TÔI TỐ CÁO

Nguyên Ngọc

Ngày 12-6, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội đã ra kết luận điều tra về vụ Đồng Tâm. Văn Việt đăng lại bài của GS Hoàng Xuân Phú để nhắc nhở chúng ta ghi sâu tội ác “trời không dung đất không tha” này.

Văn Việt

Trong nhiều năm qua, nhân dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thuộc thủ đô Hà Nội, dưới sự lãnh đạo của một số lão nông tri điền đứng đầu là Cụ Lê Đình Kình đã kiên trì đấu tranh quyết giữ cánh Đồng Sênh mà cha ông họ đã khai thác, bồi bổ, xây dựng từ ngàn đời, và từ trước đến nay chưa hề có bất cứ lệnh thu hồi của nhà nước cho bất cứ mục đích gì, chống lại âm mưu cướp đoạt cánh đồng này của chính quyền Hà Nội cấu kết với một nhóm lợi ích có tính chất mafia. Cụ Lê Đình Kình là một đại lão nông, năm nay đã 84 tuổi, là một chiến sĩ cách mạng, 58 tuổi đảng, là cựu chiến binh trung kiên của mấy cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, là bậc hiền nhân được nhân dân rộng rãi coi là một vị Bồ Tát nhân hậu và ôn hòa, luôn chủ trương chấp hành mọi chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, trung thành triệt để với quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Đối mặt với một con người chân chất, hiền minh, thâm thúy, và nhân hậu như vậy, trong những năm qua nhà cầm quyền cấu kết với bọn mafia âm mưu cướp đất đã không từ một thủ đoạn thâm hiểm và độc ác nào. Năm 2017 chúng đã một lần lừa Cụ ra cánh đồng Sênh nhờ đo ranh giới đất rồi bất ngờ đá Cụ gãy chân, gây tàn tật suốt đời. Sau đó là liên tiếp những âm mưu lừa bịp, dụ dỗ, uy hiếp, đe dọa, tráo trở, thậm chí cho cả bọn lưu manh len lỏi luồn sâu làm nội gián… không từ một thủ đoạn thô bạo, hung ác và đê tiện nào… Nhưng mềm dẻo, ôn tồn, thông minh, thôn Hoành, Đồng Tâm, dưới sự chỉ đạo bình tĩnh, ôn hòa của Cụ Lê Đình Kình và các bậc cao niên đoàn kết chặt chẽ cùng các tầng lớp nhân dân vẫn đứng vững.

Cuối cùng bọn quyết tâm chiếm đất mặt người dạ thú đã giở đến trò độc ác nhất. Trong đêm mồng 8 rạng sáng ngày mồng 9 tháng 1 năm 2020 (nhằm đúng ngày rằm tháng Chạp, mọi người đang nô nức chuẩn bị đón Tết Canh Tý), gần 3000 quân thuộc lực lượng vũ trang chính quy của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại và các khí tài công nghệ tác chiến tiên tiến đã được huy động (bởi ai, theo lệnh của cá nhân hay cơ quan tối cao nào?), bất ngờ tấn công vào thôn Hoành, lập tức bao vây không chế tất cả các nhà trong làng bằng cách phun hơi cay, bắt bớ đánh đập tàn bạo tất cả trai gái già trẻ, nhằm không cho ai chi viện để tập trung đột kích vào nhà Cụ Lê Đình Kình và hai con trai Cụ, dùng vũ khí phá cửa nhà Cụ Kình, phun hơi cay, xông thẳng vào giường Cụ Kình, kéo vợ Cụ vất ra bên ngoài, đánh đập tra tấn Cụ máu me lênh láng khắp phòng, chĩa thẳng súng bắn đúng vào tim Cụ, vào đầu Cụ, bắn nát chân Cụ, ngoài ra còn một số vết đạn khác nữa.

Giết người đi đôi với cướp của: họ còn bắn nát một tủ sắt và cướp mang đi một tủ gỗ trong đó Cụ Kình vẫn cất giữ chu đáo tất cả giấy tờ bản đồ chính thức về Đồng Tâm và riêng Đồng Sênh.

Theo lời thú nhận công khai của ba vị đại diện bộ công an, trong đó có cả Trung tướng Thứ trưởng Lương Tam Quang, tất cả vụ tấn công quy mô và giết người kinh hoàng ở thôn Hoành, Đồng Tâm được thực hiện mà không có bất cứ một văn bản mệnh lệnh có tính pháp lệnh phê chuẩn của Viện Kiểm sát, không có lệnh khám xét bắt bớ của công an, không có lệnh tòa án hay của bất kỳ cơ quan pháp luật nhà nước nào hết.

Xác Cụ Kình, vị đại lão từ nay sẽ trở thành Thành Hoàng bất tử của làng Hoành ấy, sau đó không biết đã bị những kẻ giết Cụ mang đi đâu, bị mổ phanh thây không biết để lục tìm hay lấy đi những gì trong lục phủ ngũ tạng.

Hôm sau người thân trong gia đình được gọi lên nhận lại xác Cụ với yêu cầu khốn nạn: phải ký xác nhận là Cụ chết trong khi xung đột với lực lượng cưỡng chế ở Đồng Sênh, cách thôn Hoành 3 km.

Một vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng đã diễn ra tại nhà Cụ Lê Đình Kinh ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, giữa thủ đô Hà Nội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nạn nhân là đại lão gia Lê Đình Kình, công thần của Tổ quốc Việt Nam, đã bị các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Nam xử tử hình với hình thức tàn bạo nhất, không theo bất cứ quy định và trình tự pháp luật nào hết. Cho đến hôm nay, mồng 4 tháng 2 năm 2020, nghĩa là gần một tháng sau sự vụ, chưa hay không hề thấy mảy may động thái của toàn bộ hệ thống tư pháp của cái đất nước được coi là có pháp chế này khởi tố một vụ án giết chết công dân Lê Đình Kình.

Tôi nghiêm khắc đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam lập tức ra lệnh khởi tố vụ án lớn giết cụ Lê Đình Kình một cách minh bạch, công khai, công bằng.

Những kẻ chủ trương, những kẻ lên kế hoạch, những kẻ tổ chức lực lượng và ra lệnh thực hiện dù ở cấp nào, những tên sát nhân, hay những tên đao phủ đã trực tiếp ra tay phải đền tội ác trước vành móng ngựa.

Là công dân Việt Nam, là nhà văn Việt Nam, tôi tố cáo tội ác trời không dung đất không tha này trước toàn dân Việt Nam và thế giới.

Tôi thiết tha kêu gọi mọi bậc trí giả trong nước và trên thế giới cùng mọi người có lương tri lên án tội ác man dại này và ngăn chặn nó có thể tái diễn bất cứ ở đâu.

Hội An

Ngày 04/2/2020

TỘI ÁC ĐỒNG TÂM

Hoàng Xuân Phú

Ngày 12-6, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội đã ra kết luận điều tra về vụ Đồng Tâm. Văn Việt đăng lại bài của GS Hoàng Xuân Phú để nhắc nhở chúng ta ghi sâu tội ác “trời không dung đất không tha” này.

Văn Việt

Sáng sớm ngày 9/1/2020, Bộ Công an công bố „Thông báo về vụ việc gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội“. Trong đó viết:

„Từ ngày 31/12/2019, một số đơn vị của Bộ Quốc phòng phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn, thành phố Hà Nội theo kế hoạch. Trong quá trình xây dựng, sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, dẫn đến hậu quả 03 cán bộ chiến sĩ Công an hi sinh, 01 đối tượng chống đối chết, 01 đối tượng bị thương.“

Cáo buộc đó hoàn toàn sai sự thật. Bởi cuộc tấn công vào thôn Hoành (thuộc xã Đồng Tâm) diễn ra cách xa Sân bay Miếu Môn mấy cây số, lại bắt đầu vào lúc trời còn tối, khi người người còn đang ngủ, và công việc xây dựng hàng ngày tại Sân bay Miếu Môn còn lâu mới được bắt đầu. Vì thế, không thể có chuyện một số đối tượng tấn công lực lượng chức năng trong quá trình xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn vào sáng ngày 9/1/2020.

Sau màn dối trá dạo đầu ấy, họ tiếp tục tung ra nhiều thông tin sai trái khác, được đài báo đồng thanh truyền tải đến nơi nơi. Tiếc thay, nhiều người đã tin đó là sự thật.

Khi bị dư luận am hiểu vạch trần thì họ sửa kịch bản. Sửa hết lần này sang lần khác. Mà lần nào cũng tránh xa sự thật. Bởi sự thật tồi tệ đến mức không thể thừa nhận, dù chỉ một phần.

Mục đích của bài viết này là tìm kiếm sự thật, nhằm trả lại công bằng cho người đã khuất, đồng thời cảnh tỉnh những người nhẹ dạ cả tin, vì quá tin lời dối trá mà căm thù và xúc phạm những nạn nhân vô tội. Hơn nữa, cũng giúp những người có lương tâm trong bộ máy điều tra và xét xử tránh lầm đường lạc lối.

1. Cái chết của cụ Lê Đình Kình

„Tối 10/1, Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Công an cho biết, Bộ Công an xác nhận người tử vong trong các đối tượng chống đối người thi hành công vụ tại Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình. Theo báo cáo của Công an thành phố Hà Nội, khi khám nghiệm tử thi, trên tay của ông Lê Đình Kình cầm giữ quả lựu đạn.“

Đó là thông tin đã được đăng tải nhiều nơi, chẳng hạn như Vietnamnet, Người lao động, Đất Việt, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày nay, VTC News

Thử hỏi, một cụ già đã 84 tuổi, lại từng bị công an đá vỡ xương đùi vào năm 2017, thì lấy đâu ra sức lực để chống đối người thi hành công vụ? Cụ bị què chân, nằm trên giường ngủ, thì cầm lựu đạn để làm chi? Đám vận chuyển tử thi từ nhà cụ Kình đến nơi khám nghiệm tử thi có bị trục trặc thần kinh không, mà để mặc người chết cầm giữ quả lựu đạn trên tay suốt thời gian vận chuyển đường xa? Và nếu đúng như vậy, thì tại sao không trưng ra bức ảnh chụp cụ Kình đã chết mà trên tay vẫn cầm quả lựu đạn? Chẳng có khó khăn gì, khi dúi quả lựu đạn vào tay người đã chết để chụp ảnh. Có lẽ công đoạn ấy đã có trong kịch bản, song diễn viên quên diễn, sau khi mọi việc đã qua đi thì mới chợt nhớ ra. Thành thử, đành ngụy tạo ra bức ảnh với 7 quả lựu đạn, trong đó một quả được kèm theo chú thích: „Trên tay Lê Đình Kình“ (xem Ảnh 1).

Ảnh 1: Quả lựu đạn với chú thích „Trên tay Lê Đình Kình“

Đi xa hơn nữa, sáng ngày 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang lại tung thêm tình tiết: „Trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ.“ Thử hỏi, đang nằm trên giường trong phòng ngủ kín mít, chật hẹp (kích thước 2,4 m x 3,6 m), thì cụ Kình ném lựu đạn để tự sát hay sao? Nếu định tự sát, thì cụ chỉ cần rút chốt lựu đạn, chứ việc gì phải gắng ném cho phí sức già?

1.1. Hành vi man rợ

Đang đêm, đám thi hành công vụ đã xộc vào nhà cụ Lê Đình Kình và vãi đạn không thương tiếc. Sáu bức ảnh, từ Ảnh 2 đến Ảnh 7, là mấy ví dụ về vết tích của cái công vụ ấy.

Ảnh 2: Vết tích thi hành công vụ trên cửa nhà cụ Lê Đình Kình

Ảnh 3: Vết tích thi hành công vụ trong phòng khách của nhà cụ Lê Đình Kình

Ảnh 4: Vết tích thi hành công vụ trong phòng ngủ của cụ Lê Đình Kình

Ảnh 5: Vết tích thi hành công vụ trên ô cửa thoáng ở phòng ngủ của cụ Lê Đình Kình

Ảnh 6: Vết tích thi hành công vụ trên cửa tum nhà cụ Lê Đình Kình

Ảnh 7: Vết tích thi hành công vụ nơi thờ cúng của nhà cụ Lê Đình Kình

Ảnh 8 cho thấy, cụ Kình đã bị tra tấn hết sức dã man. Rùng rợn thay, đầu gối của cụ bị bắn vỡ tung, khiến cẳng chân lủng lẳng, chỉ dính với đùi nhờ phần da thịt còn sót lại. Tôi thành tâm khuyên mọi người Việt, đặc biệt là giới cầm quyền, nghiêm túc xem đoạn video quay cảnh người thân lau thi thể của cụ Lê Đình Kình, để hiểu thêm chút ít về giai đoạn lịch sử Dân tộc mà chúng ta đang sống.

Ảnh 8: Dấu tích tra tấn sau gáy, trên lưng và ở đầu gối cụ Lê Đình Kình

Thử hỏi, cụ Kình có khả năng „cầm giữ quả lựu đạn“ trên tay trong suốt quá trình bị tra tấn cho đến khi bị giết hay không? Liệu những kẻ tra tấn cụ có để cụ cầm quả lựu đạn khi chúng tra tấn hay không? Rõ ràng, đó là một sự bịa đặt vô cùng trắng trợn, không chỉ vu khống cụ Lê Đình Kình, mà còn hết sức coi thường dư luận.

Chỉ riêng phát ngôn „Trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ“ đã đủ để lột tả mức trung thực và trình độ tư duy của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang. Và cũng đủ để cảnh tỉnh những ai tin vào các thông tin mà Bộ Công an đưa ra về vụ Đồng Tâm.

Khi đứng ra tuyên bố về vụ Đồng Tâm, để bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chế độ phát đi toàn quốc và ra cả Thế giới, chắc hẳn Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã ý thức rất rõ, ông không chỉ thay mặt lãnh đạo Bộ Công an, mà còn thay mặt cả lãnh đạo Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Chẳng lẽ ông Quang cho rằng, thể diện của họ chỉ xứng đáng với những thông tin bịa đặt tầm ấy thôi sao?

Cuối cùng, cụ Kình đã bị giết bằng mấy phát súng, trong đó có một phát bắn thẳng vào tim (xem Ảnh 9). Rồi Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an, long trọng tuyên bố: Bộ Công an xác nhận người tử vong trong các đối tượng chống đối người thi hành công vụ tại Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình.

Chưa hết, thi thể cụ Kình còn bị đem đi và bị mổ dọc từ cổ xuống đáy bụng (xem Ảnh 9).

Thông thường, khi khám nghiệm tử thi, người ta mổ phanh toàn thân nếu cần xác định nguyên nhân cái chết. Trong trường hợp cụ Kình, thì họ đã biết quá rõ tại sao cụ bị chết. Do đó, chẳng cần phải mổ để xác định nguyên nhân.

Nếu mổ để gắp đầu đạn, nhằm phi tang, thì chỉ cần mổ những chỗ bị bắn. Còn nếu mổ để xem cụ Kình có nuốt tài liệu, tang chứng hay không, thì chỉ cần mổ vùng bụng. Mà cũng chẳng cần phải mổ, chỉ cần siêu âm, hay nội soi, thì đã biết rõ là cụ chẳng nuốt gì.

Vậy tại sao lại mổ phanh thây như thế?

Ảnh 9: Vết đạn bắn vào tim và vết mổ phanh trên thi thể cụ Kình

1.2. Can tội… vô tội

Khi thông báo về cái chết của đối tượng Lê Đình Kình, phía công an đã khẳng định:

„Lời khai của một số đối tượng bị bắt xác nhận ông Kình là kẻ cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm.“

Sáng 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang còn nói với các nhà báo:

„… anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt. Qua quá trình đấu tranh khai thác thì Truyền hình Việt Nam đã vào khai thác và các đối tượng đã khai nhận. Và dưới sự chỉ đạo của Lê Đình Kình. „

Nếu quả thật cụ Kình đã phạm phải những tội như vậy, thì tại sao không truy tố, bắt giam, rồi đem ra xét xử công khai, theo đúng trình tự đã được pháp luật quy định? Công an đã bắt được hết thảy đàn ông trai tráng liên quan đến vụ việc, thì tại sao không bắt nốt ông già què đã 84 tuổi?

Đơn giản là họ không định bắt. Vì nếu bắt thì phải giam giữ và phải đem ra xét xử. Trong nhà giam, cụ sẽ kiên cường đến mức không thể ép cung. Khi xét xử tại tòa án, cụ sẽ vạch trần những điều sai trái của phía chính quyền một cách chi tiết, rành mạch, với những tư liệu và bằng chứng khó lòng bác bỏ. Bắt cụ thì quá dễ, nhưng giam cụ và xử cụ, rồi thả cụ thì rất khó. Thành thử, họ đã quyết định giết cụ Kình ngay trên giường ngủ của cụ.

Nếu quả thật cụ Kình đã phạm phải những tội như công an đã cáo buộc, thì tại sao lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không khai trừ cụ ra khỏi đảng? Theo thông lệ, đảng viên thường bị khai trừ trước khi bị bắt, và muộn nhất là khai trừ trước khi bị tòa án xét xử. Vậy thì tại sao lại không khai trừ đảng viên Lê Đình Kình trước khi giết, để bị mang tiếng đảng giết đảng viên?

Câu trả lời đơn giản là: Công dân Lê Đình Kình (84 tuổi đời) cũng như đảng viên Lê Đình Kình (58 tuổi đảng) không có tội. Vì thế không thể bắt giam để kết án. Vì thế không thể khai trừ khỏi đảng.

Đọc đến đây, hẳn có người sẽ nói: Đối tượng bị bắt đã khai ra vai trò chủ mưu, cầm đầu nhóm đối tượng gây rối của Lê Đình Kình rồi, tại sao còn bảo là hắn vô tội? Nếu vậy, hãy quan sát dấu vết tra tấn còn lưu lại trên khuôn mặt của Lê Đình Công (Ảnh 10), Bùi Thị Nối (Ảnh 11), Lê Đình Quang (Ảnh 12) và Lê Đình Doanh (Ảnh 13), để mường tượng ra mức độ ép cung. Và nếu thấy chưa đủ, hãy nghe thêm lời kể của cụ bà Dư Thị Thành (vợ của cụ Lê Đình Kình):

„Người ta bắt phải khai ở nhà cầm lựu đạn. Tôi bảo tôi không hề biết quả lựu đạn thế nào, tôi cũng không biết bom xăng thế nào, thì tôi không khai được. Thế là nó tát. Tát suốt, cứ bên nọ sang bên kia. Xong nó cứ thế đá vào hai ống chân.“

Dang tay tát tới tấp một bà cụ, chỉ vì cụ không chịu khai nhận cái điều cụ không hề làm, thì thử hỏi, còn thủ đoạn nào mà chúng không dám sử dụng để ép cung?

image

Để chứng minh rằng „cũng chính nhóm đối tượng này đã không ngần ngại sẽ giết người, đồng thời chuẩn bị kỹ lưỡng các loại vũ khí, hung khí, vật liệu nổ, nhằm thực hiện kế hoạch cản trở các lực lượng chức năng xây dựng tường rào sân bay Miếu Môn“, VTV đã mời khán thính giả „theo dõi sau đây lời lẽ của bọn họ để thấy rõ bản chất cực đoan, bạo lực và hành động chống đối pháp luật đến cùng“:

„Chúng tôi xin thề rằng, nếu chúng tôi không giết được từ 300 đến 500 thằng, thì chúng tôi không phải là người dân Đồng Tâm nữa.“

„Có tới 200 lít xăng, phải có tới là hai chục bình ga mới tinh. Và còn có những loại thuốc nổ, bởi vì chúng tôi ở gần xưởng sản xuất thuốc nổ.“

Trên thực tế, khi bị tấn công vào ngày 9/1/2020, người dân Đồng Tâm đã không giết một ai, chứ đừng nói là „từ 300 đến 500 thằng“. Vả lại, số tang vật mà công an thu được chỉ bao gồm „8 quả lựu đạn, 38 chai bom xăng, 20 lít xăng, 12 tuýt sắt đầu gắn dao nhọn, 3 hộp pháo sáng, 1 khẩu súng bắn điện, 1 thanh kiếm, 1 búa“ (xem Ảnh 14 và Ảnh 15). Đặc biệt, không hề có một khẩu súng bắn đạn nào. Qua đó ta thấy, mấy vị nọ cũng chỉ ba hoa, chém gió cho sướng miệng. Âu cũng là một cách dọa dẫm của kẻ yếu thế, theo kiểu „mày mà vào đây thì tao giết“, với hy vọng vì nghe dọa mà đối phương chẳng xông vào. Song, nếu đối phương vẫn xông vào, thì chính kẻ dọa giết lại run rẩy chờ chết.

Ảnh 14: Tang vật công an thu được tại Đồng Tâm ngày 9/1/2020

Ảnh 15: Bom xăng Đồng Tâm

Trích thông tin trên để thấy rằng: Hẳn đã dày công tìm kiếm, sưu tầm, nhưng cơ quan công an vẫn không thể trưng ra bất cứ đoạn ghi hình hay ghi âm nào về phát ngôn của chính bản thân cụ Lê Đình Kình, trong đó thể hiện cụ là „kẻ cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm“. Chứng tỏ, cụ Kình chưa bao giờ phát ngôn như vậy.

Điều đó hoàn toàn khớp với thông tin của Đại tá công an về hưu Nguyễn Đăng Quang:

„Tôi đã nhiều lần về Đồng Tâm tiếp xúc với cụ Kình. Trao đổi và tâm sự với tôi về cách hóa giải mâu thuẫn trong xã hội, cụ thể là cuộc khủng hoảng Đồng Tâm, cụ xác quyết 3 nguyên tắc sau:

– Một là: Dứt khoát phải loại bỏ sử dụng vũ lực. Cụ nói: ‘Vũ lực chỉ nên sử dụng với kẻ thù khi không còn con đường nào khác. Tuyệt đối không bao giờ dùng vũ lực để chống lại nhân dân. Bạo lực sẽ đẻ ra bạo lực, đó là quy luật và hậu quả tất yếu.’

– Hai là: Con đường pháp lý (kiện ra Tòa án) bao giờ cũng tốt hơn bạo lực. Song chỉ nên dùng đến nó một khi phương thức đối thoại, hòa giải thất bại.

– Ba là: Phải đối thoại, hòa giải. Mọi mâu thuẫn và bất ổn trong xã hội đều có thể được hóa giải thông qua đối thoại, hòa giải. Nhưng đối thoại phải thực tâm, và phải nghiêm túc thực thi những điều đã thỏa thuận. Đây là nguyên tắc tối thượng.“

Bản thân tôi, khi cùng với một số người đến thăm cụ Lê Đình Kình vào dịp Tết năm 2018, tôi có cảm giác vừa kính phục, vừa hơi… tẻ. Kính phục bởi được chứng kiến trí tuệ minh mẫn và khả năng diễn đạt khúc triết của cụ. Tẻ vì như thể phải tiếp xúc với một cán bộ tuyên giáo, phát biểu nào cũng dựa vào chủ trương, đường lối của đảng và nhà nước, lập luận nào cũng căn cứ vào quy định của pháp luật. Một người như vậy, thì làm sao có thể „cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm“?

Có lẽ, tội lớn nhất của cụ Kình là… vô tội. Bởi nếu có tội thì cụ đã bị bắt, bị xét xử và bị kết án. Và nếu như vậy thì bây giờ cụ vẫn còn sống. Song vì vô tội, nên cụ buộc phải chết.

Phải chăng, bi kịch lớn nhất của cụ Lê Đình Kình là phải sống trong một thể chế, mà người quá tốt cũng buộc phải chết?

1.3. Thông điệp sát nhân

 được nhân dân hết lòng yêu mến, tín nhiệm và trở thành người lãnh đạo tinh thần trong cuộc đấu tranh của nhân dân Đồng Tâm, cụ Lê Đình Kình buộc phải hứng chịu cơn thịnh nộ của chính quyền đối với Đồng Tâm. Và người dân Đồng Tâm đã làm những điều mà thế lực cầm quyền khó lòng dung thứ.

Họ đã dám đấu tranh giữ đất. Đối với thế lực cương quyết giữ lại trong Hiến pháp quy định „Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý“, thì đấu tranh giữ đất có thể bị quy kết là chống lại Hiến pháp.

Họ đã dám thành lập và gắn bó với nhau trong Tổ đồng thuận. Đối với thế lực luôn run sợ trước bốn chữ „đa nguyên đa đảng“, thì Tổ đồng thuận đã trở thành mầm mống, hay tiền lệ của „đa nguyên đa đảng“. Vì vậy vừa ghét vừa sợ, đến mức gọi Tổ đồng thuận là „ổ nhóm tội phạm có tổ chức“.

Họ đã dám cứng đầu, không chịu ngoan ngoãn nghe theo chính quyền. Lại còn dám đoàn kết với nhau để vạch trần những hành vi sai trái của chính quyền. Đối với một đảng cầm quyền phạm quá nhiều điều sai trái và tham nhũng đã trở thành đặc tính đặc trưng, thì đoàn kết chống lại sai trái, chống lại tham nhũng có thể bị coi là câu kết với nhau để chống lại đảng, chống lại chính quyền. Đã thế, bao nhóm đồng bào tứ xứ lại kéo đến Đồng Tâm thăm hỏi và tán dương, cứ như thể đổ thêm dầu vào lửa.

Họ đã dám bắt giữ một số cảnh sát được điều đến Đồng Tâm. Nghiêm trọng hơn, các cảnh sát lại tỏ ra hợp tác, buông súng để cho dân bắt. Đó là điều vô cùng tối kị đối với một chính quyền tồn tại nhờ bạo lực vũ trang.

Họ còn dám đòi Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung ký tên và lăn tay vào bản cam kết. Đối với giới cầm quyền vốn coi thường người dân, quen bắt nạt dân, thì đó là hành vi xúc phạm nặng nề, khiến họ cảm thấy rất bị mất mặt.

Thêm vào đó là những lời ba hoa ngớ ngẩn trong phút chốc bốc đồng. Chúng chẳng hề hù dọa được chính quyền, mà chỉ giúp chính quyền có cớ để kết tội bà con Đồng Tâm và biện minh cho cuộc tấn công vào Đồng Tâm. Những phát ngôn như vậy chẳng đem lại lợi lộc gì cho Đồng Tâm, mà ngược lại, chỉ khiến thế lực cầm quyền thêm căm tức, coi đó là hành vi xấc xược, khinh thường và thách thức chính quyền.

Ấm ức dồn nén, gia tăng quyết tâm trả thù. Ban đầu, tranh chấp đất đai dẫn đến xung đột, hận thù. Còn bây giờ, tại Đồng Tâm, tranh chấp đất đai chỉ là cái cớ để ra tay trả thù.

Cách tra tấn và giết hại dã man, rồi mổ phanh thi thể của cụ Lê Đình Kình thể hiện rõ ràng quyết tâm và ý chí trả thù.

Bị bắn vỡ tung đầu gối, bị bắn thẳng vào tim và bị chết phanh thây, đó không chỉ là cách hành hạ và làm nhục cụ Kình cho thỏa mãn khát vọng trả thù. Hành động vô cùng dã man một cách hết sức lộ liễu cho thấy, đó cũng là thứ ngôn ngữ hình ảnh có chủ ý để đưa vào thông điệp gửi đi toàn quốc, tới tất cả những ai có ý định cứng đầu trước cường quyền như cụ Kình.

Một số người thắc mắc: Tại sao lại tấn công Đồng Tâm vào ngày 9/1/2020 – một ngày sát Tết?

Phải chăng, cuộc tấn công ấy phải đi kèm để cân đối lại một sự kiện diễn ra chưa đầy một ngày trước? Đó là vào chiều 8/1/2020, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã ra thông cáo: Nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải và nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân vi phạm đến mức phải xem xét kỷ luật trong vụ Thủ Thiêm. Thông cáo ấy khiến nhiều người phấn chấn, bởi nghĩ rằng quả thật công cuộc đốt lò nhằm chống tham nhũng, nên bây giờ đốt cả củi gộc. Hơn nữa, nó còn khiến những người mất đất thêm tin tưởng, học tập dân Thủ Thiêm kiên trì đòi đất.

Phải chăng, cuộc tấn công Đồng Tâm và giết hại cụ Kình là lời cảnh cáo muôn dân, đừng có mơ giữa ban ngày, mà dại dột đua nhau đòi đất?

2. Cái chết của ba sĩ quan công an

Ba sĩ quan công an bị chết là Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân và Trung úy Phạm Công Huy. Họ được lãnh đạo và đài báo quốc doanh ca ngợi đã dũng cảm hi sinh. Song liệu bản thân họ có tự hào và hài lòng với sự hi sinh của mình hay không?

Nghe nói Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân đã từng viết: „Chiến tranh bảo vệ tổ quốc không đáng sợ, nhưng đáng sợ là máu đổ chính vì người dân mình.“ Nếu quả thật anh đã từng viết như vậy, thì khó có thể tự hào về việc mình bị chết khi tham gia tấn công người dân Đồng Tâm. Và cũng khó có thể hài lòng, khi ngẫm nghĩ nơi chín suối về cái chết của bản thân.

2.1. Quyết định bất thường

Ngày 10/1/2020, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định số 41/QĐ-CTN, truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất cho ba cá nhân Nguyễn Huy Thịnh, Dương Đức Hoàng Quân và Phạm Công Huy, vì „đã lập chiến công đặc biệt xuất sắc“ (xem Ảnh 16). Về phần mình, với Quyết định này, Chủ tịch nước cũng lập chiến công với ba kỷ lục.

Kỷ lục thứ nhất là về thời gian: Quyết định được Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký chỉ một ngày sau khi ba sĩ quan công an lập chiến công (vào ngày 9/1/2020). Như vậy là nhanh gấp 4 lần so với thời gian mà Chủ tịch nước Trần Đại Quang cần để xem xét và ký quyết định (vào ngày 21/2/2018) truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì cho Thượng úy công an Lưu Minh Thức, đã hi sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ truy bắt đối tượng liên quan đến vụ án giết người (vào ngày 17/2/2018). Và nhanh gấp 3 lần so với thời gian mà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cần để xem xét và ký quyết định (vào ngày 10/7/2014) truy tặng Huân chương Chiến công cho các sĩ quan và chiến sĩ quân đội đã hi sinh và bị thương trong vụ rơi máy bay Mi-171 (xảy ra vào sáng 7/7/2014). Về lý mà nói, phải có khoảng thời gian cần thiết để xem xét thận trọng, xác định rõ nguyên nhân cái chết cũng như chất lượng chiến đấu, trước khi quyết định truy tặng Huân chương Chiến công. Bởi không thể trao Huân chương Chiến công cho những người đã chết chỉ vì làm sai quy định, hay làm trái mệnh lệnh chiến đấu. Vậy mà, trong trường hợp này, ba sĩ quan công an mới bị chết ngày 9/1/2020, thì ngay ngày hôm sau, Chủ tịch nước đã ký Quyết định truy tặng Huân chương Chiến công cho họ, trước cả khi Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình ký Quyết định số 70/QĐ-TTg vào ngày 11/1/2020 về việc cấp bằng „Tổ Quốc ghi công“ cho ba liệt sĩ.

Kỷ lục thứ hai là về sự hào phóng: Cả sĩ quan cấp tá Nguyễn Huy Thịnh và hai sĩ quan cấp úy Dương Đức Hoàng Quân, Phạm Công Huy đều được Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Nhắc lại rằng: Thượng úy công an Lưu Minh Thức chỉ được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì. Với 18 sĩ quan quân đội đã hi sinh trong vụ rơi máy bay Mi-171, chỉ có ba sĩ quan cấp tá được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất và hai sĩ quan cấp tá được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì, còn tất cả 13 sĩ quan cấp úy đều chỉ được truy tặng Huân chương Chiến công hạng ba. Chứng tỏ, chiến công tấn công người dân Đồng Tâm được đánh giá cao hơn hẳn so với chiến công quốc phòng và chiến công truy bắt đối tượng liên quan đến vụ án giết người.

Kỷ lục thứ ba là về tính tiên phong: Trong Quyết định số 41/QĐ-CTN ký ngày 10/1/2020, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gọi Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh là Đại tá, gọi Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân là Trung úy, và gọi Trung úy Phạm Công Huy là Thượng úy (xem Ảnh 17), mặc dù một ngày sau đó (tức 11/1/2020) Bộ trưởng Bộ Công an mới ký quyết định thăng cấp bậc hàm cho ba người ấy.

Không dừng lại ở đó, mấy ngày sau Dương Đức Hoàng Quân lại được truy phong tiếp lên Thượng úy và Phạm Công Huy được truy phong tiếp lên Đại úy. Tức là, hai sĩ quan cấp úy được truy phong hai cấp, trong khi liệt sĩ thường chỉ được truy phong một cấp mà thôi. Vì sao?

Ảnh 16: Quyết định truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất

Ảnh 17: Danh sách các cá nhân được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất

2.2. Hiệu quả hi sinh

Tại sao cái chết của ba sĩ quan công an lại được đánh giá là „chiến công đặc biệt xuất sắc“?

Hãy tưởng tượng xem, sau khi cụ Lê Đình Kình bị giết dã man như vậy, thì điều gì sẽ xảy ra, nếu phía công an chẳng có ai bị chết? Đương nhiên, dư luận sẽ lên án hành vi man rợ, chà đạp thô bạo Hiến pháp, pháp luật.

Nếu chỉ có một công an bị chết, thì vẫn chưa đủ để xoa dịu dư luận. Nhưng khi ba công an bị chết thì câu chuyện đã khác.

Nếu chỉ có Thiếu úy và Trung úy bị chết, thì có thể còn bị gièm pha, rằng chẳng qua sa sẩy do còn ngờ nghệch. Nhưng khi Thượng tá, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô cũng bị chết, thì khó có thể quy kết cho khả năng và trình độ chiến đấu kém cỏi.

Đặc biệt, nếu ba công an bị chết vì đạn hay mìn, thì có lẽ chỉ gây thương xót. Nhưng khi họ chết vì bị thiêu cháy, như trong Ảnh 18 và Ảnh 19, thì sẽ khiến hàng triệu người căm thù cụ Lê Đình Kình và những người dân Đồng Tâm. Cơn phẫn nộ ấy mạnh đến mức xóa tan những băn khoăn về cuộc tấn công và việc giết hại cụ Kình một cách hoàn toàn phi pháp.

Ảnh 18: Xác một người chết cháy và vết tích cửa sổ bị phá từ phía trong nhà phá ra

Ảnh 19: Bên cạnh hai đám tro có ba que hương và trên mỗi đám tro có một que hương

Nghĩa là, cái chết của ba sĩ quan công an đã giúp nhà cầm quyền biến sai thành đúng, chẳng những tránh được dư luận lên án, mà còn được nhiều người ủng hộ.

Hiệu quả cao như vậy, thì đương nhiên phải đánh giá là „chiến công đặc biệt xuất sắc“.

2.3. Cái chết kỳ dị

Sau khi tung ra mấy kịch bản hoang đường về nơi chết và lý do chết của ba sĩ quan công an, sáng 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã thông báo cho báo chí về tình huống ba sĩ quan công an hi sinh ở Đồng Tâm như sau:

„Đối tượng chạy vào nhà Lê Đình Chức, và từ nhà Lê Đình Chức khi bị chúng ta truy đuổi thì chạy sang nhà Lê Đình Hợi. Trong quá trình truy bắt đối tượng từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 mét, anh em ngã xuống hố. Có một số thông tin các đối tượng đào hố chông, thì hoàn toàn ở dưới không có chông. Là hố kỹ thuật. Hố không có nắp, như một số vụ tai nạn hố ga. Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.“

Tại sao cả ba sĩ quan công an lại cùng ngã xuống hố kỹ thuật như vậy?

Có ý kiến cho rằng vì không tiến hành trinh sát, nên không biết có cái hố kỹ thuật nằm ở vị trí ấy. Nói như vậy là coi thường ý thức và khả năng tổ chức chiến đấu của lãnh đạo Bộ Công an. Thời chiến tranh, bộ đội phải vượt qua nhiều hàng rào dây thép gai dày đặc bom mìn và nhiều vòng canh gác cẩn mật để trinh sát cơ sở địch. Vậy thì bây giờ, khó khăn gì có thể ngăn cản công an trinh sát nhà dân giữa lòng hậu phương? Nếu không thể quan sát trực tiếp từ mấy nhà trong xóm, thì cũng có thể dùng các thiết bị kỹ thuật thông dụng để quan sát từ xa.

Tôi chụp Ảnh 20 (panorama) khi đang đứng ở miệng hố kỹ thuật. Do đó, nếu ta nhìn thấy khu vực nào trong ảnh, thì ngược lại, từ khu vực ấy cũng có thể quan sát miệng hố kỹ thuật. Qua đó ta thấy, có thể quan sát miệng hố kỹ thuật từ rất nhiều vị trí. Nếu không quan sát từ ngôi nhà phía trước, thì chỉ cần cho một chiếc flycam bay lên là có thể ghi hình rõ ràng sân thượng nhà ông Chức cùng hố kỹ thuật. Vậy nên, những người lên kế hoạch tấn công Đồng Tâm phải biết về sự tồn tại của cái hố kỹ thuật ấy.

Ảnh 20: Ảnh chụp panorama từ miệng hố kỹ thuật

Lại có ý kiến cho rằng, ba sĩ quan bị rơi xuống hố kỹ thuật vì trời quá tối, mà lại không được trang bị đèn chiếu sáng. Nói như vậy khác nào chê lãnh đạo Bộ Công an vừa vô trách nhiệm, vừa ăn chặn kinh phí trang bị khí tài, khiến chiến sĩ xung trận không được trang bị những dụng cụ tối thiểu. Thực ra, khi xảy ra cuộc tấn công thì khu vực xung quanh hố kỹ thuật không hề tối, thậm chí nhiều khi đèn pha còn chiếu thẳng vào nơi đó. Và khu vực ấy cũng không hề bị khói mịt mù bao phủ. Ảnh 21 là bằng chứng rõ ràng cho điều đó. Hình ảnh này được trích ra từ video clip (tại thời điểm 00:31) của chương trình thời sự VTV, được đăng lại trên nhiều báo, ví dụ như trong bài „Thu giữ lựu đạn, bom xăng, bắt các đối tượng gây rối ở xã Đồng Tâm“ đăng trên Vietnamnet, hay trong bài „Diễn biến vụ Đồng Tâm: Bắt các đối tượng gây rối“ đăng trên báo Đất Việt. (Để thấy quả thật quang cảnh trong Ảnh 21 tương ứng với khu vực xung quanh hố kỹ thuật, hãy so sánh nó với Ảnh 22, được chụp vào ban ngày.) Cho nên, ba sĩ quan công an phải nhìn thấy hố kỹ thuật.

Vậy mà vẫn ngã xuống hố, rồi lại được đánh giá là „chiến công đặc biệt xuất sắc“… Điều đó chứng tỏ, hiệu quả hi sinh đã được đánh giá cao hơn hẳn chất lượng và hiệu quả chiến đấu.

Ảnh 21: Quang cảnh xung quanh khu vực hố kỹ thuật khi xảy ra cuộc tấn công

Ảnh 22: Quang cảnh xung quanh khu vực hố kỹ thuật vào ban ngày

Lẽ ra, cần phải nghiêm túc rút kinh nghiệm trong toàn lực lượng công an, để tránh tái diễn những sai lầm chết người tương tự. Nhưng ngược lại, theo yêu cầu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn của Bộ Công an, và Công an các tỉnh lại phát động phong trào học tập ba liệt sĩ đã hi sinh ở Đồng Tâm.

Học tập cái gì? Phương pháp rơi xuống hố ư? Không, thứ cần học không phải là phương pháp và kinh nghiệm chiến đấu, mà chỉ là thái độ chấp nhận hi sinh.

Điều đó cho thấy, khi đối tượng tác chiến của lực lượng vũ trang mang tên nhân dân chính là nhân dân, thì thứ thế lực cầm quyền muốn có nhất ở các sĩ quan và chiến sĩ không phải là kỹ năng và hiệu quả chiến đấu, mà là bản năng tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh bất chấp đúng sai, và thái độ nghiễm nhiên chấp nhận hi sinh cả khi phi nghĩa. Chỉ có như vậy, thì họ mới chịu chĩa súng vào đầu dân và chĩa cả vào nhau, sẵn sàng bóp cò mỗi khi có lệnh.

Khi về nơi chín suối, hẳn các liệt sĩ đã kịp nhận ra mức độ hài hước của khẩu hiệu „Còn đảng còn mình“. Bởi đảng vẫn còn, mà mình chẳng còn.

2.4. Đội hình quái lạ

Theo Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang, „trong quá trình truy đuổi, một tổ công tác gồm ba người đã hi sinh“. Ba người ấy là:

– Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an;

– Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân, cán bộ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an;

– Trung úy Phạm Công Huy, cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an Thành phố Hà Nội.

Tại sao lại sinh ra một tổ công tác với đội hình lại quái lạ như vậy?

Trung đội trưởng, Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng đi đâu, mà để Phó Trung đoàn trưởng phải trực tiếp chỉ huy một cán bộ cấp tiểu đội? Sĩ quan, chiến sĩ trẻ trung đi đâu, mà để một Thượng tá 48 tuổi phải lạch bạch đuổi theo mấy gã nông dân? Tại sao Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô không chốt ở vòng ngoài để chỉ đạo chung, mà lại sa đà truy đuổi mấy đối tượng, để rồi ngã xuống hố kỹ thuật?

Tại sao lại phân công một cán bộ chữa cháy vào tổ ba người để truy đuổi đối tượng? Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang giải thích: „Về việc tại sao tổ công tác có cả cán bộ phòng cháy chữa cháy hi sinh, thì lực lượng này là để xử lý tình huống các đối tượng có bom xăng, bùi nhùi…“ Song chỉ những đầu óc ngây ngô mới có thể thỏa mãn với lời giải thích ấy. Bởi lực lượng tấn công vào Đồng Tâm không thương dân đến mức lo chữa cháy nhà dân, và người dân cũng không dại dột đến mức tự phóng hỏa đốt nhà mình. Thành thử, nếu người dân có ném cái gọi là bom xăng (mà thực chất chỉ là mấy chai bia Hà Nội chứa xăng, được bịt nút bằng ni lông, không hiểu cháy kiểu gì – xem Ảnh 15) và bùi nhùi, thì cũng chỉ ném chúng ra đường, nên cùng lắm chỉ gây ra mấy đám cháy tượng trưng trên mặt đường, một lát sau sẽ tự tắt ngấm, hà tất phải cần đến cán bộ chữa cháy. (Hãy xem các video clip về biểu tình có bạo loạn ở trong và ngoài nước để thấy, chẳng có lính cứu hỏa nào lao vào dập mấy đám cháy trên mặt đường do bom xăng gây ra cả.)

Thông thường thì lính cứu hỏa chỉ đứng ở vòng ngoài, đợi khi có đám cháy to thì mới xông vào chữa cháy. Hơn nữa, lính cứu hỏa không chữa cháy một mình, mà thường sát cánh với nhiều đồng đội cùng tổ chữa cháy, những người đã từng cùng nhau dày công luyện tập hiệp đồng tác chiến. Vậy thì, tại sao lại tách riêng một mình cán bộ chữa cháy Phạm Công Huy, rồi phân vào một tổ với hai người xa lạ, để truy bắt đối tượng?

Không riêng Trung úy Phạm Công Huy, mà Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân cũng bị tách khỏi đội hình gần gũi. Thành thử, nếu có điều bất trắc xảy ra với họ, thì đồng đội thân thiết khó lòng hay biết. Chính vì thế, Huy đã ngã xuống từ khi trời chưa sáng, mà đến lúc họp giao ban hàng ngày Đội trưởng của Huy (Trung tá Nguyễn Như Ý) mới nhận được tin, và vẫn không tin, nên phải liên tục gọi điện thoại nhiều nơi để xác minh. Nghĩa là, khi ngã xuống, gần Huy chẳng có ai là đồng đội thân thuộc (cùng Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3).

Thật khó mà tìm được lý do chính đáng để biện minh cho việc lập ra một tổ công tác ba người với thành phần quái lạ như vậy. Tuy nhiên, nếu coi hi sinh và gây căm thù là đích, thì đội hình ấy lại có được mấy lợi thế như sau.

Một là, một tổ với ba người xa lạ thì chẳng gắn bó, khó phối hợp ăn ý, và không có ràng buộc tình cảm, nên dễ bị hi sinh hơn.

Hai là, tính mạng Thượng tá Phó Trung đoàn trưởng cao giá hơn hẳn tính mạng mấy sĩ quan cấp úy. Vì thế, tác dụng gây căm thù cũng cao hơn. Ngoài ra, trước khi chết, sĩ quan cấp cao còn có thể thi hành nhiệm vụ tuyệt mật, khó lòng trao cho sĩ quan trẻ với tâm hồn còn trong sáng.

Ba là, lính cứu hỏa được đào tạo để chữa cháy và cứu người trong những hoàn cảnh đời thường, nhưng khi bản thân bị giết thì khả năng tự vệ rất thấp. Đặc biệt, lính cứu hỏa có thể mang theo, hoặc buộc phải mang theo những thứ có thể gây cháy, để rồi chúng có thể trở thành nhiên liệu thiêu cháy chính bản thân và người khác, tương tự như hoàn cảnh được đề cập trong bài „Đồng Tâm: Lính bị ‘nướng’ 1000 độ?“ của Trung Hiếu. Mặt khác, cán bộ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là thành phần ít bị tai tiếng nhất trong lực lượng công an, nên dư luận càng thương cảm nếu bị giết hại. Hơn nữa, cán bộ chữa cháy Phạm Công Huy đang có đứa con thơ mới 6 tháng tuổi, nên cái chết của Huy lại càng có tác dụng gây căm thù trong nhân dân, đối với những ai bị Bộ Công an cáo buộc là hung thủ, hay đã ra lệnh cho hung thủ. Nghĩa là, chọn Trung úy chữa cháy Phạm Công Huy vào tổ đặc vụ sẽ đồng thời có được mấy lợi thế đặc biệt cho đích hi sinh và gây căm thù.

2.5. Tìm kẻ sát nhân

Một vài suy luận trong phần này tựa trên hai tiên đề sau.

Tiên đề 1: Cả ba sĩ quan công an đều bị chết cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà Lê Đình Chức và nhà Lê Đình Hợi.

Tiên đề 2: Xác người chết cháy trong Ảnh 18 và hai đám tro trong Ảnh 19 là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật.

Đương nhiên, nếu Tiên đề 1 hoặc Tiên đề 2 sai, thì kết luận tựa vào đó cũng có thể sai. Tuy nhiên, có cơ sở để tin vào hai tiên đề trên.

Một mặt, Tiên đề 1 phù hợp với công bố của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang vào ngày 14/1/2020: „Từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 m, anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.“

Mặt khác, Tiên đề 1 và Tiên đề 2 phù hợp với hiện trường được phản ánh qua Ảnh 18 và Ảnh 19. Trong Ảnh 18, ta thấy một xác người chết cháy, vừa được kéo lên từ hố kỹ thuật. Trong Ảnh 19, ta thấy có hai đám tro đen nằm gần miệng hố kỹ thuật. Nếu chỉ có vậy thì khó có thể xác định đó là đám tro gì. Nhưng nếu để ý kỹ, có thể nhìn thấy bên cạnh hai đám tro có ba que hương và trên mỗi đám tro có một que hương. Điều đó cho thấy, mỗi đám tro là tàn tích của một người mới chết. Hơn nữa, quan sát miệng hố kỹ thuật trong Ảnh 24 và các bậc thang trong Ảnh 25, ta thấy có tro đen rơi vãi trên đó. Chứng tỏ, hai đám tro đen đã được đem lên từ hố kỹ thuật. Việc ba người công an trong ảnh bày hoa quả và thắp hương cúng cho thấy, đó là những gì còn sót lại của đồng đội họ.

Có hai câu hỏi cần được trả lời:

(1) Vì sao ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật?

(2) Ai là người đã thiêu cháy ba sĩ quan công an và thiêu bằng cách nào?

Để trả lời hai câu hỏi trên, ta sẽ lần lượt khẳng định bốn mệnh đề sau.

Mệnh đề 1: Người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật.

Thứ trưởng Lương Tam Quang đã tuyên bố, rằng „anh em ngã xuống hố“. Nếu thông tin của ông Quang chính xác, thì từ đó có thể suy ra ngay Mệnh đề 1. Tuy nhiên, thông tin này của ông Quang lại là điều mà ta sẽ phủ định trong Mệnh đề 2. Vì thế, chỉ có thể vận dụng tuyên bố của ông Quang một cách gián tiếp. Giả thiết rằng, tuy phát ngôn sai, nhưng với tư cách Thứ trưởng Bộ Công an – cơ quan lên kế hoạch và chỉ huy cuộc tấn công vào Đồng Tâm, ông Quang biết rõ sự thật đã diễn ra. Do đó, việc ông Quang không cáo buộc các đối tượng đã đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật, mặc dù đã cáo buộc họ „sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt“, là bằng chứng cho thấy người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố.

Thực ra, chẳng cần phải dựa trên giả thiết đã nêu, thì lập luận như sau cũng đủ: Khi công an được trang bị súng đạn tối tân và luôn sẵn sàng nhả đạn, còn người dân Đồng Tâm không hề có súng bắn đạn, thì họ không thể đến gần để đẩy cả ba sĩ quan xuống hố. Vết đạn trong nhà cụ Lê Đình Kình (từ Ảnh 2 đến Ảnh 7), trên tường nhà ông Lê Đình Công (Ảnh 23) và trên gác thượng nhà ông Lê Đình Chức (xem Ảnh 26) cho thấy, lực lượng tấn công bắn không hề tiếc đạn. Vì vậy, người dân Đồng Tâm ra khỏi cửa còn không nổi, chứ đừng nói chuyện tiếp cận lực lượng tấn công khi họ hành sự.

Ảnh 23: Vết đạn trên tường nhà ông Lê Đình Công (chỉ có thể bắn qua cửa sổ nhà cụ Kình)

Mệnh đề 2: Không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Sau đây, ta trình bày một cách lập luận dựa trên quan sát cái cửa sổ trên hố kỹ thuật. Lập luận này dài hơn hẳn cách chứng minh sẽ được trình bày sau Mệnh đề 4, nhưng lại là phương án mà nhiều người cũng có thể nhận ra.

Như đã viết trong phần 2.3, khi xảy ra cuộc tấn công thì khu vực xung quanh hố kỹ thuật không hề tối và cũng không hề bị khói mù bao phủ. Do đó, ba sĩ quan công an phải nhìn thấy hố kỹ thuật. Tuy nhiên, ta cứ xét cả hoàn cảnh ba người đó không nhìn thấy hố kỹ thuật.

Trước hết, xét trường hợp hướng chuyển động giống như Trịnh Bá Phương đã tường thuật: „Hôm 9/1 CSCĐ đã phá cửa tầng 1 nhà ông Hợi, rồi trèo lên tầng 2, tiếp đó họ phá cửa sổ nhà ông Hợi để nhảy sang sân thượng nhà ông Chức.“ Lưu ý rằng tình tiết „họ phá cửa sổ nhà ông Hợi (từ trong nhà phá ra) để nhảy sang sân thượng nhà ông Chức“ phù hợp với vết tích cửa sổ bị phá trong Ảnh 18. Trong trường hợp này, hình ảnh của ba người lấp ló sau khung cửa sổ trong Ảnh 24 cho thấy, cửa sổ không đủ rộng để có thể nhìn thấy hết cả ba cơ thể, nếu họ đứng sát nhau và cùng quay về phía hố kỹ thuật. Trên thực tế, cửa sổ rộng chưa đến 80 cm. Vì vậy, ba công an không thể chui lọt qua cửa sổ cùng một lúc. Chỉ có hai cách để vượt qua cửa sổ:

– Cách thứ nhất, đứng một chân trên nền nhà và chân kia vắt qua cửa sổ. Trường hợp này chỉ xảy ra khi họ tưởng sân thượng nhà ông Chức tiếp giáp trực tiếp với bức tường có cửa sổ của nhà ông Hợi, tức là họ không hề biết có hố kỹ thuật ở sau cửa sổ.

– Cách thứ hai, trèo lên và đứng cả hai chân trên bục cửa sổ, đồng thời hai tay vịn hai bên khung cửa sổ, rồi nhảy xuống.

Với cả hai cách, chỉ một người đã chiếm hết bề rộng của cửa sổ. Nghĩa là, chỉ có thể từng người vượt qua một. Do đó, khi người thứ nhất tìm cách vượt qua và bị rơi xuống hố kỹ thuật, thì đương nhiên hét lên, khiến hai người kia lùi lại, không vượt qua nữa.

Lưu ý rằng, nếu đứng trên bục cửa sổ nhà ông Hợi, cao hơn sân thượng nhà ông Chức khoảng 85 cm, thì có thể dễ dàng nhảy qua chiều rộng khoảng 77 cm của hố kỹ thuật, để sang sân thượng.

Bây giờ ta xét trường hợp hướng chuyển động ngược lại, như Thứ trưởng Lương Tam Quang đã tường thuật, rằng „truy bắt đối tượng từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi“. Tức là truy đuổi theo hướng từ sân thượng nhà ông Chức, vượt qua hố kỹ thuật để chui vào cửa sổ của nhà ông Hợi. Trường hợp này khó xảy ra, vì không dễ vượt qua cùng một lúc cả chiều rộng khoảng 77 cm của hố kỹ thuật, lẫn chiều cao khoảng 85 cm của bục cửa sổ (xem Ảnh 24 và Ảnh 25). Hơn nữa, trong đêm bị tấn công thì cửa sổ ấy đóng (nên mới có dấu vết phá cửa trong Ảnh 18). Vì vậy, người dân Đồng Tâm không thể chạy trốn qua lối ấy, và do đó cũng chẳng có lý do gì khiến ba công an phải truy đuổi họ theo lối ấy. Nhưng nếu vì một lý do đặc biệt nào đó, mà cuộc rượt đuổi vẫn xảy ra theo lối ấy, thì vẫn có thể khẳng định, không thể có chuyện cả ba công an đồng thời nhảy qua hố kỹ thuật. Bởi chỉ từng người vượt qua hố, thì mới có hy vọng chui lọt vào ô cửa sổ hẹp chưa đến 80 cm. Và cũng tương tự như trường hợp trên, khi người thứ nhất bị rơi xuống hố kỹ thuật thì hét lên, khiến hai người kia lùi lại…

Tóm lại, trong cả hai trường hợp đã xét, không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Ảnh 24: Sân thượng nhà ông Chức, hố kỹ thuật và cửa sổ nhà ông Hợi với ba người lấp ló

Ảnh 25: Hố kỹ thuật với cái thang có tro đen rơi trên các bậc

Thực ra, sân thượng nhà ông Lê Đình Chức tiếp giáp trực tiếp với ban công nhà ông Lê Đình Hợi (xem Ảnh 26). Chỉ cần vắt chân qua thành ban công là có thể dễ dàng bước từ sân thượng nhà ông Chức sang ban công nhà ông Hợi, và ngược lại. Chỗ tiếp giáp ấy chỉ cách hố kỹ thuật mấy mét. Cho nên, chẳng có lý do gì khiến một cuộc chạy trốn và đuổi bắt giữa hai nhà lại phải diễn ra qua lối có hố kỹ thuật. Nói cách khác, truy bắt đối tượng không phải là lý do đích thực khiến ba sĩ quan công an cùng đến nơi có hố kỹ thuật, để rồi kết thúc cuộc đời ở đó.

Ảnh 26: Từ sân thượng nhà ông Chức nhìn về phía ban công nhà Hợi, hố kỹ thuật và tum nhà ông Chức

Mệnh đề 3: Thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Thật vậy, giả sử thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an ở dạng lỏng, thì để thiêu đến mức độ như trong Ảnh 18 và Ảnh 19, phải đổ vào hố kỹ thuật một lượng nhiên liệu rất lớn, lớn đến mức chất lỏng phải phủ kín và phủ đều toàn bộ đáy hố kỹ thuật. Do đó, mức độ cháy phải đồng đều trên toàn bộ đáy hố, khiến nhiệt phân bố đều bốn phía, và chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phải tương đối bằng nhau. Hơn nữa, với lượng nhiên liệu lỏng lớn, lại cháy trong một hố kỹ thuật vừa sâu (415 cm) vừa hẹp (77 cm x 138 cm), và với mấy tử thi bị thiêu cháy đến như vậy, thì chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen phải khá lớn, và màu đen phải nhạt dần đều khi lên cao. Thế nhưng, quan sát Ảnh 27 và Ảnh 28, ta thấy hoàn toàn ngược lại:

– Chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen rất khác nhau, trong đó chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phía bên trái bức ảnh lớn hẳn so với ba phía còn lại.

– Trên vách hố phía bên trái bức ảnh có mấy vết rạn tường mới tinh, trong khi trên vách hố các phía khác không có vết rạn nào, chứng tỏ nhiệt lượng sinh ra ở phía trái cao hơn hẳn.

– Ở một số vị trí, chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen tương đối nhỏ, và vùng vách hố bị ám khói đen dừng lại khá đột ngột, chứ không nhạt dần đều khi lên cao. Có lẽ vì vậy, một số người từng trực tiếp quan sát hố kỹ thuật đã nhận xét, không thấy dấu hiệu của vụ cháy.

Điều đó cho thấy, thứ nhiên liệu được dùng không phải là chất lỏng, mà ở dạng bột, hay dạng rắn, hay trộn lẫn, nên phân bố không đều trên đáy hố kỹ thuật. Nhiên liệu ấy cực mạnh, sinh ra nhiệt độ rất cao, nên tuy cháy trong một thời gian khá ngắn (tức không cháy lâu như xăng), nhưng vẫn đủ để thiêu hai người thành tro.

Ảnh 27: Dấu vết vụ cháy trong hố kỹ thuật

Ảnh 28: Vết rạn trên vách bên trái của hố kỹ thuật

Mệnh đề 4: Cáo buộc mấy người dân Đồng Tâm đã đổ xăng để thiêu cháy ba sĩ quan công an là sai sự thật.

Vì xăng là chất lỏng, mà Mệnh đề 3 đã khẳng định thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng, nên cáo buộc mấy người dân Đồng Tâm đã đổ xăng để thiêu cháy ba sĩ quan công an là sai sự thật.

Sau khi đã chứng minh Mệnh đề 3, thì chứng minh Mệnh đề 4 chỉ ngắn như vậy. Song sau đây, ta sẽ trình bày thêm một cách lập luận khác.

Theo Mệnh đề 1 thì người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật. Và theo Mệnh đề 2 thì không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng ngã xuống hố kỹ thuật. Thế mà, theo Tiên đề 1, cả ba người vẫn bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà Lê Đình Chức và nhà Lê Đình Hợi. Điều đó chứng tỏ, có kẻ nào đó đã ném họ xuống hố đó. Và để họ không chống cự, thì phải ra tay hạ thủ trước khi ném họ xuống. Vì ba sĩ quan công an có súng, lại từng được đào tạo võ nghệ, nên chắc hung thủ phải hạ thủ họ bằng súng, vừa nhanh gọn và vừa chắc ăn.

Theo Tiên đề 2, xác người chết cháy trong Ảnh 18 và hai đám tro trong Ảnh 19 là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật. Tạm gọi nhân vật bị chết trong Ảnh 18 là X, hai nhân vật bị chết trong Ảnh 19 là Y và Z. Rõ ràng, hình hài của X còn hầu như nguyên vẹn, trong khi thi thể của Y và Z thì bị cháy thành tro. Cùng bị thiêu trong một hố vừa sâu vừa hẹp, với kích thước đáy là 77 cm x 138 cm, nên khi dãy dụa trên nền hố (do bị nóng quá), thì thân thể chạm vào nhau, thậm chí chồng một phần lên nhau. Mặt khác, Ảnh 27 và Ảnh 28 cho thấy, nơi thấp nhất của vùng bị ám khói đen trên vách hố cũng không quá thấp. Vậy thì tại sao lại có sự khác biệt quá lớn giữa vết tích còn lại của ba thi thể như vậy?

Rõ ràng Y và Z đã bị ném xuống hố trước. Sau khi Y và Z bị thiêu một thời gian đáng kể, lúc nhiên liệu chỉ còn lại khá ít, thì X mới bị ném xuống hố. Vì thế, Y và Z bị cháy thành tro, còn hình hài của X thì vẫn gần như nguyên vẹn. Nghĩa là, sau khi ném Y và Z xuống hố thì hung thủ vẫn ở lại cạnh hố, để rồi ném tiếp X xuống hố. Hiển nhiên, khi hung thủ (có súng) vẫn còn có mặt ở hiện trường, thì không người dân Đồng Tâm nào có thể mon men đến gần, để đổ nhiên liệu vào hố kỹ thuật mà phóng hỏa.

Lập luận này quan trọng ở chỗ, nó vẫn còn nguyên tác dụng bác bỏ, trong trường hợp phía công an lại sửa kịch bản, cáo buộc người dân Đồng Tâm đã dùng nhiên liệu dạng bột hay dạng rắn (chứ không phải xăng), để thiêu cháy ba sĩ quan công an.

Lối suy luận như trong cách chứng minh thứ hai cho Mệnh đề 4 có ích cho việc tìm ra thủ phạm. Hơn nữa, còn giúp ta có thêm một cách chứng minh cực ngắn sau đây cho Mệnh đề 2.

Giả sử Mệnh đề 2 sai, tức là cả ba sĩ quan công an đã ngã xuống hố kỹ thuật cùng một lúc. Nếu thế thì họ đã bị thiêu cùng một lúc. Do đó, khi Y và Z bị thiêu thành tro thì X cũng phải thành tro, hay ít nhất cũng phải khác rất xa nguyên dạng. Điều này mâu thuẫn với thực trạng được thể hiện qua Ảnh 18 và Ảnh 19. Vì thế Mệnh đề 2 phải đúng.

Thực ra, sau khi đã bắn chết ba sĩ quan công an, thì đương nhiên hung thủ phải tự tay phóng hỏa, thiêu cháy nạn nhân nhằm phi tang. Tức là, nếu chỉ dựa trên tâm lý thông thường, thì Mệnh đề 4 cũng phải đúng.

Tuy nhiên, một số người có thể bác bỏ Mệnh đề 4, vì dựa vào lời khai sau đây của Lê Đình Doanh, mà VTV đã trình chiếu (xem video clip trong bài „Tướng Lương Tam Quang thông tin về ‘mưu đồ’ của cha con Lê Đình Kình“ đăng trên Vietnamnet):

Ông Chức có sai tôi là châm lửa, thì ông Chức có bảo tôi là đẩy mạnh về phía trước là được, thì tôi có đẩy mạnh về phía đằng trước, và sau đó tôi đi xuống thì thấy ông Chức có đổ xăng từ 3 đến 5 lần gì đó, và tôi thấy cán bộ có tiếng hét lên. Tôi biết là có cán bộ ở dưới. Và tôi nghe thấy ông Chức nói: Chết mày đi.“

Thuyết phục chưa? Vậy hãy từ từ ngẫm lại nhé. Đầu tiên, ông Chức sai Doanh châm lửa. Sau khi châm lửa thì Doanh đi xuống, còn ông Chức ở lại và đổ xăng xuống hố kỹ thuật. Tức là, ông Chức đứng trên sân thượng và đổ xăng xuống đám cháy trong hố. Điều gì sẽ xảy ra? Ngay cả trẻ con cũng biết, lửa ở dưới hố sẽ bén ngay vào dòng xăng, chảy xuống từ can xăng mà ông Chức đang cầm, khiến cả can xăng cũng bùng cháy. Hiển nhiên, ông Chức phải buông tay ra, và can xăng rơi xuống, tràn lênh láng trên mặt sân thượng. Thế là ông Chức bị lửa bao vây. Không sao. Theo lời khai của Doanh, ông Chức vẫn tiếp tục đổ thêm xăng từ 2 đến 4 lần gì đó. Vậy là lửa quanh người ông Chức càng bốc cháy dữ dội. Song cuối cùng ông Chức vẫn sống, để rồi bị công an bắt và truy tố vì tội giết người thi hành công vụ. Ngạc nhiên chưa?

Rõ ràng, kịch bản mà Doanh bị ép phải khai nhận hoàn toàn phi lí và ngớ ngẩn. Vậy mà VTV vẫn chiếu đi chiếu lại. Vậy mà nhiều báo vẫn đăng đi đăng lại. Vậy mà nhiều người vẫn tin. Buồn thay.

Vì sao Lê Đình Doanh lại khai nhận cái điều vừa phi lí và ngớ ngẩn, vừa tai hại cho bản thân như vậy? Hãy quan sát dáng lết đi xiêu vẹo của Lê Đình Doanh lúc trình diễn để quay phim, đến mức phải có hai diễn viên công an dìu hai bên (xem Ảnh 29 và video clip trong bài „Tướng Lương Tam Quang thông tin về ‘mưu đồ’ của cha con Lê Đình Kình“ đăng trên Vietnamnet, từ thời điểm 05:49 đến thời điểm 05:56). Qua đó có thể nhận ra một phần hậu quả của việc tra tấn ép cung. E rằng, trong hoàn cảnh ấy, nếu bị ép phải thừa nhận đã ám sát Tổng thống John F. Kennedy, thì Doanh cũng cúi đầu nhận tội.

Ảnh 29: Dáng đi xiêu vẹo của Lê Đình Doanh, đến mức phải có hai công an dìu hai bên

Điều đáng lo là, sau khi đã có được lời khai nhận ấy của Lê Đình Doanh, thì cơ hội sống để xuất hiện tại tòa của Lê Đình Chức cũng giảm hẳn. Bởi nếu để ông Chức sống và không chấp nhận lời khai của Doanh tại phiên xét xử, thì vở kịch khó hạ màn trọn vẹn.

Tóm lại, từ Mệnh đề 1 và Mệnh đề 4, ta rút ra: Người dân Đồng Tâm không hề có lỗi trực tiếp hay gián tiếp đối với cái chết của ba sĩ quan công an. Họ không hề làm gì khiến ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật. Và họ cũng không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật rồi châm lửa đốt ba sĩ quan công an, như phía công an đã cáo buộc.

Từ Mệnh đề 2, Mệnh đề 3 và lập luận khi chứng minh Mệnh đề 4, ta rút ra: Có kẻ đã hạ thủ ba sĩ quan công an và ném họ xuống hố kỹ thuật. Ban đầu ném xuống hai người, rồi phóng hỏa thiêu cháy họ. Khi nhiên liệu chỉ còn lại khá ít, thì người còn lại mới bị ném xuống. Thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an không phải là chất lỏng (chẳng hạn như xăng), mà là một thứ nhiên liệu cực mạnh ở dạng bột, hay dạng rắn, hay tương tự.

Không phải là người dân Đồng Tâm, lại có thể đến gần ba sĩ quan công an được trang bị đầy đủ súng ống để hạ thủ họ, thì hung thủ có thể đến từ đâu, nếu không phải từ đám tấn công vào Đồng Tâm?

Để thu được các kết luận trên, tôi đã cố tình trình bày hai cách lập luận khác nhau cho Mệnh đề 1, Mệnh đề 2 và Mệnh đề 4. Không phải vì thích dài dòng, mà đề phòng trường hợp một cách lập luận có sơ hở, hay chưa đủ thuyết phục, thì vẫn còn có cách lập luận kia. Phải thận trọng và chắc chắn như vậy, bởi lương tâm đòi hỏi chúng ta không chỉ bảo vệ danh dự và trả lại công bằng cho người đã khuất, mà còn bảo vệ tính mạng của bà con Đồng Tâm đang quằn quại chốn lao tù.

Việc công an trưng ra lời khai của Nguyễn Văn Tuyển, rằng „cụ Kình chỉ đạo cứ cho 3 thằng chết là phải chạy hết“, chẳng có sức thuyết phục. Ngược lại, chỉ làm tăng thêm nghi ngờ: Con số „3 thằng chết“ không phải là kết cục mang tính ngẫu nhiên, mà đã được xác định từ khi lên kế hoạch.

Viết đến đây đã có thể dừng lại, bởi mục đích cao nhất của bài viết này không phải là xác định đích danh thủ phạm giết người, mà là minh oan cho cụ Lê Đình Kình, cùng những người dân Đồng Tâm đang bị giam giữ và sẽ bị đem ra xét xử. Để họ không bị kết án oan sai. Và cũng giúp cơ quan điều tra, xét xử không kết tội oan sai. Hơn nữa, giúp những người quá tin vào cái gọi là thông tin chính thống bình tâm nghĩ lại, tránh lên án và xúc phạm những nạn nhân vô tội.

Xác định đúng ai đã ra lệnh và ai đã trực tiếp hạ thủ, thiêu cháy ba sĩ quan công an, đó là công việc của những người có trách nhiệm điều tra và thật sự muốn điều tra. Cho đến khi có được kết quả điều tra thật sự đáng tin, mọi người đều có quyền suy đoán theo cách của mình.

Khi điều tra hay suy đoán, cần xét mọi trường hợp có thể xảy ra. Không nên bỏ qua mấy câu hỏi sau:

– X là ai? X còn sống hay đã chết khi hung thủ phóng hỏa thiêu Y và Z? Nếu lúc đó X đã chết, thì tại sao hung thủ không ném X xuống hố cùng một lúc với Y và Z, mà lại đợi đến khi nhiên liệu đã cháy gần hết mới ném X xuống hố, khiến hiệu quả phi tang bị giảm hẳn? Còn nếu lúc đó X vẫn còn sống, thì X làm gì khi Y và Z bị hạ thủ, bị ném xuống hố và bị thiêu cháy?

– Có khám nghiệm tử thi đối với X hay không? Nếu có khám nghiệm tử thi, thì có tìm thấy bằng chứng X bị hạ thủ trước khi bị ném xuống hố kỹ thuật hay không? Nếu không khám nghiệm tử thi, thì tại sao lại không? Đã quá biết nguyên nhân cái chết của cụ Kình, mà vẫn đem thi thể cụ ra mổ phanh thây, thì tại sao không khám nghiệm tử thi đối với X? Ai không chịu ra lệnh, hay cản trở việc khám nghiệm tử thi đối với X?

– Ai đã quyết định lập ra tổ công tác ba người (gồm Nguyễn Huy Thịnh, Dương Đức Hoàng Quân và Phạm Công Huy)? Ai đã điều động cán bộ chữa cháy Phạm Công Huy về tổ ấy?

Trong bài „Nghẹn ngào tang lễ 3 chiến sĩ hy sinh tại Đồng Tâm“ đăng trên Vietnamnet có câu: „Mẹ của liệt sĩ Nguyễn Huy Thịnh cho biết sau lễ truy điệu, thi hài con trai sẽ được hỏa táng và đưa về an táng tại nghĩa trang quê nhà, xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm.“

Phải chăng, đó là dấu hiệu cho thấy X là Nguyễn Huy Thịnh? Bởi nếu Nguyễn Huy Thịnh là Y hay Z, thì đã bị cháy thành tro, có thể an táng ngay, chẳng cần phải „hỏa táng“ nữa.

3. Mấy điều đọng lại

Đêm 30 Tết, trời Hà Nội đổ mưa như trút nước, gió giật, sấm chớp đùng đùng – một hiện tượng thiên nhiên chưa từng xảy ra vào thời điểm Tết nguyên đán. Nhiều người chia sẻ cảm giác, Trời nổi cơn thịnh nộ vì tội ác diễn ra ở Đồng Tâm.

3.1.

Đang đêm, huy động hàng ngàn cảnh sát tấn công vào Đồng Tâm, hành hạ và giết chết cụ Lê Đình Kình ngay trên giường ngủ, đồng thời bắt đi mấy chục người dân.

Rồi Bộ công an công bố: „Trong quá trình xây dựng (tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn), sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, dẫn đến hậu quả 03 cán bộ chiến sĩ Công an hi sinh, 01 đối tượng chống đối chết…“

Trên thực tế, địa điểm tấn công cách nơi xây dựng tường rào Sân bay Miếu Môn mấy cây số, và thời điểm tấn công diễn ra mấy tiếng đồng hồ trước khi công việc xây dựng hàng ngày tại Sân bay Miếu Môn bắt đầu.

Phải bịa ra lý do phi thực tế đến thế để biện minh cho hành động tấn công vào Đồng Tâm và giết chết cụ Kình, điều đó chứng tỏ bản thân những người cầm đầu cũng biết rất rõ, hành động của họ là hoàn toàn phi lí và phi pháp. Hơn nữa, nó cũng thể hiện thói quen hành xử bất chấp pháp luật và coi thường nhân dân, coi muôn dân như bầy ngốc ngếch, chẳng biết tư duy, nên họ nói dối thế nào cũng phải nghe, phải tin.

3.2.

Trước khi bị bắn vào tim, cụ già 84 tuổi đã bị tra tấn, hành hạ hết sức dã man. Hình ảnh đầu gối cụ Kình bị bắn vỡ tung (Ảnh 8) và thi thể của cụ bị mổ phanh từ cổ đến đáy bụng (Ảnh 9) thể hiện rõ khát vọng và quyết tâm trả thù. Trả thù cụ Kình và những người dân Đồng Tâm đã dám sát cánh bên cụ, bảo vệ quyền sử dụng vùng đất mà họ vẫn sử dụng. Đồng thời đe dọa tất cả những ai dám cứng đầu trước cường quyền, đấu tranh giữ đất như bà con Đồng Tâm.

Tội của cụ Kình là… vô tội. Vì thế, họ không thể bắt giam để đem ra xét xử, mà giết cụ ngay trên giường ngủ. Cũng vì thế, người đảng viên 58 tuổi đảng không bị khai trừ khỏi đảng, cho đến khi bị đồng chí đang tâm giết hại.

3.3.

Trong trận tấn công vào Đồng Tâm, ba sĩ quan công an đã bị giết chết.

Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang tuyên bố: Anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.“

Cái chết bi thảm của ba sĩ quan công an khiến bao người phẫn nộ, căm thù gia đình cụ Kình và người dân Đồng Tâm. Nhờ thế, lấn át được dư luận lên án hành vi giết hại cụ Kình, và khiến nhiều người đồng tình ủng hộ cuộc tấn công phi pháp vào Đồng Tâm.

Thế nhưng, phần 2.5 đã chỉ ra: Người dân Đồng Tâm không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật để thiêu cháy ba sĩ quan công an. Hơn nữa, nếu thừa nhận Tiên đề 1 (tức là cả ba sĩ quan công an đều bị chết cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà Lê Đình Chức và nhà Lê Đình Hợi) và Tiên đề 2 (tức là xác người chết cháy trong Ảnh 18 và hai đám tro trong Ảnh 19 là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật), thì có thể suy ra: Ba sĩ quan công an không tự ngã xuống hố kỹ thuật. Họ đã bị ném xuống hố và bị thiêu cháy, nhưng không phải bởi người dân Đồng Tâm.

3.4.

Việc giết hại cụ Lê Đình Kình và việc giết hại ba sĩ quan công an đều là tội ác. Hai tội ác giết người ấy đều phải bị khởi tố, điều tra và đem ra xét xử nghiêm khắc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố 20 bị can người Đông Tâm về hành vi giết người thi hành công vụ. Việc đó cũng na ná như đội quân xâm lược mà lại cáo buộc người dân bản xứ tội giết người, khi họ sử dụng quyền tự vệ chính đáng của mình. Tuy nhiên, như đã viết ở trên, cả 20 bị can đã bị khởi tố đều không liên can đến cái chết của ba sĩ quan công an.

Còn việc giết hại cụ Lê Đình Kình bất chấp pháp luật thì vẫn chưa bị khởi tố, mặc dù hàng chục người đã ký đơn tố giác tội phạm gửi Viện Kiểm sát Nhân dân và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội.

Không thể chỉ chăm chăm truy tố tội giết người thi hành công vụ, mà lờ đi tội nhân danh thi hành công vụ để giết người.

3.5.

Với tội ác Đồng Tâm, nhà cầm quyền đã tự tay giáng đòn trí mạng vào tử huyệt của chế độ. Muốn giải huyệt, thì phải thừa nhận tội ác, chấm dứt ngay chiến dịch vu khống, xuyên tạc sự thật, chấm dứt giam giữ và bức cung những người vô tội. Nếu tiếp tục bức cung, rồi dựa vào đó để kết án, thì chỉ đổ thêm dầu vào lửa, khiến cho tình hình ngày càng thêm trầm trọng và bế tắc.

Đừng vin vào mấy lời chém gió của mấy vị ba hoa để kết tội người dân Đồng Tâm. Họ cũng chỉ giống như bao triệu người đã từng „Thề phanh thây uống máu quân thù“ (lời Quốc ca một thời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), song chẳng bao giờ phanh thây uống máu một ai.

3.6.

Cải cách ruộng đất đã gây ra bao tội ác tày trời, khiến Chủ tịch Hồ Chí Minh phải nhỏ lệ xin lỗi nhân dân và Tổng bí thư Trường Chinh phải từ chức. Tội lỗi ấy được châm chước phần nào, nhờ thành quả „người cày có ruộng“ mà Cải cách ruộng đất đã mang lại.

Song, với quy định „Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý“, thế lực cầm quyền đã thẳng tay xóa bỏ thành quả tích cực ấy, khiến Cải cách ruộng đất chỉ còn sót lại trong lịch sử Dân tộc với tội ác. Hơn thế nữa, quy định ấy còn là nguyên nhân gốc rễ sinh ra bao tội ác khác, trong đó có tội ác Thủ Thiêm và tội ác Đồng Tâm.

Để chấm dứt chuỗi tội ác do nạn chiếm đoạt đất đai gây ra, phải hủy bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân trong Hiến pháp.

Để làm dịu nỗi đau do tội ác Đồng Tâm gây ra, đã hô hào học tập và làm theo, thì cũng nên học theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh và Trường Chinh sau sai lầm của Cải cách ruộng đất. Chí ít cũng xin lỗi gia đình cụ Lê Đình Kình và nhân dân Đồng Tâm.

Ghi chú: Bài viết này có sử dụng một số bức ảnh được sưu tầm từ Internet, hoặc được trích ra từ các video clip có trên Internet. Người viết cảm ơn những người đã chụp các bức ảnh, hoặc quay các video clip liên quan.

Hà Nội, ngày 11 tháng 02 năm 2020

VIẾT THÊM VỀ TỘI ÁC ĐỒNG TÂM

Hoàng Xuân Phú

Ngày 12-6, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội đã ra kết luận điều tra về vụ Đồng Tâm. Văn Việt đăng lại bài của GS Hoàng Xuân Phú để nhắc nhở chúng ta ghi sâu tội ác “trời không dung đất không tha” này.

Văn Việt

Kết thúc phần 2 của bài Tội ác Đồng Tâm, tôi đã viết:

Mục đích cao nhất của bài viết này không phải là xác định đích danh thủ phạm giết người, mà là minh oan cho cụ Lê Đình Kình, cùng những người dân Đồng Tâm đang bị giam giữ và sẽ bị đem ra xét xử. Để họ không bị kết án oan sai. Và cũng giúp cơ quan điều tra, xét xử không kết tội oan sai. Hơn nữa, giúp những người quá tin vào cái gọi là thông tin chính thống bình tâm nghĩ lại, tránh lên án và xúc phạm những nạn nhân vô tội.

Để đạt được mục đích đó, tôi đã phải kiềm chế tối đa, hơn hẳn mức kiềm chế thường vận dụng khi viết các bài phản biện khác. Với thiện chí ấy, hy vọng những người có trách nhiệm bình tĩnh đọc hết bài Tội ác Đồng Tâm, để hiểu rằng: Cả kịch bản, đạo diễn và dàn diễn viên của vở kịch mang tên Đồng Tâm đều quá tồi tệ. Và tìm được trả lời hợp lý cho câu hỏi: Phải làm gì khi âm mưu tệ hại đã bị bại lộ?

Cuối bài Tội ác Đồng Tâm, tôi đã đưa ra mấy lời khuyên chân thành:

„Với tội ác Đồng Tâm, nhà cầm quyền đã tự tay giáng đòn trí mạng vào tử huyệt của chế độ. Muốn giải huyệt, thì phải thừa nhận tội ác, chấm dứt ngay chiến dịch vu khống, xuyên tạc sự thật, chấm dứt giam giữ và bức cung những người vô tội. Nếu tiếp tục bức cung, rồi dựa vào đó để kết án, thì chỉ đổ thêm dầu vào lửa, khiến cho tình hình ngày càng thêm trầm trọng và bế tắc.“

Để làm dịu nỗi đau do tội ác Đồng Tâm gây ra, đã hô hào học tập và làm theo, thì cũng nên học theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh và Trường Chinh sau sai lầm của Cải cách ruộng đất. Chí ít cũng xin lỗi gia đình cụ Lê Đình Kình và nhân dân Đồng Tâm.

Tiếc rằng, thế lực cầm quyền vẫn chẳng có biểu hiện nào tỏ ra hối tiếc. Ngược lại, còn để cho đám lâu la mang sắc phục công an trâng tráo tới nhà cụ Lê Đình Kình hết lần này đến lần khác. Ngày 12/2, chúng đòi cưa thanh sắt có vết đạn trên cửa xếp. Ngày 13/2, chúng trao giấy triệu tập cụ bà Dư Thị Thành (vợ cụ Lê Đình Kình). Ngày 20/2, chúng đòi khám nhà. Thử hỏi, còn gì để khám nữa? Bởi lẽ, từ sáng sớm 9/1/2020, công an đã chiếm đóng và tha hồ lục soát ngôi nhà nhỏ của gia đình cụ Kình suốt ba ngày đêm, trước khi để cho vợ và con cháu cụ trở về nhà. Rõ ràng là muốn phi tang, đồng thời tiếp tục hành hạ, khủng bố tinh thần mấy người phụ nữ và trẻ con tội nghiệp còn lại trong gia đình cụ Kình. Vì vậy, tôi buộc phải viết thêm bài này, nhằm vạch rõ hơn chân tướng của vụ thiêu cháy ba sĩ quan công an.

Tại sao các cấp lãnh đạo của chế độ này lại để mặc cho đám kiêu binh tiếp tục hành xử như vậy? Chả lẽ, đến bây giờ vẫn chẳng có ai trong bộ máy cầm quyền nhận ra lỗi lầm của vụ đàn áp Đồng Tâm hay sao? Hay phải chăng, có đủ quyền lực thì thiếu minh mẫn, còn đủ minh mẫn thì lại thiếu quyền lực? Hay nếu đủ cả quyền lực và minh mẫn, thì lại thiếu đạo đức?

Hy vọng, trong giới cầm quyền vẫn còn có nhiều người vừa có quyền lực, vừa minh mẫn, vừa có đạo đức. Nhưng những năm tháng đằng đẵng hít thở bầu không khí độc tài ngột ngạt đã thiến dần dũng khí, để lại những tâm hồn bị nhiễm nặng bản năng ngậm miệng triền miên, hay luôn quá thận trọng, như mắc phải một chứng bệnh kinh niên. Thành thử, với một số người, có thể những chứng cứ và lập luận đã được trình bày vẫn chưa đủ thuyết phục. Vậy thì mời đọc thêm bài này.

1. Nối mạch tư duy

Đang đêm, khi hầu hết mọi người sống trên đất Việt còn đang chìm sâu trong giấc ngủ, thì mấy nghìn cảnh sát tấn công vào xã Đồng Tâm. Tâm điểm của trận tấn công là nhà cụ Lê Đình Kình. Đối tượng chính của cuộc tấn công chính là cụ Lê Đình Kình.

Sau khi vãi đạn vào ngôi nhà nhỏ, chúng đã tra tấn cụ Kình hết sức dã man, bắn vỡ tung đầu gối chân trái của cụ. Vâng, đúng cái chân mà đám thi hành công vụ đã từng đá vỡ xương đùi, khi lừa cụ ra đồng để bắt cóc vào năm 2017. Kết thúc cuộc đời cụ Kình bằng phát súng bắn thẳng vào tim, rồi chúng mang thi thể cụ đi mổ phanh thây, kéo một đường suốt từ cổ xuống đáy bụng.

Để biện hộ cho cuộc tấn công và giết người hoàn toàn phi pháp, họ bịa ra chuyện „trong quá trình xây dựng, sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng“. Hơn nữa, họ còn vu khống trắng trợn, rằng „trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ“.

Buồn thay, những lời dối trá trên cả trơ trẽn ấy lại đánh lừa được khối người nhẹ dạ cả tin, hoặc quá lười suy nghĩ, hoặc chăm suy nghĩ nhưng lại không đủ khả năng tư duy.

Tuy nhiên, dư luận tỉnh táo đã nhanh chóng vạch trần những luận điệu giả dối, khiến Bộ Công an phải liên tục sửa kịch bản. Song thực chất đã sai, thì sửa mấy vẫn cứ sai.

Lẽ ra, kể cả những người tin đảng, yêu chế độ cũng khó kiềm chế phê phán việc công an giết hại cụ già tàn tật đã 84 tuổi. Nhưng cái chết của Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân và Trung úy Phạm Công Huy đã đảo chiều dư luận. Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang tuyên bố: „Từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 mét, anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.“ Ba cái chết bi thảm khiến bao người căm thù cụ Lê Đình Kình và những người dân Đồng Tâm sát cánh bên cụ. Cơn phẫn nộ mạnh đến mức xóa tan những băn khoăn về cuộc tấn công phi pháp và việc giết hại cụ Kình.

Tuy nhiên, tuyên bố ấy của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cũng chỉ là một mắt xích then chốt trong chuỗi xích thuần chất dối trá của Bộ Công an trong vụ Đồng Tâm. Để bác bỏ, tôi đã khẳng định trong bài Tội ác Đồng Tâm

Mệnh đề 4: Cáo buộc mấy người dân Đồng Tâm đã đổ xăng để thiêu cháy ba sĩ quan công an là sai sự thật.

Mệnh đề trên là hệ quả trực tiếp của

Mệnh đề 3: Thứ vật liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Bài Tội ác Đồng Tâm không chỉ bác bỏ tuyên bố của Thứ trưởng Bộ Công an về khía cạnh „các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt“, mà còn bác bỏ cả khía cạnh „anh em ngã xuống hố“, thông qua

Mệnh đề 2: Không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Một điều mà Bộ Công an chưa cáo buộc, nhưng vẫn phải phòng xa mà khẳng định trước, đó là

Mệnh đề 1: Người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật.

Từ Mệnh đề 1 và Mệnh đề 4 ta rút ra: Người dân Đồng Tâm không hề có lỗi trực tiếp hay gián tiếp đối với cái chết của ba sĩ quan công an. Họ không hề làm gì khiến ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật. Và họ cũng không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật rồi châm lửa đốt ba sĩ quan công an, như Bộ Công an đã cáo buộc.

Từ Mệnh đề 1, Mệnh đề 2 và Mệnh đề 4 ta rút ra: Có kẻ đã hạ thủ ba sĩ quan công an và ném họ xuống hố kỹ thuật để thiêu cháy, và kẻ đó không phải là người dân Đồng Tâm.

Câu hỏi hết sức tự nhiên là: Không phải là người dân Đồng Tâm, lại có thể đến gần ba sĩ quan công an được trang bị đầy đủ súng ống để hạ thủ họ, thì hung thủ có thể đến từ đâu, nếu không phải từ đám tấn công vào Đồng Tâm? Vừa đọc xong câu hỏi, hẳn đã tự có câu trả lời.

Câu hỏi tiếp theo là: Tại sao hung thủ lại giết ba sĩ quan công an? Do tư thù, hay thi hành công vụ, một thứ công vụ khốn nạn như bao công vụ khác ở xứ này?

Rõ ràng, không thể do tư thù. Thịnh và Quân đều công tác tại Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô. Nhưng Thịnh là Thượng tá Phó Trung đoàn trưởng, còn Quân chỉ là Thiếu úy Tiểu đội trưởng, hai vị trí công tác xa nhau đến mức khó có va chạm với cùng một kẻ thù chung. Hơn nữa, Thịnh và Quân thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động của Bộ Công an, còn Huy là cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3, trực thuộc Công an Thành phố Hà Nội. Nghĩa là xa lắc xa lơ, đến mức có thể chưa hề biết mặt nhau, trước khi cùng nhau đi đến chỗ chết. Vì vậy, Trung úy Phạm Công Huy càng không thể có chung một mối tư thù với cả Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh và Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân.

Vậy chẳng lẽ, chỉ vì muốn đổ tội cho gia đình cụ Kình và người dân Đồng Tâm, nhằm biện hộ cho Tội ác Đồng Tâm và đảo chiều dư luận phê phán, mà lại đang tâm lên kế hoạch thiêu cháy một lúc ba sĩ quan công an hay sao? Và phải chăng, điều đó lý giải tại sao lại có cái quyết định khen thưởng bất thường và tại sao lại sinh ra một tổ công tác ba người với đội hình quái lạ, như đã phân tích trong phần 2.1 và phần 2.4 của bài Tội ác Đồng Tâm?

Nghi ngờ này nghiêm trọng và kinh khủng đến mức khó tin, hay chẳng muốn tin. Do đó nảy sinh câu hỏi: Cái lô-gic được trình bày ở trên sai chỗ nào? Phải chăng sai ở Mệnh đề 3?

Phần 2 của bài viết này sẽ khẳng định một lần nữa, Mệnh đề 3 là hoàn toàn đúng. Hơn nữa, phần 3 sẽ trả lời câu hỏi: Vật liệu cháy đã được sử dụng trong hố kỹ thuật là thứ vật liệu gì?

2. Vết tích vụ cháy dưới đáy hố kỹ thuật

Để chứng minh Mệnh đề 3, tôi đã dựa vào Ảnh 2.1 và Ảnh 2.2 để chỉ ra các hiện tượng sau:

– Chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen rất khác nhau, trong đó chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phía bên trái bức ảnh lớn hẳn so với ba phía còn lại.

– Trên vách hố phía bên trái bức ảnh có mấy vết rạn tường mới tinh, trong khi trên vách hố các phía khác không có vết rạn nào, chứng tỏ nhiệt lượng sinh ra ở phía trái cao hơn hẳn.

– Ở một số vị trí, chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen tương đối nhỏ, và vùng vách hố bị ám khói đen dừng lại khá đột ngột, chứ không nhạt dần đều khi lên cao.

Các hiện tượng đó không thể xảy ra, nếu thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an ở dạng lỏng. Bởi nếu đổ vào hố kỹ thuật một lượng lớn nhiên liệu lỏng, thì chất lỏng phải phủ đều toàn bộ đáy hố kỹ thuật. Vì vậy, mức độ cháy phải đồng đều trên toàn bộ đáy hố, khiến nhiệt phân bố đều bốn phía, và chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phải tương đối bằng nhau. Hơn nữa, với lượng nhiên liệu lỏng lớn, lại cháy trong một hố kỹ thuật vừa sâu (415 cm) vừa hẹp (77 cm x 138 cm), và với mấy tử thi bị thiêu cháy đến mức ấy, thì chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen phải khá lớn, và màu đen phải nhạt dần đều khi lên cao.

Ảnh 2.1: Dấu vết vụ cháy trong hố kỹ thuật

Ảnh 2.2: Vết rạn trên vách trái của hố kỹ thuật

Ảnh 2.1 và Ảnh 2.2 được chụp từ miệng hố kỹ thuật. Đề phòng đụng chạm với công an, tôi đã không mang theo máy ảnh nhà nghề, mà dùng iPhone để chụp. Dó đó, chất lượng ảnh chỉ được như vậy. Có ý kiến cho rằng chưa đủ thuyết phục, nên trong bài viết này tôi công bố thêm mấy bức ảnh. Cũng chụp bằng điện thoại, nhưng chụp từ đáy hố kỹ thuật. Vâng, tôi đã loay hoay ở đáy hố kỹ thuật khoảng 65 phút, để quan sát, chụp ảnh và quay phim. Khi rời khỏi Đồng Tâm, bỗng thấy đau đầu và rất mệt. Chẳng hiểu do quá tập trung khi làm việc ở dưới hố, hay đã hít phải khí độc nào đó còn đọng lại trong hố thiêu người? Anh bạn chở tôi ái ngại, mấy lần giục ngả ghế ra mà nghỉ. Và tôi đã thiếp đi một lúc trên đường về. Lúc tỉnh dậy thấy khỏe ra. Chứng tỏ, không phải vì khí độc.

Khi đã đứng trên đáy hố kỹ thuật để quan sát, thì kết luận của Mệnh đề 3 trở nên hết sức rõ ràng, chẳng còn gì để lăn tăn. Hơn nữa, còn thu được mấy nhận thức mới về vụ thiêu người.

Ảnh 2.3 thể hiện một hình ảnh đặc trưng, chụp phần dưới cùng của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách phải, từ đáy hố lên đến độ cao trên 120 cm (xem quy ước về tên gọi vách trước, vách sau, vách phải và vách trái trong Ảnh 2.1). Giả sử, nếu thứ vật liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật là chất lỏng (ví dụ như xăng), thì do chất lỏng phủ đều đáy hố, toàn bộ phần vách hố trong Ảnh 2.3 đều phải bị ám khói đen, giống như khu vực nằm ở phía bên phải và chiếm khoảng 1/3 bức ảnh. Trái lại, phần sát góc của vách trước chỉ có mấy vệt đen, còn vách phải thì chỉ bị ám khói đen khá ít. Vì vậy, có thể khẳng định chắc chắn:

(2.1)     Thứ vật liệu đã được dùng để thiêu cháy trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Ảnh 2.3: Phần dưới cùng của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách phải

Đặc biệt, quầng đen trên vách phải khác biệt hẳn so với vùng lân cận. Nó nằm cách đáy hố trên 30 cm. Chứng tỏ, vật liệu cháy không được chứa một cách đơn giản trong hộp cát tông, hoặc bao bì bằng vải, hay ni lông, hay chất liệu thích hợp nào đó. Bởi nếu như vậy, thì do khối vật liệu cháy nằm ngay trên đáy hố, khu vực bị ám khói phải bắt đầu ngay từ đáy hố, chứ không thể tách khỏi đáy hố hơn 30 cm. Từ đó suy ra:

(2.2)     Vật liệu cháy được đựng trong các ống hở đầu (giống như pháo hoa), tạo ra phóng hỏa có định hướng.

Và quầng đen trên vách phải là kết quả phóng hỏa do một vài ống đựng vật liệu cháy nằm cách xa vách gây ra.

Ảnh 2.4 cũng thể hiện một hình ảnh đặc trưng khác, chụp một phần của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách trái, đoạn cách đáy hố từ khoảng 60 cm lên đến khoảng 125 cm. Trong khi vách trái bị tổn thương đáng kể và bị ám khói đen khắp nơi, thì vách trước không bị tổn thương, có hai vùng hầu như không bị ám khói đen, và phần chính bị ám khói cũng tách khỏi đáy với một khoảng cách khá lớn. Điều đó cũng chứng tỏ kết luận (2.1) và (2.2) là đúng.

Tại góc tiếp giáp, ở độ cao cách đáy khoảng 110 cm (nơi phân cách hai vùng hầu như không bị ám khói đen), có một vật giống như búi giẻ bị cháy, gắn chặt vào góc vách. Nhưng khi dùng đũa gắp thử, thì như chạm phải một khối nhựa rắn. Muốn dùng kìm bẻ ra một miếng nhỏ cũng khó.

Có một hiện tượng đáng lưu ý trong Ảnh 2.3 và Ảnh 2.4, đó là mức độ tương phản đen-trắng giữa vùng bị ám khói và vùng không bị ám khói rất lớn. Hiện tượng đó không chỉ phủ định khả năng sử dụng nhiên liệu lỏng, mà còn cho thấy:

(2.3)     Vật liệu cháy đã được sử dụng sinh ra nhiệt lượng rất lớn, nhưng tương đối ít khói.

Do đó, chỉ những vùng vách bị va chạm trực tiếp với vật liệu cháy bỏng thì mới trở nên đen kịt, còn những vùng vách khác thì ít bị hoặc hầu như không bị ám khói.

Ảnh 2.4: Phần gần đáy của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách trái

Vì không muốn bạn đọc quá mệt mỏi với những tình tiết nặng tính kỹ thuật, tôi sẽ không cung cấp thêm nhiều bức ảnh tư liệu về vết tích vụ cháy trong hố kỹ thuật, mà kết thúc phần 2 bằng Ảnh 2.5. Nó được ghép từ bốn bức hình, để tạo ra bức tranh toàn cảnh của vách trái. Trong bốn bức vách của hố kỹ thuật, vách trái bị ám khói đen nhiều nhất, suốt từ đáy hố lên đến độ cao khoảng 250 cm. Hiện tượng bị sần sùi, rạn lở và bị vật lạ dính vào chỉ tồn tại trên vách trái này. Chứng tỏ:

(2.4)      Khối lượng vật liệu cháy đã được sử dụng là khá lớn, và hầu hết các ống chứa vật liệu cháy đều hướng vào vách trái.

Ảnh 2.5: Vách trái của hố kỹ thuật

Tóm lại, nhờ phân tích cách bức ảnh được chụp từ đáy hố hộp kỹ thuật, ta đã khẳng định một lần nữa Mệnh đề 3 thông qua kết luận:

(2.1)     Thứ vật liệu đã được dùng để thiêu cháy trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Ngoài ra, còn thu được ba nhận thức mới, đó là:

(2.2)     Vật liệu cháy được đựng trong các ống hở đầu (giống như pháo hoa), tạo ra phóng hỏa có định hướng.

(2.3)     Vật liệu cháy đã được sử dụng sinh ra nhiệt lượng rất lớn, nhưng tương đối ít khói.

(2.4)      Khối lượng vật liệu cháy đã được sử dụng là khá lớn, và hầu hết các ống chứa vật liệu cháy đều hướng vào vách trái.

3. Chứng cứ do VTV cung cấp

Mặc dù phần 2 đã giúp thu hẹp đáng kể phạm vi phỏng đoán vật liệu cháy được sử dụng, song ta vẫn muốn biết cụ thể: Thứ vật liệu ấy là gì? Để có được câu trả lời, bình thường phải đợi kết quả xét nghiệm. Song trong trường hợp này, chính đoạn video mà VTV đã phát, có lẽ do công an cung cấp, để tố cáo người dân Đồng Tâm, lại cung cấp miễn phí những bằng chứng để bảo vệ người dân Đồng Tâm.

Ta hãy cùng nhau khảo sát 32 giây đầu (từ thời điểm 0:00 đến thời điểm 0:32) của đoạn video chiếu trên VTV24 về việc „bắt giữ các đối tượng gây rối ở xã Đồng Tâm“, được lưu trữ tại địa chỉ https://www.youtube.com/watch?v=FrfuIDJLI-g. Đoạn 32 giây này tương ứng với khoảng thời gian từ 36:27 đến 36:59 trong đoạn video của chương trình Thời sự 19h, phát trên VTV1 vào đêm 9/1/2020, và được lưu trữ tại địa chỉ https://vtv.vn/video/thoi-su-19h-vtv1-09-01-2020-415508.htm.

Về mặt âm thanh, đầu tiên ta nghe thấy một giọng đàn ông gào lên: „Yêu cầu các đối tượng đầu hàng, đừng để hành vi đi vượt giới hạn.“ Tiếp đó, một nữ phát thanh viên dõng dạc: „Mặc dù đã dùng loa kêu gọi, không được hành động vượt quá giới hạn, nhưng các đối tượng chống đối vẫn rất manh động. Chúng đã ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng.“

Ơ hay, nếu quả thật „mặc dù đã dùng loa kêu gọi, không được hành động vượt quá giới hạn, nhưng các đối tượng chống đối vẫn rất manh động“, thì phải kêu gọi tiếp, chứ tại sao lại gào lên đúng một lần, rồi đột nhiên dừng hẳn, như thể lịch sự nhường lời cho nữ phát thanh viên? Hơn nữa, giọng đàn ông át cả tiếng súng nổ đì đoàng phía xa xa, chẳng ăn nhập với cảnh đụng độ đang diễn ra, khiến người nghe cảm thấy tiếng gào đã được bổ sung thêm trong phòng thu, chứ không phải được hét vào loa khi đang diễn ra chiến sự. Âu cũng là một cách diễn, nhằm nhấn mạnh sự manh động của đối tượng chống đối, và tô vẽ thêm sự kiềm chế nhẫn nại của lực lượng tấn công.

Về mặt hình ảnh, trong số 32 giây video mà VTV dùng để mô tả trận tấn công vào Đồng Tâm 9/1/2020, thì 9 giây được dành cho cổng làng, tất cả 23 giây còn lại đều được dành để đặc tả tâm điểm của trận tấn công. Đó là khu vực có bốn ngôi nhà của cụ Lê Đình Kình, ông Lê Đình Công, ông Lê Đình Chức và ông Lê Đình Hợi (xem Ảnh 3.1).

Phía trước bốn ngôi nhà có một con đường dọc, vừa to vừa thẳng, hướng đúng vào khu vực này. Cho nên, nếu muốn thì có thể đứng trên con đường ấy mà quay video từ xa, vừa an toàn, lại vừa quay được rõ ràng và trọn vẹn toàn bộ khung cảnh của khu tâm điểm. Thế nhưng, họ đã chọn vị trí đứng quay video trên con đường ngang. Từ góc nhìn ấy, ngôi nhà hai tầng của ông Công che hết ngôi nhà cụ Kình (nơi diễn ra cuộc tấn công và giết người phi pháp), và che cả khu vực miệng hố kỹ thuật (nơi thiêu cháy ba sĩ quan công an). Rõ là tinh vi, phải không?

Ảnh 3.1: Khung cảnh tâm điểm của trận tấn công vào Đồng Tâm 9/1/2020

Đặc biệt, suốt 32 giây ghi hình chiến sự, ống kính chỉ hướng chếch lên cao, chẳng lúc nào hướng vào đường thôn, hay mặt đất. Thử hỏi, có bao giờ quay phim chiến sự diễn ra trên mặt đất, mà lại tránh ghi hình mặt đất hay không? Phải chăng họ có quay cả đường thôn, nhưng rồi đành phải cắt bỏ, vì khi xem lại thì chỉ thấy toàn cảnh sát lúc nhúc trên đường thôn, mà chẳng hề xuất hiện bóng ma nào của đối tượng chống đối?

Mặc dù đã được chuẩn bị công phu và quay phim trong thế hoàn toàn chủ động, theo đúng kế hoạch đã được đề ra từ trước, nhưng đoạn video được VTV trình chiếu không hề trưng ra bất cứ hình ảnh nào về việc các đối tượng chống đối „ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng“. Vâng, chẳng hề thấy hình ảnh nào của đối tượng chống đối, mà chỉ thấy đầu của mấy cảnh sát, tha thẩn đứng ngay trước ống kính, thản nhiên như mấy kẻ tò mò ngoài cuộc. Thậm chí, hình ảnh một chai bom xăng đang bốc cháy cũng không có nốt.

Giả sử, nếu người dân Đồng Tâm đã ném bom xăng khi bị tấn công, thì tất nhiên chai chứa xăng đã cháy (còn lành hay đã vỡ) vẫn nằm ngổn ngang trên đường Đồng Tâm lúc trời sáng hẳn. Khi đó, đối tượng chống đối đã bị bắt hết và công an đã chiếm hết thôn Hoành. Vậy tại sao không quay phim, chụp ảnh vết tích bom xăng đã được sử dụng?

Từ đó ta thấy:

(3.1)    Trên thực tế, khi diễn ra cuộc tấn công vào Đồng Tâm 9/1/2020, chẳng hề có chuyện đối tượng chống đối „ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng“.

Vì vậy, Bộ Công an – thông qua VTV – đành tạo ra cái cáo buộc hoàn toàn vô căn cứ. Đó là cách sáng tác nhất quán từ đầu đến cuối của Bộ Công an đối với cuộc tấn công vào Đồng Tâm.

Nhận xét này có thể khiến một số người xem video phản đối, sau khi đã nghe nhiều tiếng nổ, đã thấy nhiều tia chớp và đám lửa. Đúng là có nhiều tiếng nổ, nhiều tia chớp và đám lửa, nhưng vấn đề là từ đâu mà ra?

Để có được câu trả lời, tôi đã phải xem đi xem lại đoạn video, và kiên trì lặp đi lặp lại nhiều lần vòng thao tác: bắt đầu – dừng lại – tách ảnh màn hình – lưu trữ. Qua đó có thể khẳng định:

(3.2)     Nhiều đợt cháy nổ hiện ra trong đoạn video xuất phát từ hố kỹ thuật nằm giữa nhà ông Chức  và nhà ông Hợi.

Trong 23 giây video quay tâm điểm chiến sự, có ít nhất 9 lần vật liệu cháy bay ra từ phía hố kỹ thuật và phát nổ trên đường thôn. Hẳn có người thắc mắc: Làm gì có chuyện vật liệu cháy từ đáy hỗ kỹ thuật (sâu khoảng 4 mét) bay lên gần với phương thẳng đứng, rồi đột nhiên đổi chiều và bay cắm xuống đường thôn? Bình thường thì điều đó khó xẩy ra, nhưng trong trường hợp này thì hoàn toàn có thể.

Hãy xem lại Ảnh 3.1 (phần phóng to ở góc trên bên trái), để thấy mái bằng bê tông của nhà ông Hợi chìa ra khỏi tường một đoạn khá lớn. Và hãy xem lại đoạn video, để thấy rằng, nhiều khối vật liệu cháy nổ dường như xuất phát từ phần mái bằng chìa ra ấy. Đơn giản là, khi vật liệu cháy bay lên từ đáy hố kỹ thuật thì vấp phải mái bằng của nhà ông Hợi, nên đổi chiều chuyển động và bay xuống đường thôn. Điều đó lý giải, tại sao trong đoạn video có nhiều lượt cháy nổ xuất hiện trên đoạn đường trước nhà cụ Kình và nhà ông Chức.

Vâng, đúng là có nhiều tiếng nổ, nhiều tia chớp và đám lửa xuất hiện trong đoạn video do VTV công bố. Nhưng không phải do người dân Đồng Tâm, mà do vật liệu cháy nổ từ dưới hố kỹ thuật bay lên gây ra.

Để bạn đọc có thể hình dung rõ hơn, tôi đã chọn ra 32 khoảnh khắc và ghép lại trong bốn bức ảnh, từ Ảnh 3.2 đến Ảnh 3.5.

Xem Ảnh 3.2, ta thấy trong hình 1 có một vụ cháy xuất hiện phía sau chậu cây cảnh đặt trên ban công nhà ông Công (so sánh với Ảnh 3.1 để thấy hình ảnh của chậu cây cảnh được chụp vào ban ngày). Đó là khi quầng lửa mới vượt ra khỏi miệng hố kỹ thuật. Rồi bùng cháy to hơn trong hình 2. Hình 3 thể hiện rõ ràng hiện tượng đổi chiều chuyển động của vật liệu cháy, do vấp phải phần mái bằng chìa ra. Hình 4 ghi lại chuyển động tiếp theo của vật liệu cháy. Hình 5 ghi lại khoảnh khắc bùng nổ lớn nhất. Sau đó khu vực cháy nổ co dần trong ba hình còn lại, để lộ ra hình ảnh của nhiều cục vật liệu cháy khác đang bay tiếp. Quá trình ấy diễn ra từ giây 0:18 đến giây 0:19.

Ảnh 3.2: Tám khoảnh khắc diễn ra từ giây 0:18 đến giây 0:19

Xem Ảnh 3.3, ta thấy trong hình 1 giai đoạn vật liệu cháy đã đổi chiều. Các cục vật liệu cháy bay trong hình 2, 3 và 4, rồi bùng nổ trong bốn hình còn lại. Quá trình ấy diễn ra từ giây 0:19 đến giây 0:20.

Ảnh 3.3: Tám khoảnh khắc diễn ra từ giây 0:19 đến giây 0:20

Xem Ảnh 3.4, ta lại thấy trong hình 1 một vụ cháy xuất hiện phía sau chậu cây cảnh đặt trên ban công nhà ông Công. Hình 2 thể hiện giai đoạn vật liệu cháy nổ vừa mới đổi chiều. Sáu khoảnh khắc tiếp theo của vụ nổ được thể hiện trong sáu hình còn lại. Quá trình ấy diễn ra trong giây 0:21.

Ảnh 3.4: Tám khoảnh khắc diễn ra trong giây 0:21

Ảnh 3.5 cho ta một khung cảnh đặc biệt. Đó chính là cận cảnh của bức tường nhà ông Hợi, nơi tiếp giáp với sân thượng nhà ông Chức và nằm sát miệng hố kỹ thuật. Hình 1 chụp khoảnh khắc lửa trùm hết mặt tường đầu hồi của nhà ông Hợi. Sau đó quầng lửa thu hẹp lại và tan dần trong năm hình tiếp theo, để lộ ra đường ống thoát nước từ mái, mà ta có thể nhìn thấy rõ hơn trong Ảnh 3.1. Đợt cháy trước vừa kết thúc trong hình 7, thì một đợt cháy mới lại bùng lên từ hố kỹ thuật trong hình 8. Quá trình ấy diễn ra từ giây 0:29 đến giây 0:30.

Ảnh 3.5: Tám khoảnh khắc diễn ra từ giây 0:29 đến giây 0:30

Hai giây sau, VTV ngừng chiếu cảnh chiến sự Đồng Tâm, để trưng ra lời khai của Nguyễn Văn Tuyển, rằng „cụ Kình chỉ đạo cứ cho 3 thằng chết là phải chạy hết…“. Vì vậy, khán giả VTV không còn cơ hội chứng kiến diễn biến tiếp theo của vụ thiêu xác trong hố kỹ thuật.

Tuy nhiên, xem đến đó cũng đã đủ để tin rằng:

(3.3)     Có một vụ thiêu đã diễn ra trong hố kỹ thuật.

Hơn nữa, hiện tượng cháy kèm theo tiếng nổ cho thấy:

(3.4)      Vật liệu cháy được sử dụng trong hố kỹ thuật thuộc dạng pháo hoa.

Ta viết „thuộc dạng pháo hoa“, bởi có lẽ không phải là nguyên ống pháo hoa thông thường, mà có thể được chế ra từ đó. Chẳng hạn, có thể lấy ống pháo hoa thông thường, rồi bỏ bớt bộ phận có chức năng đẩy pháo bay xa và gây ra vụ nổ lớn. Thậm chí, có thể cắt bớt ống pháo hoa cho đủ ngắn, vừa dễ vận chuyển, vừa đỡ bị lộ. Chính vì vậy, mặc dù phần lớn vật liệu cháy bắn vào vách trái của hố kỹ thuật, gây ra một số tổn thương trên vách đó, nhưng không xuất hiện những vùng lõm do nổ lớn tạo ra. Và những khối vật liệu cháy vượt ra khỏi hố kỹ thuật cũng không bay xa, như khoảng cách bay thường thấy của pháo hoa.

Mặc dù hầu hết vật liệu được ném xuống đã cháy hết ngay trong hố kỹ thuật, nhưng số vật liệu bay ra khỏi hố kỹ thuật (ngoài ý muốn) cũng khá lớn. Kết hợp với vết tích lưu lại trên vách trái của hố trong Ảnh 2.5, có thể suy ra:

(3.5)     Khối lượng vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật lớn đến mức không thể là trang bị thông thường, mà việc thu xếp để có được chúng phải là một đặc vụ riêng biệt.

Cần nhấn mạnh rằng: Kết luận (3.4) và (3.5) (dựa trên chứng cứ do VTV cung cấp) hoàn toàn phù hợp với bốn kết luận từ (2.1) đến (2.4) (đã được rút ra một cách hoàn toàn độc lập trong phần 2, dựa trên quan sát từ đáy hố kỹ thuật).

Ai có thể có và làm thế nào để có được một khối lượng vật liệu cháy dạng pháo hoa như vậy? Cần khẳng định ngay:

(3.6)     Số vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật KHÔNG thuộc về người dân Đồng Tâm.

(Trong một thể chế tử tế, thì khẳng định này là thừa. Song, sau khi đã chứng kiến cơ quan công an chữa kịch bản Đồng Tâm bằng ấy lần, thì không ai có thể đảm bảo, họ sẽ không bịa thêm một kịch bản mới, nhằm cáo buộc người dân Đồng Tâm đã sử dụng pháo hoa để thiêu ba sĩ quan công an.)

Tại sao có thể khẳng định kết luận (3.6)? Bởi vì một mặt, nếu số vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật thuộc về người dân Đồng Tâm, thì „Cơ quan điều tra Việt Nam thuộc hàng giỏi nhất thế giới“ đã phát hiện ra, và vì thế đã không cáo buộc là người dân Đồng Tâm đổ xăng để thiêu chết ba sĩ quan công an. Mặt khác, với quy định ngặt nghèo về quản lý và sử dụng pháo trong Nghị định số 36/2009/NĐ-CP, và trong hoàn cảnh Nhà máy Z121 của Bộ Quốc phòng là nơi duy nhất của Việt Nam được quyền sản xuất pháo hoa, thì dù ba hoa đến mấy, người dân Đồng Tâm cũng không thể kiếm được bằng ấy pháo hoa.

Ngược lại, nếu muốn thì Bộ Công an có thể có pháo hoa bằng những cách khác nhau. Ví dụ, cách chính quy là nhân danh xử lý đối tượng chống đối trong quá trình xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn và dành đất cho Viettel (cả hai đều của Bộ Quốc phòng), Bộ Công an có thể đề nghị Bộ Quốc phòng cung cấp pháo hoa do Nhà máy Z121 sản xuất. Cách linh hoạt là nhập pháo hoa từ nước ngoài. (Sau khi đã bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay giữa thủ đô Berlin của Cộng hòa Liên bang Đức, rồi đưa về Hà Nội một cách ngoạn mục, để Thanh nộp „Đơn xin đầu thú“, thì việc mua pháo hoa từ nước ngoài chỉ là chuyện vặt.) Cách đơn giản và ít để lại dấu vết, là bớt từ số pháo hoa được cung cấp cho các điểm bắn pháo hoa trên toàn quốc. Vì thời điểm tấn công vào Đồng Tâm gần Tết, nên có lẽ khi ấy một lượng pháo hoa khổng lồ đã được Nhà máy Z121 xuất kho và chuyển đi khắp nơi, để bắn vào lúc giao thừa. Do đó, chỉ cần kín đáo bớt xén mỗi nơi một ít, thì gom lại đã có đủ vật liệu cháy để tiến hành công vụ Đồng Tâm. (Thời điểm tấn công Đồng Tâm sát Tết âm lịch còn đem lại lợi thế như vậy.) Hoặc có thể bớt từ số pháo hoa đã được bắn tại một số điểm vào dịp Tết dương lịch 2020.

Kết thúc phần phân tích chứng cứ do VTV cung cấp, cần khẳng định thêm:

(3.7)      Để có thể ném xác của ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật và phóng hỏa thiêu cháy một cách an toàn và kín đáo, hung thủ chỉ có thể đứng trong nhà ông Hợi và nấp sau cái cửa sổ hướng ra hố kỹ thuật.

Thật vậy, nếu không đứng ở trong nhà ông Hợi, thì hung thủ chỉ còn cách đứng trên sân thượng của nhà ông Chức để hành sự. Khi đó, những đám lửa bùng cháy trùm cả khu vực (như đã thấy trong bốn ảnh, từ Ảnh 3.2 đến Ảnh 3.5) sẽ thiêu cháy cả hung thủ. Hơn nữa, nếu hình ảnh hung thủ không lọt vào ống kính chỉ cách đó có mấy chục mét, thì nhiều người trong đội quân tấn công cũng có thể nhìn thấy quá trình hung thủ sát hại ba sĩ quan công an.

Lưu ý rằng, sau khi đã chiếm được nhà ông Hợi, thì đó là nơi tuyệt đối kín đáo cho việc hạ thủ ba sĩ quan công an, trước khi ném họ qua ô cửa sổ xuống hố kỹ thuật. Nghĩa là, để đảm bảo tuyệt đối bí mật, kín đáo khi hạ thủ và an toàn khi tiến hành thiêu ba sĩ quan công an bằng vật liệu cháy thuộc dạng pháo hoa, thì chỉ cần phái một tốp nhỏ tự đi và tự mang vật liệu cháy vào ngôi nhà ông Hợi. Để rồi, khi rời khỏi ngôi nhà đó thì chỉ có sát thủ còn lại.

Tóm lại, đoạn video mà VTV đã phát để tố cáo người dân Đồng Tâm lại cung cấp miễn phí những bằng chứng để bảo vệ người dân Đồng Tâm. Qua đó, có thể rút ra bảy kết luận sau :

(3.1)    Trên thực tế, khi diễn ra cuộc tấn công vào Đồng Tâm ngày 9/1/2020, chẳng hề có chuyện đối tượng chống đối „ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng“.

(3.2)     Nhiều đợt cháy nổ hiện ra trong đoạn video xuất phát từ hố kỹ thuật nằm giữa nhà ông Chức và nhà ông Hợi.

(3.3)     Có một vụ thiêu đã diễn ra trong hố kỹ thuật.

(3.4)     Vật liệu cháy được sử dụng trong hố kỹ thuật thuộc dạng pháo hoa.

(3.5)     Khối lượng vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật lớn đến mức không thể là trang bị thông thường, mà việc thu xếp để có được chúng phải là một đặc vụ riêng biệt.

(3.6)     Số vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật KHÔNG thuộc về người dân Đồng Tâm.

(3.7)      Để có thể ném xác của ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật và phóng hỏa thiêu cháy một cách an toàn và kín đáo, hung thủ chỉ có thể đứng trong nhà ông Hợi và nấp sau cái cửa sổ hướng ra hố kỹ thuật.

4. Mấy điều cần trao đổi

4.1.

Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, nhân danh bảo vệ thế giới tự do trước họa cộng sản, thì những người cộng sản Việt Nam coi đó là đội quân xâm lược, mà mình có quyền đánh đuổi để bảo vệ quê hương. Trong cuộc chiến ấy, những người cộng sản sử dụng bạo lực vũ trang, và vận động quần chúng nhân dân cùng sử dụng bạo lực, để giết quân địch, giết càng nhiều thì càng được vinh danh. Những người cộng sản không băn khoăn khi giết cả những người bất đắc dĩ phải có mặt trong quân đội đối phương. Thậm chí, Biệt động Sài Gòn đã đánh bom vào cả khách sạn và rạp hát,  nơi đương nhiên có cả những người dân làm công ăn lương và những khán giả thường dân.

Đối với người dân Đồng Tâm, cái đội quân đang đêm vô cớ tấn công vào ngôi làng của họ cũng giống như bọn cướp có vũ trang. Trong chế độ có quá nhiều công vụ vô cùng tệ hại, thì cái gọi là thi hành công vụ không đủ để ngụy trang, biện hộ cho hành vi phi pháp của đám người mặc quân phục công an. Cho nên, nếu phải chống lại những kẻ thi hành thứ công vụ kẻ cướp giết người, thì người dân Đồng Tâm có thể quan niệm đó là quyền tự vệ chính đáng. Vì vậy, không quá khó hiểu nếu họ đã từng thề hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ xóm làng. Giả sử, nếu người dân Đồng Tâm đã dùng quyền tự vệ, khiến ai đó trong lực lượng cảnh sát tấn công vào Đồng Tâm ngày 9/1/2020 bị chết, thì cũng tương tự như trường hợp những người ăn lương cầm súng trong quân đội hợp hiến của chế độ Việt Nam Cộng hòa, đã bị chết bởi đạn cộng sản trong cuộc chiến trước 1975 mà thôi. Hiển nhiên, chết khi mặc quân phục công an không oan ức bằng những thường dân đã bị chết bởi Biệt động Sài Gòn đánh bom vào khách sạn và rạp hát.

Tuy nhiên, trên thực tế, người dân Đồng Tâm chưa sử dụng quyền tự vệ. Họ không hề chống lại lực lượng tấn công vào Đồng Tâm ngày 9/1/2020. Đơn giản vì họ không hề chuẩn bị để đối đầu với một cuộc tấn công mà hỏa lực mạnh và dã man như vậy. Không hề có trong tay một khẩu súng bắn đạn nào, thì làm sao họ dám chống lại và có thể chống lại mấy ngàn quân được trang bị vũ khí tối tân và xả súng không hề tiếc đạn?

Bộ Công an tuyên bố rằng „một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ“. Nhưng đó chỉ là cáo buộc đơn phương, mà độ tin cậy cũng chẳng khá hơn những luận điệu bịa đặt, vu cáo khác, do Bộ Công an liên tục tung ra trong vụ Đồng Tâm.

Mặc dù đã lên kế hoạch từ trước và đã chuẩn bị kỹ lưỡng, huy động cả đội quay phim chiến sự, nhưng phía công an đã không trưng ra được bất cứ hình ảnh nào về việc „một số đối tượng có hành vi chống đối…“. Thành thử, sau khi kết thúc cuộc tấn công, đã chiếm lĩnh hiện trường và lục lọi khắp thôn xóm, họ cũng chỉ có thể trưng ra tang vật thu được là „8 quả lựu đạn, 38 chai bom xăng, 20 lít xăng, 12 tuýt sắt đầu gắn dao nhọn, 3 hộp pháo sáng, 1 khẩu súng bắn điện, 1 thanh kiếm, 1 búa“. Cái gọi là bom xăng chỉ là mấy chai bia Hà Nội được bịt kỹ bằng ni lông. Không có nút dẻ để mồi xăng, thì làm sao có thể khẳng định đó là bom xăng, chứ không phải là chai xăng, hay chai dầu dự trữ thường thấy ở nông thôn? Trưng ra cả cái búa và con dao bầu làm bếp, mà nhà nông nào cũng có, thì sao có thể coi chúng là tang vật?

Điểm thêm mấy nét như vậy để thấy rõ hơn, Bộ công an chẳng có bằng chứng trung thực nào chứng thực cho các cáo buộc của họ, để buộc tội cụ Lê Đình Kình và người dân Đồng Tâm, nhằm biện hộ cho cuộc tấn công vào Đồng Tâm và giết người hoàn toàn phi pháp.

4.2.

Thay vì phê phán hành động tấn công phi pháp vào Đồng Tâm và giết hại cụ Lê Đình Kình, nhiều người lại đứng về phía chính quyền, lên án cụ Kình và người dân Đồng Tâm. Dư luận đảo chiều như vậy do cái chết bi thảm của ba sĩ quan công an, mà Bộ Công an tuyên bố là họ bị ngã xuống hố kỹ thuật, rồi bị người dân Đồng Tâm đổ xăng thiêu cháy.

Thế nhưng, sau khi đã bổ sung thêm chứng cứ và lập luận ở phần 2 và phần 3, thì càng khó bác bỏ kết luận đã được rút ra trong bài Tội ác Đồng Tâm, đó là: Người dân Đồng Tâm không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật để thiêu cháy ba sĩ quan công an. Hơn nữa, nếu thừa nhận Tiên đề 1 (tức là cả ba sĩ quan công an đều bị chết cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà ông Lê Đình Chức và nhà ông Lê Đình Hợi) và Tiên đề 2 (tức là xác người chết cháy và hai đám tro trong hai bức ảnh đã đăng là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật), thì có thể suy ra: Ba sĩ quan công an không tự ngã xuống hố kỹ thuật. Họ đã bị ném xuống hố và bị thiêu cháy, nhưng không phải bởi người dân Đồng Tâm.

Qua bảy kết luận từ (3.1) đến (3.7) trong phần 3, thì chân tướng của vụ thiêu cháy ba sĩ quan công an đã trở nên quá rõ.

Có ý kiến cho rằng, không thể có chuyện công an cố tình giết đồng đội, và đưa ra giả thuyết: Có thể do vô tình mà quân ta bắn phải quân mình ở nơi khác, sau đó mới đành phải khiêng đến đấy, rồi ném xác xuống hố kỹ thuật mà thiêu, nhằm phi tang, tiện thể đổ tội cho gia đình cụ Kình. Vậy thử hỏi, khi ống kính quay video đang hướng liên tục vào phía ấy và có rất nhiều cảnh sát cũng đứng gần khu vực ấy, thì có ai lại dại dột khiêng ba cái xác công an vào đấy để thủ tiêu tang chứng hay không?

Lại có ý kiến cho rằng, có thể ba sĩ quan đã bị giết để bịt đầu mối. Nhưng đầu mối gì mà phải bịt? Đầu mối giết cụ Kình ư? Không thể như vậy. Một mặt, cán bộ chữa cháy không thể là một trong các đầu mối giết cụ Kình, bởi chẳng được hiện diện, chứ đừng nói là tham gia giết. Mặt khác, những gì còn để lại cho thấy, họ đã cố tình công khai việc tra tấn và giết hại cụ Kình một cách hết sức man rợ, để đạt tối đa hiệu quả „giết gà dọa khỉ“, nên cũng chẳng hề định bịt. Hơn nữa, giết cụ Kình và giết ba sĩ quan công an là hai việc tách biệt, có thể tiến hành đồng thời và độc lập với nhau. Có lẽ, ngay cả đám chỉ đạo quay phim và duyệt phim để chiếu trên VTV cũng không hề biết những gì đã thực sự xảy ra, vì vậy mới ngây ngô quay và đem chiếu cả cảnh thiêu, rồi hồn nhiên vu cáo và buộc tội người dân Đồng Tâm.

Chắc nhiều người vẫn tin, hung thủ không thuộc thành phần tham gia tấn công vào Đồng Tâm, hoặc/và việc ba sĩ quan công an bị giết không thể là kết quả của kế hoạch đã được vạch ra từ trước. Để bảo vệ quan điểm này, phải trả lời được bốn câu hỏi sau, thì mới có thể thuyết phục nhiều người khác cùng tin:

(4.1)     Nếu không thuộc thành phần tham gia tấn công Đồng Tâm, thì hung thủ có thể tiếp cận ba sĩ quan công an với đầy đủ súng ống, để hạ thủ và thiêu cháy họ ngay giữa tâm điểm của cuộc tấn công, khu vực có máy quay video liên tục ghi lại diễn biến chiến sự và có rất nhiều cảnh sát chứng kiến hay không?

(4.2)     Nếu không khảo sát kỹ càng từ trước, thì có thể chọn được vị trí đặc biệt phù hợp đến thế, để hạ thủ và thiêu cháy ba thi thể bằng vật liệu cháy siêu mạnh hay không?

(4.3)     Nếu không chuẩn bị từ trước, thì có bằng ấy vật liệu cháy dạng pháo hoa để thiêu hay không?

(4.4)     Nếu không căn cứ vào „quy hoạch cán bộ“, thì có thể đột nhiên „thuyên chuyển“ và „đề bạt“ ba cán bộ xa lạ vào một tổ công tác với đội hình quái lạ (như đã phân tích trong phần 2.4 của bài Tội ác Đồng Tâm) hay không?

4.3.

Với việc tấn công vào Đồng Tâm và giết hại cụ Lê Đình Kình hoàn toàn phi pháp, phía công an đã tự phủ định tư cách của một cơ quan bảo vệ pháp luật. Vì vậy, họ không còn tư cách để đứng ra điều tra vụ án Đồng Tâm, mà phải là đối tượng bị điều tra. Trước hết là điều tra về tội giết người có tổ chức, theo Điểm o, Khoản 1, Điều 123 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

Đích thân Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang và Chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn Bộ Công an Tô Ân Xô đã đứng ra công bố những thông tin hoàn toàn sai trái về vụ Đồng Tâm 9/1/2020. Điều đó chứng tỏ, lãnh đạo Bộ Công an phải chịu trách nhiệm trực tiếp về hành động tấn công và giết người phi pháp ở Đồng Tâm. Vì vậy, việc điều tra vụ án Đồng Tâm phải cho một cơ quan độc lập (không thuộc Bộ Công an) tiến hành.

Trong thời gian chờ đợi, không thể chấp nhận việc công an tiếp tục đứng ra giam giữ và điều tra những người dân Đồng Tâm đã bị bắt. Đặc biệt, phải chấm dứt ngay việc phái công an đến quấy nhiễu, hạch sách và khủng bố tinh thần những người phụ nữ và trẻ con còn lại trong gia đình cụ Lê Đình Kình.

Điều quan trọng là phải sớm thừa nhận tội ác đã phạm. Sớm bao nhiêu thì hậu quả đỡ trầm trọng bấy nhiêu. Như đã viết trong bài Một số điều cần trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh: „Nếu thừa nhận đủ sớm, thì còn có cơ hội đổ lỗi cho ‘phường đánh máy’ và dễ khắc phục hậu quả hơn. Ngược lại, im lặng hay cố cãi càng lâu, thì chứng tỏ cấp ra lệnh càng cao.“ Tương tự, trong vụ Đồng Tâm cũng vậy: Lặng thinh càng lâu thì chứng tỏ vị trí của thủ phạm đích thực trong bộ máy cầm quyền càng cao. Đừng đợi đến lúc cơn hồng thủy dâng tràn, ngập lút cả thiên đình.

Nếu đến giờ vẫn không nhận ra vấn đề, thì có lẽ chỉ còn cách trách đấng sinh thành, chứ chẳng thể đổ tại hậu quả khắc nghiệt của thời gian.

4.4.

Tôi viết bài Tội ác Đồng Tâm và bài này để tìm kiếm và chỉ ra sự thật. Mọi người đều có quyền biết và có trách nhiệm biết sự thật. Biết không chỉ để tôn trọng sự thật, mà còn để tránh vì hiểu sai sự thật, rồi lên án và thóa mạ nạn nhân vô tội.

Khi sự thật của tội ác mang tên Đồng Tâm đã lộ rõ, thì không chỉ những người ghét chế độ có quyền lên án, mà cả những người yêu chế độ cũng có trách nhiệm phải lên án. Lên án để chứng tỏ chế độ này, bộ máy cầm quyền này vẫn còn có những người tử tế, biết tôn trọng công lý. Và cũng để chứng tỏ, trong chính quyền này có rất nhiều người không liên đới tới tội ác Đồng Tâm. Ngược lại, sự câm lặng tương đương với việc tiếp tay cho cái gọi là thế lực thù địch, bằng cách góp phần chứng minh sự tệ hại vô phương cứu chữa của chế độ.

4.5.

Đã lỡ để xảy ra rồi, thì bây giờ nên tận dụng thảm kịch Đồng Tâm như một cơ hội sám hối. Hãy nghiêm túc xem xét lại vai trò và cách hành xử của bộ máy cầm quyền. Đặc biệt, đây là dịp thích hợp để đặt ra và trả lời câu hỏi: Trong chế độ độc đảng độc quyền, thì sinh ra Quốc hội để làm gì?

Để trang trí dân chủ cho chế độ phi dân chủ ư? Nếu vậy, hãy thu hẹp sân khấu, giảm bớt diễn viên, để thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, đỡ tốn tiền của nhân dân.

Để làm luật ư? Xin lỗi, khi đa số đại biểu Quốc hội vừa mù mờ về luật, vừa gọi dạ bảo vâng, mà lại tham gia viết luật và biểu quyết thông qua luật, thì chỉ sinh ra loại luật như Hiến… nháp  vi hiến, khiến người người phải não lòng. Nói cho cùng, cũng chẳng thể đòi hỏi nhiều hơn ở năng lực của những vị đại biểu được bầu ra bởi cái cơ chế tệ ngay từ luật (bầu cử). Thành thử, bao luật vừa mới được ban hành thì đã phải đem ra sửa đổi, rồi sửa hết lần này đến lần khác mà vẫn không ổn. Trong khi đó, lại ù lì suốt nhiều nhiệm kỳ, cố tình phớt lờ, không chịu ban hành những luật thiết yếu để thực thi Hiến pháp, chẳng hạn như Luật Biểu tình.

Vậy nên, các vị mang danh đại biểu của nhân dân nên tập trung thời gian và sức lực cho cái việc đáng làm nhất và phù hợp nhất với năng lực bản thân, đó là làm cầu nối giữa nhân dân với chính quyền (đương nhiên với cả đảng cầm quyền).

Tiếc rằng, từ khi công an tấn công vào Đồng Tâm và giết hại công dân Lê Đình Kình đến nay, Quốc hội vẫn im lặng. Những vị thường ít nói im lặng đã đành, đằng này các vị vốn hay nói cũng im lặng nốt. Không chỉ từng đại biểu Quốc hội im lặng, mà dàn lãnh đạo Quốc hội cũng im.

Các vị có trao đổi, góp ý kín đáo với thế lực phải chịu trách nhiệm về tội ác Đồng Tâm ư? Như vậy đã khá hơn, nhưng vẫn chưa đủ. Không thể chỉ dấm dúi, như bàn bạc việc riêng tư của giới cầm quyền, mà còn phải nói công khai, cho dân nghe dân biết. Bởi trách nhiệm của đại biểu Quốc hội không chỉ là tham gia giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69, Hiến pháp 2013), mà bản thân mỗi đại biểu còn phải „liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri“, và phải „báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội“ (Khoản 2, Điều 79, Hiến pháp 2013).

Vì lẽ đó, những người mang danh đại biểu của nhân dân hãy công khai bày tỏ chính kiến về vụ Đồng Tâm, nhằm „chịu sự giám sát của cử tri“  „báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu“, theo đúng quy định của Hiến pháp.

Lưu ý thêm rằng, để làm đúng vai trò „là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng … của Nhân dân cả nước (Khoản 1, Điều 79, Hiến pháp 2013), mọi Đại biểu Quốc hội đều có trách nhiệm quan tâm tới vụ Đồng Tâm, và thể hiện chính kiến của mình về vụ Đồng Tâm trước cử tri cả nước.

Đừng tiếp tục lặng thinh, mà vô tình chứng tỏ, mình chỉ là kịch sĩ vi hiến và vô dụng đối với nhân dân.

Hà Nội, ngày 1 tháng 3 năm 2020

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen