Mục lục
Hương vị Tết xưa trong tác phẩm của nhà nghiên cứu Toan Ánh
Bài viết dựng lại Tết cổ truyền Việt Nam qua các công trình biên khảo của Toan Ánh.
Ông nói ông đã trải qua chín mươi cái Tết và dành cả đời để ghi chép phong tục nước nhà.
Bài báo cũng ghi lại mối lo của ông trước tốc độ biến đổi của tập quán ngày Tết.
Nhân Dân
07/02/2005
Nhà nghiên cứu Toan Ánh nổi tiếng với những công trình: Nếp cũ (13 tập), Phong tục Việt Nam, Văn liệu và phong tục từ điển, Câu ca dao Việt Nam, Thú vui tao nhã, Việt Nam chí lược, Trong lũy tre xanh, Hồn muôn năm cũ…
“Ngày Tết ở ta thật là đặc sắc. Có câu rằng, “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh…”, những món làm cho ngày Tết nhiều thú vị và ý nghĩa. Nhưng tùy thời, tùy lúc mà người ta tổ chức cái Tết sao cho hợp lòng người, hợp hoàn cảnh. Nay ta không đốt pháo, ít dựng nêu, dán câu đối, nhưng vẫn không thể thiếu bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành. Nhất là, tục thờ cúng tổ tiên, nếu không rảnh rang làm hằng ngày, thì chí ít là trong những ngày Tết nhà nào cũng coi trọng lắm.
Tôi nhớ ông Phan Kế Bính đã viết: “Xét cái tục phụng sự Tổ tiên của ta là rất thành kính, ắt cũng là một lòng bất vong bản, ấy là nghĩa cử của con người. Cây có gốc mới nở nhành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu…”.
Ngày xưa mỗi khi giáp Tết, con cháu làm ăn xa xôi, cách trở phương trời đến mấy cũng gắng thu xếp về sum họp cùng gia đình. Bởi dịp này là dịp gặp gỡ ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng ruột thịt. Ðể chờ đến giao thừa, mỗi người thắp một nén nhang trước bàn thờ gia tiên, nhờ người xưa phù độ hộ trì. Nói chung, không khí đêm giao thừa trong lòng người Việt chúng ta là thiêng liêng lắm. Người sống và người đã khuất trong thời khắc ấy hình như có một cuộc gặp gỡ trong cõi vô hình, điều này khó có ai giải thích nổi.
Khi xưa, trước Tết Nguyên đán khoảng một tuần, người ta đã bắt đầu cho trồng cây nêu ngay trước cửa nhà. Nêu có một lá cờ đuôi nheo nhỏ, tục gọi là để cho người đã khuất, dù ở phương trời nào cũng nhìn thấy mà hướng về nhà mình.
Các bà nội trợ thì thường sửa soạn gói bánh chưng, bánh tét với thịt mỡ, lo chuẩn bị dưa hành, củ kiệu, bánh trái… Riêng các cụ ông thì sửa soạn bàn thờ gia tiên và nhất nhất phải có một đôi câu đối đỏ.
Tết Nguyên đán được xem là tiết lễ đầu tiên của năm mới, bắt đầu từ lúc giao thừa với lễ “trừ tịch”. Lễ “trừ tịch” thường được tiến hành giữa giờ Hợi của ngày 30 hay nếu vào tháng thiếu thì vào ngày 29 tháng Chạp, và giờ Tý của ngày mồng 1 tháng Giêng năm mới.
Cũng trong ngày xuân, người Việt chúng ta và một số dân tộc phương Ðông khác còn có tục khai bút đầu xuân khá thi vị. Có những người già, người trung niên khai bút và học sinh cũng khai bút đầu xuân để mong “học hành tấn tới, thi đỗ có phần”.
Ðáng chú ý nhất vẫn là vào sáng mồng một Tết, người ta thường chọn giờ và hướng xuất hành, đi lễ chùa, hái lộc (tức là đi xin cành lộc ở đình, chùa rồi mang về cắm ở bàn thờ tổ tiên), sau đó lại mời người có “vía tốt” đến xông nhà (thường là mời từ trước). “Vía tốt” ở đây được hiểu là con người có đức độ, được mọi người vị nể, làm ăn phát đạt, gia đình đầm ấm hạnh phúc. Nhưng cũng có gia đình, người nhà xông đất lấy.
Cũng còn có những phong tục hay, lạ nữa, tuy nhiên hơi rườm rà mà ngày nay không còn mấy phù hợp, như lễ động thổ, khai hạ, hạ điền, thượng điền, du xuân, khai âm…
Thời trước nói chung, người dân Việt Nam ta ở nhà suốt trong cả một năm làm lụng vất vả, bươn chải để kiếm sống. Những người tha phương ở xa cũng vậy, do đó mà vào ba ngày Tết nhất, các cụ thường đặt ra nhiều trò vui, đủ cho mọi lứa tuổi, mọi giới. Vả chăng trong thời khắc này, lòng dạ ai nấy đều vui vẻ, mọi chuyện buồn phiền lo toan của đời thường tạm gạt sang một bên để mọi người cùng hướng niềm vui đón xuân về, Tết đến sao cho thật trọn vẹn.
Người ta thường “mở hàng” cho nhau bằng tiền mừng tuổi (còn gọi là lì xì), sau đó là cùng chơi câu đối, chơi tranh Tết, nhất là loại tranh Ðông Hồ, chơi hoa, cây cảnh, trà đạo…
Ðó là những phong tục Tết Việt Nam xưa, còn tồn tại và biến thể thành nhiều thú vui chơi xuân của dân ta bây giờ như các hội hoa xuân, thi cây cảnh, chim muông, hòn non bộ.
Tôi đã được ăn 90 cái Tết Việt Nam, suốt đời cứ say sưa cặm cụi biên khảo phong tục nước nhà, cuối đời toàn bộ tác phẩm của mình được NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh ký hợp đồng nhượng quyền có thời hạn để họ độc quyền xuất bản trên toàn quốc Toan Ánh toàn tập gồm 124 tác phẩm đã in và chưa in, trong thời hạn 10 năm, kể từ tháng 5-2004.
Còn điều tôi cảm thấy băn khoăn nhất là xã hội Việt Nam chúng ta hình như đang trong quá trình thay đổi quá nhanh, nhiều nét đẹp truyền thống mai một, trong khi đó lại du nhập nhiều thói quen sinh hoạt theo ngoại quốc, nhưng lại không chắt lọc những cái tốt – nhất là lớp trẻ – lại cứ thu nhận cho mình cả những điều không phù hợp, có khi cả điều xấu.
THÓI XẤU HAY PHONG TỤC CỦA NGƯỜI VIỆT..
“Dâu tây” nhận xét
Tôi là một cô gái đến từ nước Úc. Vì yêu chồng là người Việt Nam nên tôi theo anh về đây “làm dâu”, mọi người gọi tôi là “dâu tây”.
“Dâu tây” rất hay bị để ý nhưng không thường xuyên bị ne nét, góp ý như “dâu ta”.
Có lẽ vì thế tôi cũng có thời gian quan sát lại những người thân của chồng, những con người nơi quê hương chồng và thấy rằng, ngày Tết, người Việt bộc lộ thật nhiều thói xấu.
Thói xấu thứ nhất là họ đòi hỏi phụ nữ trong nhà phục vụ nhiều điều quá. Mấy chị em dâu bên chồng tôi thức từ 3 giờ sáng để làm cơm, làm cỗ tiếp đãi họ hàng ngày Tết với mẹ chồng.
Tôi không thể dậy từ giờ đó nên cứ mặc họ xủng xoảng xoong nồi bát đĩa dưới bếp, ôm chồng ngủ tiếp đến sáng sớm hôm sau. Đó cũng là một trong những nguyên do họ gọi tôi là “dâu tây”.
Không biết những gia đình khác thế nào, bên nhà chồng tôi dâu tây cũng dễ được bỏ qua, nhưng nếu là một chị em dâu khác giờ đó chưa dậy sẽ bị bóng gió là “lười chảy thây”, có khi sáng mùng 1 đã bị mẹ chồng mặt nặng mày nhẹ.
Nhiều nàng dâu vì không muốn gặp cái sự mặt nặng mày nhẹ này nên cố dậy từ sớm cho xong, chứ họ cũng chẳng thích gì công việc này.
Tôi thì không cố được, tôi có niềm tin riêng của tôi, tôi tin rằng việc đày đọa bản thân như vậy chỉ để chứng minh mình đảm đang tháo vát hay để người khác hài lòng là điều không cần thiết.
Suốt cả những ngày Tết, phụ nữ trong nhà sẽ bận tối mắt lên xuống với làm cơm nấu cỗ, dọn cỗ, phục vụ khách khứa đến nhà dùng cơm.
Trong khi tới lúc ngồi vào ăn họ lại phải ngồi “mâm dưới”, với toàn đám trẻ con hoặc đàn bà với nhau, nhấp nha nhấp nhổm vừa ăn vừa chạy đi phục vụ cho đám đàn ông đang khề khà uống rượu nói chuyện mồm mép chứ tuyệt nhiên không thấy giúp đỡ gì cho người phụ nữ của họ.
Đi lấy thêm đồ ăn – phụ nữ lấy. Đi lấy thêm bát nước mắm – phụ nữ lấy. Đồ ăn trên bàn nguội lạnh cần đem đi hâm nóng – cũng là phụ nữ làm.
Như vậy thật xấuxí.
Bàn tiệc kia nên có sự điểm xuyết, đàn ông phụ nữ ngồi bên nhau, và phụ nữ được nhận lời cảm ơn, sự trân trọng về bữa cơm rất công phu họ đã nấu, được người đàn ông của họ phục vụ, chăm chút lại, thế mới đúng là ngày đoàn viên, vui vẻ đầm ấm cho tất cả mọi người.
Những bữa cơm là nỗi kinh hoàng của tôi khi mẹ chồng chưa xong bữa này đã lên kế hoạch cho bữa sau và tất cả các nàng dâu bắt đầu quay trở lại bếp từ 2 giờ chiều để chuẩn bị cho bữa ăn buổi tối.
Cho nên quanh quanh quẩn quẩn, ngày Tết là ngày phụ nữ cắm mặt vào bếp.
Một thói quen xấuxí nữa của người Việt là “nhậu”.
Đàn ông Việt xấu kinhkhủngkhiếp trên bàn nhậu.
Mặt mũi nhamnhở, đỏ tưng bừng, họ nói chuyện vô nghĩa vì rượu nói chứ họ không nói, họ chuốc nhau và uống để nâng cao sĩ diện chứ không thực sự dùng rượu như ý nghĩa thanh lịch vốn có của loại đồ uống này..
Trên bàn tiệc, đàn ông ép nhau bằng những lời khích tướng hoa mỹ, họ hả hê khi ép được nhau uống, người lịch sự từ chối bị cho là không “hết mình”, không nể mặt người mời rượu.
Chỉ trong vài ngày Tết, số đàn ông Việt nhập viện cấp cứu vì bia rượu lên đến hàng nghìn, những người phải nhập viện vì đánhnhau (cũng do không làm chủ được bản thân do rượu) cũng là hàng nghìn.
Thật xấuxí!
Ngày Tết là dịp gia đình quây quần, gặp gỡ họ hàng hàn huyên, thật ra cũng là dịp để họ tụ tập nói xấu nhau.
Nhà người này người kia năm qua có chuyện gì, kiếm được bao nhiêu, thua lỗ thế nào cũng được mang ra thì thào bình phẩm hết.
Như vậy thật tọc mạch.
Tôi tin tài chính, những chuyện xảy ra trong nội bộ gia đình là những chuyện riêng tư, không phải đề tài để ai đó khác mang ra “làm mồi nhậu”, đặc biệt khi họ chẳng giúp được gì.
Khi mới sang đây tôi rất thích văn hóa lì xì của quê hương chồng trong ngày Tết.
Một chút tiền trong chiếc phong bao nho nhỏ màu đó mang ý nghĩa mang tới may mắn cho người được lì xì.
Nhưng sự thích thú nhanh chóng biến thành mất hứng khi tôi chứng kiến có những bà mẹ già tranh thủ gặp con này nói xấu con kia, trách móc nó không mừng tuổi mình hoặc mừng tuổi không nhiều, hoặc mang ra so sánh người này mừng nhiều người kia mừng ít.
Tôi nói với chồng tôi, đất nước của anh rất xinh xắn, tươi đẹp, con người thân thiện, hiếu khách, nhưng hóa ra cũng còn thật nhiều điểm xấu, hơi… kém văn minh.
Anh lại cười gọi tôi là “dâu tây” – như cách rất nhiều người Việt đã ứng xử lại với tôi mỗi khi tôi cư xử khác họ.
Tôi không thỏa mãn với câu trả lời này, bởi xét cho cùng, dâu “loại” nào đi chăng nữa, thì cũng là vợ, là mẹ, họ lấy chồng và mong muốn một cuộc hôn nhân mang lại cho mình hạnh phúc, bình đẳng – chẳng phải vậy sao?