Nguồn: Francis Fukuyama, “The Pandemic and Political Order”, Foreign Affairs, Jul/Aug 2020.

Biên dịch: Mặc Lý

Ba yếu tố quan trọng trong việc đối phó hữu hiệu với đại dịch là khả năng của nhà nước, lòng tin của xã hội và lãnh đạo.

Cuộc khủng hoảng lớn nào cũng kèm theo những hệ quả lớn, thường là khó thấy trước được. Cuộc Đại Khủng Hoảng thập niên 1930 đã kích thích chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Thế chiến 2 nhưng đồng thời cũng dẫn đến chính sách Kinh Tế Mới, sự trỗi dậy của nước Mỹ như một siêu cường thế giới và cuối cùng là việc phá bỏ chế độ thực dân trên toàn thế giới. Cuộc tấn công 9/11 đã gây ra hai cuộc chiến mà nước Mỹ đã can thiệp thất bại, sự trỗi dậy của Iran và những dạng Hồi Giáo cực đoan. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 làm nổi lên phong trào dân túy chống lại những định chế cũ, làm thay đổi nhiều lãnh đạo trên thế giới. Các sử gia sau này sẽ truy ra những hệ quả to lớn từ đại dịch gây ra bởi virus corona chủng mới. Nhưng với chúng ta, thách thức là làm sao hình dung được những hệ quả này, ngay từ thời điểm này.

Lý do tại sao cho đến nay vài quốc gia đối phó với đại dịch hữu hiệu hơn những quốc gia khác thì đã rõ, và chúng ta có lý do để tin rằng những xu hướng đó sẽ tiếp tục. Đó không phải là vấn đề thể chế chính trị. Vài thể chế dân chủ đối phó dịch tốt trong khi các thể chế dân chủ khác lại tệ hại, và ngược lại. Điều này cũng đúng với các chế độ độc tài chuyên chế. Ba yếu tố quan trọng trong việc đối phó hữu hiệu với đại dịch là khả năng của nhà nước, lòng tin của xã hội và lãnh đạo. Quốc gia nào có cả ba yếu tố này: guồng máy nhà nước vận hành tốt, một chính phủ mà người dân tin tưởng và lắng nghe , và lãnh đạo quốc gia có năng lực thì sẽ đối phó đại dịch rất hữu hiệu, giới hạn được thiệt hại phải gánh chịu. Những quốc gia nào có bộ máy nhà nước vận hành tồi tệ, xã hội phân rã và lãnh đạo yếu kém thì đối phó cơn dịch cũng tồi tệ, làm sinh mạng người dân và kinh tế của họ chịu thiệt hại nặng nề.

Càng hiểu nhiều về COVID-19, đại dịch gây ra bởi virus corona chủng mới, ta lại càng thấy rằng cuộc khủng hoảng này sẽ kéo dài, tính bằng năm chứ không bằng quý. Loại virus này có vẻ làm chết người ít hơn mức người ta sợ ban đầu nhưng nó lại rất dễ lây lan và thường lây bệnh khi người bị nhiễm chưa có triệu chứng biểu lộ ra ngoài. Ebola gây tử suất rất cao nhưng khó lây nhiễm, vì nạn nhân thường chết mau chóng trước khi họ có thể lây bệnh cho người khác. Ngược lại COVID-19 làm người ta coi thường nó lúc đầu thay vì chặn từ gốc, làm bệnh lây lan toàn cầu khiến nhiều người chết như vậy. Sẽ không có một thời điếm nào mà mọi quốc gia trên thế giới có thể tuyên bố họ chién thắng được đại dịch. Thay vào đó các nền kinh tế sẽ mở cửa chậm chạp, dò dẫm từng bước một, và sẽ khựng lại nhiều lần bởi những đợt lây nhiễm mới. Hy vọng về sự phục hồi kinh tế kiểu chữ V có vẻ là quá lạc quan. Nhiều khả năng xảy ra hơn là sự phục hồi hình chữ L với phần nằm ngang kéo dài rồi mới cong lên hay một loạt những chữ W nối nhau. Kinh tế thế giới sẽ không sớm trở lại thời tiền COVID-19.

Về khía cạnh kinh tế, một cuộc khủng hoảng kéo dài sẽ làm nhiều doanh nghiệp vỡ nợ và hậu quả sẽ khốc liệt cho một số ngành công nghiệp như trung tâm mua sắm, chuỗi bán lẻ hay du lịch. Mức độ tập trung thị trường ở Mỹ vốn đã tăng lên nhanh chóng vài thập niên gần đây, thì nay đại dịch sẽ thúc đẩy khuynh hướng này nhanh hơn nữa. Chỉ có những đại công ty với tiền đầy túi mới thoát qua được cơn bão. Những người khổng lồ về công nghệ sẽ được lợi nhất: tương tác bằng kỹ thuật số sẽ ngày càng quan trọng.

Hệ quả về chính trị còn đáng kể hơn nữa. Chính quyền có thể cổ động, tuyên dương người dân chấp nhận hi sinh tập thể trong một thời gian nào đó nhưng không phải là mãi mãi. Một đại dịch kéo dài, cộng với thất nghiệp trầm trọng và gánh nặng nợ nần lớn chưa từng có, sẽ tạo ra những áp lực, biến thành sự chống đối về chính trị, chống đối ai thì còn chưa rõ.

Quyền lực thế giới sẽ tiếp tục dịch chuyển về phía đông, vì Đông Á đã kiểm soát dịch tốt hơn Âu Châu hay Mỹ.  Mặc dầu cơn dịch khởi đầu từ Trung Quốc và Bắc Kinh đã dấu dịch và làm nó lan rộng thay vì bị chặn đứng, nhưng Trung Quốc có vẻ hưởng lợi từ đại dịch, ít nhất là so với các nước khác. Như ta đã thấy, nhiều chính phủ khác lúc đầu cũng phản ứng tồi tệ, rồi cũng cố gắng che giấu nhưng lộ liễu hơn và gây ra những hậu quả chết người hơn cho công dân của họ. Ít ra Bắc Kinh có thể kiểm soát được tình hình, tiếp tục con đường vực dậy nền kinh tế để nó có thể vận hành nhanh chóng và vững chắc trở lại.

Ngược lại, nước Mỹ đã đối phó đại dịch vụng về và để uy tín quốc gia sụt giảm trầm trọng. Nước Mỹ có tiềm năng quốc gia to lớn, đã đối phó với các đại dịch trước cực kỳ hữu hiệu, thì nay với xã hội phân rã cao độ và một lãnh đạo yếu kém, đã làm quốc gia không còn vận hành hữu hiệu nữa. Một tổng thống chỉ khơi dậy chia rẽ thay vì cổ súy đoàn kết, chính trị hóa việc phân phối vật phẩm cứu trợ, đẩy trách nhiệm về phía các thống đốc tiểu bang, khiến họ phải ra những quyết định quan trọng nhưng đồng thời lại xúi dục người dân biểu tình chống lại thống đốc trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tấn công các định chế quốc tế thay vì gìn giữ các định chế này. Cả thế giới xem TV, tròn xoe mắt, và Trung Quốc nhanh chóng làm nổi bật sự khác biệt giữa hai cách phản ứng với đại dịch này.

Trong những năm sắp tới, đại dịch này có thể dẫn đến việc nước Mỹ suy yếu hơn, tiếp tục bào mòn trật tự tự do của thế giới, đưa đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít trên toàn cầu. Nhưng nó cũng có thể dẫn đến việc làm sống lại nền dân chủ tự do, một hệ thống từng khiến những người hồ nghi nó phải nhiều lần nghĩ lại sau những lần hồi sinh ngoạn mục. Một số khía cạnh nào đó của cả hai chiều hướng đều sẽ xuất hiện, ở những nơi khác nhau. Rất tiếc là trừ trường hợp những khuynh hướng hiện nay thay đổi đáng kể, bức tranh tổng quát đều sẽ khá ảm đạm.

 Viễn cảnh chủ nghĩa phát xít trỗi dậy

Cũng không khó hình dung những điều bi quan sẽ xẩy ra. Chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa cô lập, sự kỳ thị người nước khác và sự tấn công vào trật tự tự do của thế giới đã gia tăng nhiều năm nay. Đại dịch này sẽ chỉ làm nó tăng nhanh hơn. Chính quyền ở Hungary và Philippines đã dùng đại dịch này để tự cho họ quyền lực đặc biệt vốn chỉ áp dụng lúc khẩn cấp, và làm chính quyền họ xa rời dân chủ hơn. Nhiều quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc, El Salvador và Uganda, đã thi hành những biện pháp tương tự. Hàng rào ngăn cản con người đi lại xuất hiện khắp nơi, ngay cả ở trung tâm Âu Châu. Thay vì hợp tác với nhau vì lợi ích chung, các quốc gia lại có những chính sách vị kỷ, kèn cựa nhau và làm những đối thủ trở thành con dê tế thần về phương diện chính trị cho những thất bại của chính họ.

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc sẽ làm tăng mâu thuẫn quốc tế. Nhiều lãnh tụ sẽ thấy việc kình địch với ngoại quốc là một cách hữu hiệu để phân tán sự chú ý đối với chính trị trong nước. Họ cũng có thể lợi dụng sự yếu kém hay phân tâm của đối thủ và dùng đại dịch này để làm mất ổn định một vài mục tiêu ưa thích hay tạo ra những việc đã rồi. Tuy nhiên, nếu xét tác dụng ổn định hoá của vũ khí hạt nhân và những thách thức chung với mọi siêu cường, bất ổn quốc tế sẽ ít xảy ra hơn so với bất ổn trong mỗi nước.

Những quốc gia nghèo, với các thành phố chật ních người và hệ thống y tế công cộng yếu kém sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất. Không những việc giãn cách xã hội, ngay cả những công việc vệ sinh đơn giản nhất như rửa tay cũng sẽ cực kỳ khó khăn ở những quốc gia nơi rất nhiều người còn chưa có nước sạch. Vì những nguyên nhân lâu đời, vì những xung đột giữa các cộng đồng, vì thiếu chất keo kết dính xã hội hay đơn giản hơn, vì sự lãnh đạo yếu kém, nhiều chính quyền làm cho tình hình tệ hơn thay vì cải thiện  nó. Ví dụ Ấn Độ, khi đóng cửa một cách đột ngột mà không nghĩ kỹ đến hậu quả cho hàng chục triệu người lao động nhập cư đang chen chúc sống trong những thành phố lớn, họ lại càng làm tăng tác hại của đại dịch. Nhiều người phải về quê sống, lại làm lây lan nhiều hơn. Một khi chính quyền Ấn Độ thay đổi biện pháp và bắt đầu hạn chế người dân đi lại, rất nhiều người bị kẹt lại ở những thành phố lớn, không việc làm, không nơi ở và không có sự chăm sóc y tế.

Việc con người phải dịch chuyển vì biến đổi khí hậu vốn đã là một cuộc khủng hoảng đang sôi sục tại các quốc gia đang phát triển. Đại dịch này sẽ làm cơn khủng hoảng này trầm trọng hơn, có thể đưa một phần lớn dân chúng ở những quốc gia này đến mức sống với tiêu chuẩn tối thiểu. Và đại dịch này đã dập tắt hy vọng của hàng trăm triệu người trong những quốc gia nghèo đói vốn được hưởng thành quả từ hai thập niên phát triển kinh tế liên tục. Khi sự phẫn nộ của dân chúng tăng cao và khi hy vọng của số đông bị dập tắt, ai cũng biết đó là điều kiện chín muồi cho cách mạng nổ ra. Những người thất vọng sẽ tìm cách chạy ra nước ngoài, các lãnh tụ mị dân sẽ khai thác thêm tình hình để nắm quyền, các chính trị gia tham ô sẽ lợi dụng cơ hội vơ vét tất cả những gì có thể vơ vét được. Nhiều chính phủ sẽ đàn áp mạnh hơn hoặc sẽ sụp đổ. Sẽ có một làn sóng mới những người di dân từ khối các quốc gia đang phát triển đến các nước giàu có. Chỉ có điều lần này họ sẽ bị chống đối hơn, ít được cảm thông hơn vì người ta sợ rằng họ sẽ mang vào bệnh tật và bất ổn. Và người ta có lý do để sợ như vậy.

Cuối cùng, càng nhìn xa hơn thì ta càng có thể thấy những con “thiên nga đen” hơn. Những đại dịch trong quá khứ đã làm nảy ra những viễn tượng tận thế, những giáo phái cuồng tín và cả những tôn giáo mới trong những lúc căng thẳng gây ra bởi khó khăn kéo dài. Phát xít, mà ta có thể coi như một loại giáo phái cuồng tín, xuất phát từ những bạo lực và biến động gây ra bởi Thế chiến I và thời gian sau đó. Thuyết âm mưu từng nở rộ ở những nơi như vùng Trung Đông, khi con người bình thường cảm thấy bất lực hay mất niềm tin. Ngày nay, những thuyết âm mưu cũng đã phát tán rộng rãi tại những quốc gia giàu có, một phần vì môi trường truyền thông bị phân mảnh bởi internet và mạng xã hội. Khi những tác họa của đại dịch kéo dài thì nó lại càng cung cấp thêm chất liệu cho các lãnh đạo dân túy khai thác.

 Viễn cảnh dân chủ phục sinh

Tuy nhiên, cũng giống như cuộc Đại Khủng Hoảng thập niên 1930 không chỉ sinh ra chủ nghĩa Phát xít mà còn củng cố nền dân chủ tự do, đại dịch này cũng có thể dẫn đến những kết quả chính trị tích cực. Thường thì phải có những ngoại lực rất mạnh mới bẻ gãy được một hệ thống chính trị xơ cứng, ngõ hầu tạo điều kiện cho những cải cách cấu trúc lẽ ra phải làm từ lâu. Chuyện này có thể xảy ra lần nữa, ít ra là ở một vài nơi trên thế giới.

Khi đối phó với đại dịch, thực tế cho thấy là tính chuyên nghiệp và kiến thức chuyên môn sẽ mang lại hiệu quả, còn những yếu kém và chính trị mị dân thì sẽ phô bày ra rõ hơn. Cuối cùng điều này sẽ làm việc chọn lựa của người dân dễ dàng hơn, thưởng cho những chính trị gia và chính quyền hữu hiệu và trừng phạt những kẻ yếu kém.  Jair Bolsonaro của Brazil chẳng hạn, vốn đã tấn công và làm suy yếu những định chế dân chủ trong những năm gần đây, đầu tiên tưởng có thể coi nhẹ và vượt qua được đại dịch này, bây giờ đang đối phó lạng quạng với một đại họa y tế. Vladimir Putin của Nga đầu tiên cũng cố ra vẻ coi thường đại dịch, sau đó lại bảo Nga đã kiểm soát được tình hình và giờ phải đổi giọng lần nữa khi COVID-19 lây lan toàn nước Nga. Tính chính danh của triều đại Putin vốn đã lung lay trước đại dịch nay lại càng lung lay hơn.

Đại dịch đã soi rọi lên các định chế khắp nơi, làm lộ ra những khiếm khuyết hay yếu kém. Sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo, nước giàu và nước nghèo lại càng tăng lên khi tình hình kinh tế khựng lại lâu dài. Nhưng cùng với những vấn đề này, khủng hoảng cũng cho thấy khả năng của chính phủ đưa ra những giải pháp, dựa vào tài nguyên của tập thể trong quá trình đối phó đại dịch. Cảm giác “tất cả phải ở một mình cùng nhau” khi kéo dài có thể thúc đẩy sự đoàn kết xã hội và về lâu dài đưa đến việc phát triển các biện pháp an sinh xã hội hào phóng hơn, giống như việc những đau khổ của các nước do Thế chiến I và cuộc Đại Khủng Hoảng gây ra đã kích thích sự phát triển hệ thống an sinh xã hội trong những năm 1920 và 1930.

Điều này có thể kiềm chế những dạng cực đoan nhất của chủ nghĩa tân tự do, lý tưởng về thị trường tự do do những kinh tế gia của Đại học Chicago như Gary Becker, Milton Friedman, và George Stigler đề xuất. Trong những năm 1980, trường phái Chicago đã được dùng để biện minh, về khía cạnh tri thức, cho những chính sách của Tổng thống Ronald Reagan và thủ Tướng Margaret Thatcher, vốn là những người coi các chính phủ lớn, ôm đồm là chướng ngại vật cho phát triển kinh tế và tiến bộ nhân loại. Lúc đó có nhiều lý do chính đáng để cắt giảm nhiều luật lệ chính phủ cũng như sở hữu nhà nước. Nhưng những lập luận này càng ngày cứng nhắc, đóng khuôn lại thành ra một thứ tôn giáo “tự do tuyệt đối”, bao gồm trong đó sự thù nghịch với những hoạt động của nhà nước và sinh ra giới trí thức bảo thủ, đặc biệt là ở Mỹ.

Nay ta đã thấy được vài trò quan trọng của nhà nước trong việc làm chậm đại dịch, và thật khó mà lý luận như Reagan trong bài diễn văn nhậm chức lần đầu tiên năm 1981, là “chính phủ không phải là giải pháp cho vấn đề của chúng ta mà chính phủ chính là vấn đề”. Cũng như bây giờ không ai có thể biện minh rằng khu vực tư nhân và từ thiện có thể thay thế được một guồng máy nhà nước hữu hiệu trong việc đối phó với tình hình khẩn cấp của quốc gia. Tháng 04/2020, Jack Dorsay, CEO của Twiiter loan báo anh ta sẽ đóng góp 1 tỉ cho quỹ cứu trợ COVID-19, một hành động từ thiện phi thường. Nhưng cùng tháng đó, Quốc hội Mỹ phải bỏ ra 2.300 tỉ để cứu trợ những doanh nghiệp và cá nhân chịu ảnh hưởng bởi đại dịch. Tư tưởng chống đối nhà nước vẫn có thể thấy được ở những người biểu tình chống việc “đóng cửa”, nhưng các thống kê thăm dò dân ý cho thấy đại đa số dân Mỹ tin vào lời khuyên của các chuyên gia y tế chính phủ trong việc đối phó với đại dịch này. Điều này có thế làm tăng sự ủng hộ của người dân vào sự can thiệp của chính phủ khi đối phó với một vấn đề xã hội trọng đại khác.

Và cũng có thể đại dịch sẽ làm hồi sinh lại những nỗ lực hợp tác quốc tế. Trong khi lãnh đạo cấp quốc gia có thể chỉ tay đổ tội cho nhau, các khoa học gia và giới chức chuyên gia y tế công cộng có thể thắt chặt sự liên lạc và hành động cùng nhau. Nếu việc bãi bỏ hợp tác quốc tế dẫn đến thảm họa và bị đánh giá như một thất bại, thời kỳ hậu đại dịch có thế đưa đến một luồng gió mới cho việc khẳng định hợp tác đa phương sẽ thúc đẩy lợi ích chung.

Đừng hy vọng nhiều quá

Đại dịch này cho đến nay cũng là một thử nghiệm chính trị toàn cầu. Những quốc gia với chính phủ hợp pháp, có năng lực thì lướt qua đại dịch tương đối dễ dàng và có thể tiến hành những cải tổ làm cho chính quyền mạnh hơn, chịu được những thử thách lớn hơn và trong tương lai điều hành tốt đẹp hơn. Những quốc gia mà khả năng nhà nước yếu kém hay lãnh đạo tồi tệ thì sẽ có vấn đề, khiến kinh tế khựng lại, nếu không phải là nghèo đi hay bất ổn thêm. Vấn đề là nhóm nước thứ hai nhiều hơn nhóm nước thứ nhất rất nhiều.

Không may là sự thử nghiệm chính trị này căng đến nỗi ít có quốc gia nào vượt qua được. Để đối phó với những giai đoạn đầu của đại dịch một cách tốt đẹp, các quốc gia không những cần có một bộ máy nhà nước hoạt động hữu hiệu và tài nguyên dồi dào mà còn cần có đồng thuận xã hội và những nhà lãnh đạo có khả năng khêu gợi được lòng tin của người dân. Đáp ứng được điều này có thể kể đến Hàn Quốc khi trao việc đối phó với đại dịch cho một guồng máy kỹ trị, quản lý y tế chuyên nghiệp hay nước Đức của Angela Merkel. Nhưng nhóm nước thứ hai đông hơn nhiều, với những chính phủ thất bại về mặt này hay mặt kia. Vì giai đoạn tiếp theo của đại dịch cũng sẽ không dễ đối phó, những khuynh hướng này sẽ tiếp tục, càng làm cho người ta khó mà lạc quan trên bình diện thế giới được.

Một lý do nữa để bi quan là những viễn cảnh tốt đẹp đòi hỏi phải có những trao đổi ý kiến về các chính sách công hợp lý và việc học hỏi lẫn nhau. Tuy nhiên ngày nay mối liên hệ giữa giới chuyên gia kỹ trị và các chính sách công không còn chặt chẽ như trong quá khứ, khi giới tinh hoa có nhiều quyền lực hơn. Cách mạng kỹ thuật số đã làm cho thẩm quyền chuyên gia suy yếu, làm mờ nhạt đi tôn ti trật tự về tri thức và các tôn ti trật tự khác. Các quyết định chính trị giờ thường bị ảnh hưởng bởi những kẻ to miệng nhất. Đây không phải là môi trường tốt cho việc cùng nhau tự đánh giá một cách mang tính xây dựng. Và nhiều chủ thể chính trị sẽ tiếp tục phi lý trí kéo dài hơn là duy trì được sự minh mẫn, tỉnh táo.

Với vị trí siêu cường, Mỹ chính là biến số lớn nhất. Điều không may nhất là khi đại dịch bắt đầu, quốc gia này có một lãnh đạo yếu kém và gây chia rẽ nhất trong lịch sử cận đại. Cách điều hành quốc gia của ông ta không thay đổi dù dưới bất cứ áp lực nào. Vì ông ta gây chiến trong suốt nhiệm kỳ với hệ thống nhà nước do chính ông ta lãnh đạo, ông ta không thể triển khai nó hiệu quả khi tình hình đòi hỏi. Sau khi nhận định rằng đối đầu và hận thù sẽ giúp ông ta nhiều về mặt chính trị hơn là đoàn kết quốc gia, ông ta đã dùng đại dịch này để gây sự và gia tăng chia rẽ xã hội. Việc nước Mỹ đối phó với đại dịch khá tệ hại có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là nước Mỹ có một lãnh đạo thất bại trong việc lãnh đạo.

Nếu Trump được bầu làm tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa, cơ hội cho sự trỗi dậy của nền dân chủ hay của trật tự tư do trên thế giới coi như xếp lại. Tuy nhiên, dù kết quả bầu cử có thế nào đi nữa, sự chia rẽ sâu sắc của nước Mỹ vẫn còn đó. Tổ chức bầu cử trong đại dịch sẽ khó khăn và sẽ tạo cơ hội cho phe thua không chấp nhận kết quả bầu cử, thách đố tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Ngay cả khi Đảng Dân chủ nắm được cả Nhà Trằng và lưỡng viện Quốc hội, họ cũng thừa hưởng một quốc gia suy yếu nặng nề. Muốn hành động gì cũng phải đương đầu với một núi nợ và sự chống đối đến cùng của phe đối lập còn lại. Các định chế quốc gia và quốc tế sẽ bị yếu đi, co lại sau nhiều năm bị lạm dụng. Sẽ mất nhiều năm để xây dựng lại những định chế này, nếu có thể xây dựng lại được.

Giai đoạn nguy kịch nhất, bi thảm nhất của đại dịch đã qua, thế giới đang bước vào một giai đoạn khó khăn lâu dài. Cuối cùng thế giới cũng sẽ bước qua giai đoạn này thôi, dù có nước sớm hơn, có nước chậm hơn.  Những xung đột quân sự thế giới chắc không xảy ra. Trong quá khứ, chế độ dân chủ, chủ nghĩa tư bản và nước Mỹ đều chứng tỏ có khả năng hồi sinh, biến cải, thay đổi lại theo tình hình mới. Nhưng nếu thế, giờ đây một lần nữa người ta lại phải làm được một điều thần kỳ.

Francis Fukuyama là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Freeman Spogli về Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Stanford. Ông là tác giả cuốn “Identity: The Demand for Dignity and the Politics of Resentment.

Nguồn: Viet-studies (Nghiên cứu Quốc tế biên tập bổ sung một vài điểm)

Foreign Affairs

Tác giả: Francis Fukuyama

Dịch giả: Đỗ Kim Thêm

Số tháng 7/8-2020

Các cuộc khủng hoảng lớn lao có các hậu quả trầm trọng, thường không tiên đoán được. Cuộc Đại Khủng hoảng trong thập niên 1930 đã thúc đẩy trào lưu cô lập, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Đệ nhị Thế chiến, nhưng cũng dẫn đến biện pháp hồi phục kinh tế New Deal, sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một siêu cường toàn cầu, và cuối cùng là tiến trình xoá bỏ thực dân.

Các cuộc tấn công trong ngày 11 tháng 9 đã tạo ra cho Mỹ hai sự can thiệp thất bại, sự trỗi dậy của Iran và các hình thức mới của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tạo ra một sự đột biến trong trào lưu dân tuý chống các định chế chính trị lâu đời để thay thế cho các nhà lãnh đạo trên toàn cầu. Các nhà sử học trong tương lai sẽ theo dõi và so sánh những ảnh hưởng lan rộng đến cơn đại dịch virus corona hiện nay; thách thức cho họ là hình dung ra trước được các ảnh hưởng.

Chuyện đã rõ ràng trong việc ứng phó với cơn khủng hoảng là, tại sao có một số quốc gia đã thành công hơn các quốc gia khác, và có mọi lý do để nghĩ rằng những xu hướng đó sẽ tiếp tục. Vấn đề không phải là hình thái của chế độ. Một số nền dân chủ đã thực hiện tốt đẹp, nhưng một số khác thì không, và điều tương tự cũng đúng với các chế độ chuyên chế.

Các yếu tố tạo cho các phản ứng đối với đại dịch thành công là năng lực nhà nước, niềm tin xã hội và tinh thần lãnh đạo. Các quốc gia có cả ba yếu tố này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, một chính phủ mà dân tin tưởng và lắng nghe, và các nhà lãnh đạo có tài, đã thực hiện một cách rất ấn tượng, hạn chế thiệt hại mà họ phải chịu. Khi các chức năng quốc gia bị rối loạn, các xã hội bị phân hoá hoặc lãnh đạo kém cỏi, tất cả đã làm tệ hại cho đất nước, gây cho dân chúng và nền kinh tế không được bảo vệ và dễ bị tổn thương.

Càng tìm hiểu về COVID-19, căn bệnh do virus corona mới gây ra, dường như càng thấy là cuộc khủng hoảng sẽ còn được kéo dài, nó được tính thời gian bằng nhiều năm hơn là theo quý. Virus dường như ít gây chết cho người hơn đáng lo sợ, nhưng rất dễ lây và thường lây không do triệu chứng. Ebola gây tử thương cao, nhưng khó nhiễm; nạn nhân chết nhanh chóng, trước khi có thể lây cho người khác. COVID-19 là trường hợp ngược lại, có nghĩa là mọi người có xu hướng không quan tâm nghiêm chỉnh để ngăn chặn, nên nó sẽ xảy ra và còn tiếp tục lan rộng trên toàn cầu, gây ra một số lượng lớn về tử vong.

Sẽ không có lúc nào mà các quốc gia có thể tuyên bố chiến thắng căn bệnh dịch này; thay vào đó, các nền kinh tế sẽ mở ra một cách tuần tự và dò dẫm tạm thời, các đợt nhiễm tiếp theo làm cho tiến độ bị chậm lại. Hy vọng cho sự phục hồi theo hình chữ V có vẻ rất lạc quan. Nhiều khả năng cho thấy, nó sẽ theo hình chữ L có đuôi dài cong lên hoặc một loạt theo chữ W. Trong tương lai gần, nền kinh tế thế giới sẽ không hồi phục tương tự như tình trạng trước COVID.

Về mặt kinh tế, một cuộc khủng hoảng kéo dài sẽ đồng nghĩa với nhiều thất bại trong kinh doanh và tàn phá trong công nghiệp như các thương xá, chuỗi bán lẻ và du lịch. Các mức độ tập trung thị trường trong nền kinh tế Hoa Kỳ đã trỗi dậy đều đặn trong nhiều thập niên và đại dịch sẽ đẩy xu hướng tiếp tục xa hơn. Chỉ những đại doanh nghiệp thừa tiền lắm bạc mới có thể vượt qua cơn giông bão, những đại doanh nghiệp với những công nghệ khổng lổ thắng được tất cả, các tương tác bằng kỹ thuật số trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Các hậu quả chính trị có thể còn quan trọng hơn. Dân chúng có thể được kêu gọi cho các hành động anh hùng hy sinh tập thể trong một thời gian ngắn, nhưng đó không thể trong lâu dài. Một dịch bệnh kéo dài kết hợp với tình trạng mất việc trầm trọng, suy thoái triền miên và gánh nặng nợ nần chưa từng thấy, sẽ tạo ra những căng thẳng không thể tránh được, nó biến thành một phản ứng chính trị, nhưng chống lại ai vẫn là chuyện chưa rõ ràng.

Sự phân phối quyền lực trong toàn cầu sẽ tiếp tục di chuyển về phía đông, vì khu vực Đông Á đã thành công hơn trong việc ứng phó trước tình hình, nếu so với châu Âu hoặc Hoa Kỳ. Mặc dù đại dịch bắt nguồn từ Trung Quốc, Bắc Kinh ban đầu che đậy và cho phép nó lan rộng, Trung Quốc sẽ hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng, ít nhất là về mặt tương đối.

Ban đầu, khi đại dịch xảy ra, các chính phủ khác thể hiện một cách kém cỏi và cố gắng che đậy quá rõ ràng hơn và có những hậu quả thậm chí còn nguy hiểm hơn đối với dân của nước họ. It nhất Bắc Kinh đã có thể tái kiểm soát tình hình và đang chuyển sang thử thách tiếp theo, đưa nền kinh tế hồi phục với tốc độ một cách nhanh chóng và bền vững.

Ngược lại, Hoa Kỳ phản ứng quá vụng về và thấy uy tín giảm sút nghiêm trọng. Đất nước này có năng lực tiềm năng rộng lớn và đã tạo ra một thành tích đầy ấn tượng trong các cuộc khủng hoảng do bịnh dịch trước đây, nhưng xã hội phân hoá cao độ hiện nay và nhà lãnh đạo bất tài đã ngăn chặn nhà nước hoạt động hữu hiệu. Tổng thống đã kích động sự chia rẽ thay vì thúc đẩy đoàn kết, chính trị hóa việc phân phối phẩm vật cứu trợ, đẩy trách nhiệm cho các thống đốc trong việc ra các quyết định quan trọng, trong khi khuyến khích các cuộc biểu tình chống lại họ để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tấn công các định chế quốc tế thay vì khích lệ cho họ. Thế giới cũng có thể xem truyền hình, và đứng trước sự kinh ngạc khi thấy Trung Quốc nhanh chóng tạo ra một sự so sánh rõ ràng.

Trong những năm sắp tới, đại dịch có thể dẫn đến sự suy sụp tương đối của Hoa Kỳ, xói mòn liên tục của trật tự quốc tế tự do và hồi sinh của chủ nghĩa phát xít trên toàn cầu. Nó cũng có thể làm cho nền dân chủ tự do tái sinh, một hệ thống đã làm cho giới hoài nghi lầm lạc trong nhiều lúc, nó cho thấy sức mạnh đáng kể trong khả năng phục hồi và đổi mới. Các yếu tố của cả hai viễn tượng này sẽ xuất hiện ở những nơi khác nhau. Thật không may, trừ khi các xu hướng hiện tại thay đổi một cách đáng kể, dự báo chung là ảm đạm.

Chủ nghĩa phát xít trỗi dậy?

Hình dung ra các kết quả bi quan là chuyện dễ. Tinh thần dân tộc, chủ trương cô lập, xu thế bài ngoại, và các cuộc tấn công vào trật tự thế giới tự do đã gia tăng trong nhiều năm qua và do đại dịch chiều hướng sẽ tăng nhanh. Các chính phủ ở Hungary và Philippines đã sử dụng cuộc khủng hoảng để tự ủy quyền cho mình trong tình trạng khẩn cấp, khiến họ xa rời hơn nền dân chủ. Nhiều quốc gia khác, bao gồm Trung Quốc, El Salvador và Uganda, đã thực hiện các biện pháp tương tự. Các rào cản đối với di chuyển của dân chúng đã xuất hiện ở khắp nơi, bao gồm cả ngay trong trung tâm của châu Âu; thay vì hợp tác xây dựng vì lợi ích chung, các quốc gia đã hướng nội, tranh cãi nhau và biến các đối thủ trở thành các vật tế thần chính trị cho những thất bại của chính họ.

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc sẽ làm gia tăng khả năng xung đột quốc tế. Các nhà lãnh đạo có thể coi những công cuộc đấu tranh với người nước ngoài là những phân tán hữu ích cho các vấn đề nội chính, hoặc họ có thể bị thu phục do sự yếu đuối hoặc lo âu của đối thủ, và sử dụng đại dịch để gây bất ổn cho các mục tiêu ưu tiên hoặc tạo ra tại chỗ các sự kiện mới. Tuy nhiên, đứng trước tình trạng vũ khí hạt nhân tiếp tục ổn định và những thách thức chung của tất cả các nước lớn phải đối mặt, việc hỗn loạn quốc tế dường như ít xảy ra hơn so với bất ổn trong nước.

Các nước nghèo với các thành phố đông dân và hệ thống y tế công cộng yếu kém sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Không chỉ biện pháp cách ly xã hội mà ngay cả việc vệ sinh đơn giản như rửa tay cũng vô cùng khó khăn ở những quốc gia mà nhiều người dân thường không có nước sạch. Các chính phủ thường làm cho vấn đề tệ hại hơn là cải thiện bằng cách phác hoạ, kích động căng thẳng trong cộng đồng và làm suy yếu đoàn kết xã hội, hoặc do đơn giản là họ không có khả năng.

Ví dụ, Ấn Độ có khả năng bị tổn thương đã gia tăng khi tuyên bố biện pháp đột ngột ngừng hoạt động trên toàn quốc mà không nghĩ đến hậu quả đối với hàng chục triệu dân lao động nhập cư, những người tập trung ở thành phố lớn. Nhiều người đã về nhà ở nông thôn, gây truyền bệnh trên khắp cả nước; một khi chính phủ thay đổi quan điểm và bắt đầu hạn chế việc cho dân di chuyển, một số lượng lớn dân thấy mình bị mắc kẹt trong các thành phố, không có công việc, không nơi lưu trú hoặc chăm sóc sức khoẻ.

Biến đổi khí hậu gây ra sự chuyển dịch, nó đã là một cuộc khủng hoảng đang sôi sục chậm chạp ở các nước đang phát triển. Đại dịch sẽ đẩy mạnh các tác động của nó, đưa phần đông dân số ở các nước càng tiến gần đến bờ vực sống còn. Cuộc khủng hoảng đã xoá tan hy vọng của hàng trăm triệu người ở các nước nghèo, những người được hưởng lợi từ hai thập niên tăng trưởng kinh tế bền vững.

Sự phẫn nộ phổ biến sẽ tăng lên, và cuối cùng những kỳ vọng đang dâng cao của dân chúng năng động là một công thức cổ điển cho cuộc cách mạng. Những người tuyệt vọng sẽ tìm cách di cư, các nhà lãnh đạo mị dân sẽ khai thác tình hình để nắm quyền, các chính trị gia tham ô sẽ nhân cơ hội thu tóm những gì họ có thể, và nhiều chính phủ sẽ trấn áp hoặc sụp đổ. Trong khi đó, một làn sóng di cư mới từ miền Nam bán cầu sang miền Bắc, họ sẽ ít nhận được lòng thiện cảm và nhiều sự kháng cự hơn, vì người di cư có thể bị cáo buộc là mang bệnh tật và hỗn loạn, một chuyện đáng tin.

Cuối cùng, sự xuất hiện của cái gọi là thiên nga đen, theo định nghĩa là không thể đoán trước, nhưng việc biến mất của chúng ngày càng có xác suất cao hơn. Các đại dịch trong quá khứ đã thúc đẩy các viễn tượng tận thế, suy tôn theo giáo phái và các tôn giáo mới phát triển xung quanh những lo lắng tột độ do khó khăn kéo dài gây ra. Trên thực tế, chủ nghĩa phát xít có thể được xem là một sùng bái giáo phái như vậy, nó nổi lên từ bạo lực và xáo trộn do di chuyển, do Đệ nhất Thế chiến và hậu quả của nó gây ra. Các thuyết âm mưu phát triển ở những nơi như Trung Đông, nơi có những người dân thường bị mất quyền lực và cảm thấy họ thiếu có tổ chức uỷ nhiệm. Ngày nay, tình trạng này đã lan rộng khắp các nước giàu, một phần do môi trường truyền thông bị rạn nứt vì Internet và phương tiện truyền thông xã hội gây ra, và sự đau khổ kéo dài đem lại cơ hội cho các giới dân túy khai thác

Nền dân chủ mềm dẻo?

Tuy nhiên, giống như cuộc Đại Khủng hoảng kinh tế không chỉ tạo ra chủ nghĩa phát xít mà còn tái sinh nền dân chủ tự do, do đó, nạn đại dịch cũng có thể tạo ra một số kết quả chính trị tích cực. Nó thường gây ra một cú sốc ngoại tại kinh hoàng như vậy, để phá vỡ các hệ thống chính trị xơ cứng ra khỏi sự bế tắc và tạo điều kiện cho các cải cách cơ cấu quá hạn, và mô hình đó có thể sẽ diễn ra một lần nữa, ít nhất là ở một số nơi.

Các thực tế áp dụng trong việc ứng phó với đại dịch hỗ trợ cho giới chuyên gia thi thố, giới mị dân và bất tài dễ dàng bị phơi bày. Cuối cùng, tình trạng này sẽ tạo ra một hiệu ứng đãi lọc có lợi, ân thưởng cho các chính trị gia và chính phủ làm tốt và trừng phạt những người làm kém.

Trong những năm gần đây, Jair Bolsonaro của Brazil, người đã liên tục làm hỏng các định chế dân chủ của đất nước, đã cố gắng vượt qua cuộc khủng hoảng và hiện đang loay hoay và chế ngự thảm họa về y tế. Ban đầu, Vladimir Putin của Nga cố xem thường tầm quan trọng của đại dịch, sau đó tuyên bố Nga đã kiểm soát được tình hình và một lần nữa, phải thay đổi giọng điệu khi COVID-19 lan tràn khắp nước. Tính hợp pháp của Putin vốn dĩ đã bị suy yếu từ trước cuộc khủng hoảng và nay tiến trình đó có thể gia tăng.

Đại dịch đã soi rõ các định chế đang hoạt động ở khắp mọi nơi, hé lộ những bất cập và điểm yếu. Khoảng cách biệt giữa giàu và nghèo, cả trong dân chúng và đất nước, đã được đào sâu thêm bởi cuộc khủng hoảng và sẽ còn tăng hơn nữa trong thời kỳ kinh tế trì trệ kéo dài. Nhưng song song với các vấn đề, cuộc khủng hoảng cũng cho thấy khả năng mang lại giải pháp của chính phủ, dựa trên các nguồn lực chung trong tiến trình này. Một cảm giác dai dẳng là “chúng ta cùng chịu cảnh cô độc chung với nhau”, có thể thúc đẩy đoàn kết xã hội và phát triển biện pháp bảo vệ xã hội hào phóng hơn, giống như những đau khổ chung cho cả nước của Đệ nhất Thế chiến và suy thoái đã kích thích cho tăng trưởng của các quốc gia phúc lợi trong những năm của thập niên 1920 và 1930.

Điều này có thể làm cho các hình thức cực đoan của chủ nghĩa tân tự do, ý thức hệ cổ suý cho tự do thị trường do các nhà kinh tế của Đại học Chicago như Gary Becker, Milton Friedman và George Stigler đi tiên phong, ngưng hoạt động. Trong những năm của thập niên 1980, trường phái Chicago đã biện minh về mặt trí thức cho các chính sách của Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher, họ là những người coi chính phủ mạnh và bao biện là một trở ngại cho tăng trưởng kinh tế và tiến bộ của con người. Vào thời điểm đó, có những lý do chính đáng để cắt giảm nhiều hình thức thuộc quyền sở hữu và quy định của chính phủ. Nhưng các cuộc tranh luận đã cô động lại thành một tôn giáo theo tự do tuyệt đối, đưa sự thù địch với hành động của nhà nước trong một thế hệ trí thức bảo thủ, đặc biệt là ở Hoa Kỳ.

Do tầm quan trọng của hành động của nhà nước mạnh mẽ nhằm làm chậm lại trận đại dịch, sẽ rất khó để lập luận, như Reagan đã nói trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên, rằng “chính quyền không phải là giải pháp cho các vấn đề của chúng ta, mà chính phủ là vấn đề.“ Bất kỳ ai cũng không thể đưa ra một trường hợp chính đáng khi cho rằng khu vực tư nhân và hoạt động từ thiện có thể thay thế cho nhà nước trong trường hợp đất nước lâm nguy. Vào tháng Tư, Jack Dorsey, Giám đốc điều hành của Twitter, tuyên bố rằng sẽ đóng góp 1 tỷ đô la cứu trợ cho COVID-19, một hành động từ thiện phi thường. Cùng trong tháng đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã chuẩn chi 2,3 nghìn tỷ đô la để duy trì các doanh nghiệp và cá nhân bị tổn thương bởi cơn đại dịch. Chủ nghĩa chống nhà nước có thể kéo dài trong số những người biểu tình chống biện pháp đóng cửa, nhưng các cuộc thăm dò dư luận cho thấy phần lớn người Mỹ tin tưởng lời khuyên của các chuyên gia y tế của chính phủ trong việc xử lý khủng hoảng. Điều này có thể gia tăng hỗ trợ cho các can thiệp của chính phủ để giải quyết các vấn đề xã hội quan trọng khác.

Cuối cùng, cuộc khủng hoảng có thể thúc đẩy hợp tác quốc tế đổi mới. Trong khi các nhà lãnh đạo quốc gia đổ lỗi cho nhau, các nhà khoa học và các quan chức y tế công cộng trên khắp thế giới đang tăng cường mạng lưới và kết nối. Nếu sự đổ vỡ của hợp tác quốc tế dẫn đến thảm họa và bị đánh giá là thất bại, thời đại sau đó có thể thấy một cam kết đổi mới để làm việc trong chiều hướng đa phương nhằm thúc đẩy cho các lợi ích chung.

Đừng mang nhiều hy vọng

Đại dịch đã là một cách trắc nghiệm về tình trạng căng thẳng chính trị trong toàn cầu. Các quốc gia có chính phủ hợp pháp và năng lực sẽ trải qua trận đại dịch một cách tương đối êm thắm và có thể thực hiện các cải cách khiến đất nước trở nên mạnh mẽ và kiên cường hơn, do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho thành qủa vượt trội trong tương lai. Các quốc gia có năng lực yếu kém hoặc khả năng lãnh đạo kém sẽ gặp rắc rối, rơi vào tình trạng trì trệ, nếu không nói là gặp sự bần cùng và bất ổn. Vấn đề là số lượng của nhóm thứ hai nhiều hơn nhóm thứ nhất.

Thật không may, việc trắc nghiệm tình trạng căng thẳng đã rất khó khăn đến độ mà ít có nước nào có khả năng vượt qua. Để ứng phó thành công trong các giai đoạn ban đầu của cuộc khủng hoảng, các quốc gia không chỉ cần có năng lực và nguồn lực đầy đủ mà còn rất nhiều sự đồng thuận xã hội và các nhà lãnh đạo có khả năng, ho đã mang lại niềm tin. Hàn Quốc đáp ứng được nhu cầu này, khi chính quyền ủy thác việc ứng phó cơn dịch bệnh cho một bộ máy y tế chuyên nghiệp và nước Đức của Angela Merkel cũng như vậy. Các chính phủ đã thường gặp thất bại theo cách này hay cách khác là chuyện phổ biến. Vì phần còn lại của cuộc khủng hoảng cũng sẽ khó điều hành, những xu hướng trong cả nước có thể sẽ tiếp tục, khiến cho sự lạc quan lan rộng trở nên khó khăn.

Một lý do khác cho sự bi quan là các kịch bản tốt đẹp đòi hỏi điều kiện phải có là thảo luận tình hình trong tiến trình công khai, hợp lý và học tập trong môi trường xã hội. Tuy nhiên, ngày nay, mối liên kết giữa giới kỹ thuật chuyên môn và hoạch định chính sách công yếu hơn so với trước đây, khi giới tinh hoa nắm quyền nhiều hơn.

Cuộc cách mạng kỹ thuật số thúc đẩy việc dân chủ hóa quyền lực, nó đã san phẳng các hệ thống nhận thức cùng với các phân cấp khác. Hiện nay, việc quyết định trong chính trị được thúc đẩy bởi các cuộc tranh luận nhảm nhí , nó thường được biến thanh loại vũ khí. Hầu như đó không phải là một môi trường lý tưởng để tự kiểm tra chung xây dựng và một vài phạm vi chính trị có thể tồn tại lâu dài hơn bất hợp lý so với khả năng có thể giải quyết

Yếu tố biến động lớn lao nhất lả Hoa Kỳ. Đó là sự bất hạnh duy nhất của đất nước khi có nhà lãnh đạo bất tài và gây chia rẽ nhất trong lịch sử hiện đại ở trong vị trí lãnh đạo khi cuộc khủng hoảng xảy ra, và đuờng lối cai trị của ông không thay đổi dù dưới áp lực. Đã trải qua một nhiệm kỳ gây chiến với nhà nước, ông không thể triển khai nó một cách hiệu quả khi tình hình yêu cầu. Khi đánh giá vận may chính trị của ông được phục vụ tốt nhất bằng sự đối đầu và thống trị thay vì đoàn kết dân tộc, ông đã sử dụng khủng hoảng để chiến đấu và gia tăng phân hoá xã hội. Thành quả kém cỏi của Mỹ trong cơn đại dịch có một số nguyên nhân, nhưng đáng kể nhất là một nhà lãnh đạo quốc gia đã thất bại trong việc lãnh đạo.

Nếu tổng thống thắng cử trong nhiệm kỳ thứ hai vào tháng 11, cơ hội hồi sinh dân chủ hoặc nền trật tự quốc tế tự do sẽ suy giảm. Tuy nhiên, cho dù kết quả bầu cử là gì đi nửa, tình trạng phân hoá sâu đậm của Hoa Kỳ có vẻ như vẫn còn tồn tại. Tổ chức một cuộc bầu cử trong cơn đại dịch sẽ rất khó khăn, và sẽ có những động lực khích lệ cho những người thua cuộc bất mãn thách thức tính hợp pháp của nó. Ngay cả khi đảng Dân chủ chiếm Toà Bạch Ốc và cả lưỡng viện Quốc hội, họ sẽ thừa kế một quốc gia hầu như bị phá nát. Nhu cầu hành động sẽ gặp phải là núi nợ nần và kháng cự quyết liệt từ phe đối lập thô bạo. Các định chế quốc gia và quốc tế sẽ yếu đi và chao đảo sau nhiều năm bị lạm dụng, và sẽ mất nhiều năm để xây dựng lại chúng nếu điều đó vẫn có thể xảy ra.

Với giai đoạn bi thảm và cấp bách nhất của cuộc khủng hoảng vừa qua, thế giới đang chuyển sang một thời bi quan dài. Cuối cùng, giai đoạn sẽ kết thúc, một vài nơi có thể sẽ thoát nhanh hơn các nơi khác. Tình trạng co cụm trong toàn cầu đầy bạo lực dường như là không thể xảy ra, và dân chủ, chủ nghĩa tư bản và Hoa Kỳ đều đã chứng minh được khả năng chuyển hoá và thích ứng trước đây. Nhưng họ sẽ cần phải làm cái gì đó cực kỳ thông minh và đột biến để giải quyết vấn đề.

_____

Francis Fukuyama là chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Olivier Nomellini thuộc Freeman Spogli Institute for International Studies tại Đại học Stanford. Ông lả tác giả của: Identity: The Demand for Dignity and the Politics of Resentment.

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen