo thành một phong trào cực đoan cổ xúy việc phá bỏ thiết chế gia đình và giải phóng tình dục.
Bên cạnh đó, các hệ tư tưởng này cũng vay mượn và làm biến tướng các giá trị cốt lõi của Kitô giáo như lòng bác ái và tình huynh đệ. Tác giả phản bác mạnh mẽ quan niệm sai lầm cho rằng Đấng Christ và các tín đồ Kitô giáo sơ khởi xuất thân từ tầng lớp vô sản bần cùng, đồng thời chỉ ra qua phân tích lịch sử rằng gia đình Đấng Christ có địa vị cao và nhiều giáo phụ là những trí thức lớn trong Đế quốc La Mã. Tiến trình này đạt đến đỉnh cao kỳ quặc trong các thiết kế xã hội của Charles Fourier, người đã vạch ra các cộng đồng không tưởng gọi là phalanstères với lịch trình sinh hoạt, lao động và khoái lạc được quy định chi tiết đến mức hoang tưởng, kết hợp cùng những thuyết vũ trụ học phi lý. Dù mang nặng tính bất ổn tâm lý, học thuyết của Fourier vẫn tạo ra ảnh hưởng sâu rộng đến giới trí thức cánh tả Mỹ thông qua Nông trang Brook, đồng thời để lại dấu ấn đậm nét trong tư duy của các nhà cách mạng Nga, những bậc tiền bối của chủ nghĩa Bolshevik.