Nguồn: https://doanquocsy.com/
Tác giả: Doãn Quốc Sỹ (1965)

Mục lục
Phần Mở Đầu
Làng Việt Nam
Trước khi đi sâu vào tâm tình người Việt, cần biết qua khung cảnh của tâm tình đó: làng Việt Nam.
Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu có viết nhiều bài tiểu luận về non nước Việt Nam, một số đề cập đến làng Việt Nam. Các anh chị em sinh viên trường Luật ngay năm thứ nhất cũng đã được học về chế độ làng xã Việt Nam.
Xin tóm tắt thành một thiên khảo luận nhỏ về làng Việt Nam.
PHẦN BỐN
NGƯỜI VIỆT ĐÁNG YÊU DƯỚI MẮT ÔNG PAZZI
Trung tuần tháng năm vừa rồi đúng lúc tôi đã thu thập xong những bài diễn thuyết cùng những bài báo đã đăng tải cũ sửa soạn cho in thành tập Người Việt đáng yêu thì một anh bạn hỏi: “Nhật báo Đất Tổ đã đăng bản dịch một thiên khảo luận của một người Ý ở Việt Nam 20 năm viết về người Việt Nam, anh đã đọc chưa?” Tôi lắc đầu nói là chưa đọc. Anh bạn tiếp: “Có những nhận xét về đôi mắt và nụ cười của người Việt thật tuyệt!”
Rồi tôi quên câu chuyện đó. Hai tuần sau vẫn anh bạn trên gặp tôi và lại hỏi tôi đã tìm đọc thiên khảo luận về “Đôi mắt và nụ cười của người Việt” chưa. Anh bạn không lạ tính tôi vẫn tha thiết với những vẻ đẹp giống nòi. Lần này tôi tìm đọc thiên khảo luận đó thật. Tôi đến tòa báo Đất Tổ. Một sự may mắn không ngờ là đúng hôm đó – hôm thứ năm 3-6-1965 – nhật báo Đất Tổ vừa ra tới số 20 có in những khuôn chót của thiên khảo luận. Tôi gặp anh Vũ Hạnh và cô Minh Đức Hoài Trinh đã xếp cho tập báo từ số 1 đến số 20.
Tôi đọc suốt buổi trưa. Và khi đọc xong tôi thấy không thể không xin dịch giả (cô Hồng Cúc) cho phép được tóm tắt những ý chính của thiên khảo luận với những đoạn trích dẫn nhỏ.
Tìm nguyên ủy về tác giả – ông Pazzi người Ý – và tác phẩm, tôi được cô Hồng Cúc cho hay là thiên khảo luận này ông Pazzi đã cho đăng trên một tập san văn hóa nào đó ở Ý vào năm 1960. Ông Pazzi đã ở Việt Nam chừng 20 năm. Người bà con của cô Hồng Cúc ở Pháp được đọc thiên khảo luận đó bèn dịch ra Pháp văn rồi gửi về đây để đồng bào ở ngay nới đất mẹ dịch sang tiếng mẹ đẻ cho song suốt.
Hiện nay tôi cũng không được rõ là bản dịch Pháp văn đã cho đăng ở Pháp chưa.
Tôi xin phép được tóm tắt và trích dẫn vì thiên khảo luận đó chính là tiếng nói khách quan quý giá làm nền cho tiếng nói chủ quan của tôi. Chúng ta được dịp chứng kiến những nhận xét đặt biệt của người bạn Tây phương viết về dân tộc ta sau 20 năm sống trên đất nước này. Ông Pazzi sẽ tô đậm them những nhận xét chủ của chúng ta, bổ khuyết những điều mà chỉ người Tây phương hoàn toàn khách quan mới khám phá thấy hoặc mới có quyền nói ra.
NGƯỜI VIỆT ĐÁNG YÊU DƯỚI MẮT NGƯỜI NGOẠI QUỐC
Dư luận quốc tế không hiếm người đã nói về dân tộc Việt Nam về mọi khía cạnh.
Theo ông Hồ Hữu Tường thì có một sử gia Nhật viết một cuốn sách dày trên một ngàn trang, khi đề cập đến người Việt đời Trần, sử gia đó có đặt một câu hỏi là người Việt phải có một cái gì đặc biệt nên quân Nguyên cả thắng tại khắp mặt trận từ Đông sang Tây mà cả ba lần đều đại bại ở Việt Nam.
Ông Paul Mus người Pháp trong Sociologie d’une guerre ca ngợi nét mặt thanh tú của những trẻ Việt và nét mặt hiền triết của những ông già Việt.
Ông Sinclair người Anh đã ca ngợi tinh thần hiếu học của dân tộc Việt.
Ông G. Meillon người Pháp cho rằng tiếng Việt là thứ tiếng vừa văn chương vừa giàu nhạc điệu nhất thế giới.
Ông Frey một nhà ngữ học người Pháp có lẽ nhận thấy những vận gốc của tiếng Việt đầy đủ quá (chính điều này khiến người Việt học bất cứ một ngoại ngữ nào cũng rất chóng) nên đã nêu một giả thuyết táo bạo: “Tiếng Việt là mẹ các thứ tiếng.”
Vẫn là để ca ngợi sự giàu âm thanh trong tiếng Việt một người Pháp vào thời thực dân xưa đã sống lâu tại Bắc Việt, biết đánh tổ tôm, biết ngâm Kiều có nói rằng chỉ cần nghe câu đầu bản dịch bài Tỳ Bà Hành cũng đủ biết là đôi bạn đã tiễn đưa nhau tại một bến sông. Chữ đầu trắc (Bến), chữ cuối trắc (khách) là hai mũi thuyền cùng những tiếng trường bình và đoản bình quảng giữa, ta cứ việt theo nhịp điệu xô dồn của câu thơ mà vẽ thành hình ảnh chiếc thuyền bằng… âm thanh.
Bến khách Tầm đưa Dương khuya Canh.
Ông Tây thời thực dân này – tiếc rằng chúng tôi không được biết tên – lẽ ra phải là giáo sư Việt Văn mới phải.
Nhưng đến khi tôi đọc trọn tập khảo luận của ông Pazzi, tôi có cảm tưởng ông Pazzi đã có cái nhìn bao trùm được mọi khía cạnh của từng giả ngoại quốc vừa kể trên. Cũng vì có cái nhìn bao quát như vậy nên những nhận xét của ông càng thêm phần sâu sắc.
(Tất cả những hàng chữ in nghiêng sau đây đều trích theo bản dịch của cô Hồng Cúc trên nhật báo Đất Tổ.)
ĐÔI MẮT VÀ NỤ CƯỜI NGƯỜI VIỆT
Mở đầu thiên khảo luận về dân tộc Việt – cứ tạm gọi đây là thiên khảo luận – ông Pazzi cho rằng sau ngót hai mươi năm sống trên đất nước Việt Nam ông đã có đủ thì giờ hiểu người dân khả ái cùng cái xứ sở khá kỳ diệu này. Ngày đầu tiên khi đặt chân đến đất Việt Nam được thực mục sở thị nhìn người Việt Nam, ý nghĩ đầu tiên của ông Pazzi là: “người Việt Nam thật đẹp.” Ông đã nêu ý nghĩa đó nhiều lần với người Việt về sau này. Tất nhiên ông chỉ nhận được những nụ cười hoài nghi của người mình, ai nấy cho đó là cách nói xã giao để lấy cảm tình. Con mắt là gương phản chiếu tâm hồn, và tâm hồn người Việt là một tâm hồn thuần thục ý thức được cái sức nặng văn hóa của giống nòi mình. Ông công nhận người Tàu, người Nhật đều có những vẻ khả ái riêng nhưng đôi mắt, cái miệng của người Việt Nam có một sức sống kỳ lạ mà chỉ người ngoài mới nhìn thấy và phân biệt được mà thôi.
Nhiều dịp tôi đã thấy kẻ bất lương hung hăng ném những tia nhìn hằn học đục ngàu sát khí nhưng khi ý nghĩ bạo ác tàn rồi, cặp mắt của họ dịu xuống, lại trở về với cái vẻ dịu hiền sắc sảo của dân tộc mình. Dù cho đôi mắt ấy không bình thường, hay bị thương tật cái nhìn của người Việt Nam vẫn là cái nhìn thông minh, trong đó có nhiều sâu thẳm của nền văn minh.
Khi nói đến cái cười của người Việt, ông có nhắc đến ý nghĩa của ông Nguyễn Văn Vĩnh trước đây cho rằng người Việt gì cũng cười, là cái cười vô ý thức. Ông Pazzi cho rằng nếu quả thực như thế thì người ta đã phản bội dân tộc mình. Trái lại ông cho rằng người Việt với nụ cười đặc biệt của mình đã gây được một thế quân bình đặc biệt khiến trong mọi ngành sinh hoạt người Việt có khả năng chấp nhận và dung hòa được mọi ý kiến dị đồng.
Đời sống của dân tộc họ dù có chiến thắng vẫn không có những hân hoan tột độ, và dù chiến bại vẫn không có những bi đát vô cùng.
Sau này nghiên cứu lịch sử Việt Nam tôi càng thấy rõ rệt hơn điều ấy. Những lúc dẹp xong kẻ thù họ vẫn ngoan ngoãn làm người triều cống và khi bị kìm kẹp giữa gông cùm nô lệ họ vẫn thản nhiên tìm cách vươn lên. Chưa có dân tộc nào chiến đấu oai hùng như họ trải qua lịch sử, mà họ nào có bản anh hùng ca nào đâu. Cũng chưa có dân tộc nào đã lầm than đến thế, mà nào học có một lời kêu khóc bi thảm nào đâu? Văn chương Việt Nam không hề có sự bi thảm, tuyệt vọng bởi vì dân tộc của họ không thể bi thảm đến mức tuyệt vọng. dù phải sống vào bất cứ trường hợp nào 1 .
Có lẽ chúng ta cần nói thêm là chúng ta không những không có anh hùng ca trái lại chúng ta thuộc lòng truyện Kiều, chúng ta trìu mến truyện Kiều đến nỗi đã có dư luận đùa rằng nước Việt Nam là Kim-Vân- Kiều quốc, người Việt Nam là Kim-Vân-Kiều nhân, phải chăng vì số kiếp đoạn trường của nàng Kiều đã phản ảnh một cái gì đồng điệu với lịch sử đoạn trường của dân tộc Việt?
Ở điểm này ông Pazzi có nhận xét rất sâu sắc là chính cái tiềm thức cộng đồng của dân tộc mới là cái di sản lớn vô cùng… Nó là kết quả của bao nhiêu đời sinh hoạt, của bao nhiêu nỗi thăng trầm vinh quang và tủi nhục thảy đều dần tụ để mà chung đúc lại thành những phản ứng sâu xa trong mỗi người dân, khiến lúc họ đi họ đứng họ nói họ cười cái vốn liếng ấy vẫn chi phối họ, vẫn hiện diện cách này hay cách khác…
Những người Việt khi nghe ông Pazzi thốt lời khen là đẹp thường hoài nghi vì chưa hiểu rõ cái quan niệm về đẹp của ông. Ông Pazzi đâu có nói đến khuôn mặt no đủ, trắng phốp hay hồng hào của những hạng người quen sống trong nhung lụa. Thực ra ở bất cứ một xứ nào những hạng người ấy đều rất có thể gi6óng nhau và người ta chỉ có thể đọc thấy trên những khuôn mặt đó sự no-nê phè-phỡn, của lòng toại nguyện dễ dãi phản chiếu cả một thái độ ích kỷ tàn nhẫn. Bởi vậy khuôn mặt đẹp của người Việt Nam, theo ông Pazzi, chính là khuôn mặt rám nắng, khắc khoải những lo âu cùng những hi vọng, khuôn mặt linh động và phong phú của những kẻ đang viết những trang sử lớn, khuôn mặt do quá trình gian khổ và sức quật cường lớn lao tạo thành, khuôn mặt có cặp mắt biết quắc nhìn giận dữ mà không tàn bạo, có đôi môi biết mím chặt căm hờn mà không ác tâm.
Sau khi nói rõ về đôi mắt nụ cười người Việt, ông Pazzi tìm hiểu sâu xa hơn những đức tính tinh thần cố hữu của người Việt.
MỘT CĂN BẢN TINH THẦN QUÝ GIÁ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM LÀ ÓC THIẾT THỰC
Tinh thần thiết thực của người Việt phản ảnh ở khắp mọi nơi, trong khắp mọi hoạt động. Cách ăn mặc nhã đạm của người Việt cũng đã mang khá rõ lịch sử chiến đấu gian nan, oanh liệt của mình. Dù sau này đã chịu ảnh hưởng Tây phương người Việt vẫn tôn trọng lề lối truyền thống ăn mặc nghiêm chỉnh của mình.
… Thật là đáng nên suy nghĩ khi người dân ở xứ nóng như họ mà không hề có kiểu áo hở cổ của người phụ nữ xứ lạnh Tây phương, hoặc không có lối áo ngắn áo dài lộ cánh tay trần như người Trung Hoa là dân miền lạnh.
Tinh thần thiết thực của người Việt Nam đã biểu lộ rõ ở những câu tục ngữ như “khôn ăn cái, dại ăn nước”, hay “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”.
Về cách ăn mặc thì thế, về các công trình kiến trúc người Việt cũng ưa nhũn nhặn lẩn vào thiên nhiên.
Người Việt không chú trọng thực hiện những công trình kiến trúc đại quy mô thật nguy nga tráng lệ vì:
Họ không dại gì đem sức đá gạch mong manh để chọi với sức tàn phá vô tận của dòng thời gian. Họ dành sinh lực, vật lực của mình cho những nhu cầu thiết thực, cấp bách… Người Việt Nam không hề có óc viển vông và đó là cái quân bình làm nên sức mạnh của giống nòi họ. Nếu người ta hiểu rằng người Chiêm Thành sống trên mảnh đất nghèo nàn hơn, họ lại có những ngôi tháp cổ công phu ngày nay vẫn còn cố đứng rầu rĩ trên các sườn đồi miền Trung, thì ta hiểu rõ vì sao người Việt lại là những người chiến thắng. Điều ngộ nghĩnh là ông Pazzi nhận xét thấy cả tinh thần thiết thực của người Việt trong thể thơ tiêu biểu của dân tộc, thể lục bát:
Trong điệu lục bát chúng ta có thể tìm thấy tinh thần thiết thực Việt Nam ở chỗ yêu vận: tiếng cuối câu LỤC vần với tiếng thứ sáu của câu BÁT, nói lên sự bám vía thật là chắc chắn. Hầu như người Việt cần phải nghĩ lại cho thật vững tâm rồi mới dám bước tới nữa. Trên con đường dài tám chữ ấy, người Việt đã có một trạm nghỉ ngơi để mà đổi ngựa, kiếm nước, chuẩn bị lại hành trang để tiếp tục lên đường.
TINH THẦN UYỂN CHUYỂN VÀ TẾ NHỊ CỦA NGƯỜI VIỆT
Thoạt ông Pazzi nghiên cứu tinh thần uyển chuyển và tế nhị đó ở ngôn ngữ Việt:
Ngôn ngữ Việt Nam là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc…
Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, hay Trung, hay Nam hát những dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần túy và giọng thuần túy của nọ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà chừng nào.
Sự phong phú trong âm thanh lại được thay đổi qua nhiều miền đất của quê hương họ.
Nếu phải tô màu các giọng nói ấy, người ta có thể vẽ một bản đồ Việt Nam thật đẹp. Có miền màu xanh, có miền màu hồng, có miền màu trắng, có miền màu vàng, đấy là chưa nói mức độ đậm lợt khác nhau… Rồi từ sự uyển chuyển và tế nhị của ngôn ngữ Việt, ông Pazzi xét sâu đến tinh thần uyển chuyển và tế nhị trong chính sách truyền thống của người Việt:
… Ở cái thế yếu của một dân tộc nhỏ bé nhưng giàu tự trọng bị sự chèn ép thường xuyên, người Việt bao giờ cũng sẵn sàng đứng lên đối đầu với kẻ thù địch, và sau khi đã chiến thắng vẫn sẵn sáng đem những món bảo vật khó tìm để mà triều cống. Cái lễ lạt ấy có lẽ không gì đáng nên chú ý, nhưng nếu người ta hiểu rằng đó là thái độ của kẻ đã từng tỏ ra bất khuất, đó là thái độ của kẻ chiến thắng vẻ vang, thì thật là một hành động đáng cho các dân tộc ở Tây phương suy ngẫm. Tôi vẫn ngạc nhiên về sự mềm dẻo mà cương quyết ấy, khuất phục mà kiêu hãnh ấy của người Việt Nam. Ngoài các phương thức uyển chuyển để mà tự tồn, chính sách ấy còn nói lên tinh thần trách nhiệm của người cầm quyền đối với dân chúng không vì những lối cao ngạo, tự ái nhất thời mà quên quyền lợi lâu dài của dân tộc mình, không vì một chút thiệt thòi nhỏ mà đem phung phí xương máu nhân dân 2 . Một dân tộc chưa đạt đến trình độ văn minh tế nhị tất không có sự phân biệt rạch ròi như vậy, và nếu chúng ta biết rằng ngày xưa nho sĩ Việt Nam đã tỏ ra sùng bái thánh hiền Trung Hoa đến mực độ nào, lệ thuộc văn hóa Trung Hoa đến chừng mức nào, vậy mà khi cần giữ độc lập quốc gia, bảo toàn dân tộc, họ không ngần ngại một sự hi sinh nào hết để tiêu diệt kẻ thù. Người Việt nhận định chính xác được mối tương quan giữa phần chính trị và phần văn hóa, đồng thời cũng nhìn thấy sự phân biệt giữa hai phần ấy trong một mức độ phải chăng.
Ý THỨC LUÂN LÝ CỦA NGƯỜI VIỆT
Dân tộc Việt Nam đã tự vệ tự tồn bằng cái ý thức luân lý hết sức mạnh mẽ vững bền của mình cách ăn ở luôn luôn có tình, có nghĩa, trung hậu, thành tín. Ý thức đó đã thành một phản ứng hết sức sâu xa bén nhạy vì người dân Việt sống giữ thơ, tục ngữ, cổ tích, thần thoại rất mực đạo đức của mình như cá sống giữa biển. Bởi vậy:
Cho đến những người dân quê thất học, tâm não cũng thấm nhuần được khá nhiều các câu răn dạy truyền khẩu có điệu, có vần để họ sử dụng trong cuộc đối thoại như những nguyên tắc vàng ngọc, và cả trong khi chửi rủa như những luận chứng bất khả, di dịch. Một điều rất đáng chú ý là có lắm câu tục ngữ hết sức bóng bẩy, rất đỗi khó hiểu, cả đến nhiều người trí thức có văn bằng cao cũng không thể nào cắt nghĩa cho gọn, thế mà những người bình dân vẫn sử dụng một cách chính xác đặc biệt trong những lúc nói năng. Tất nhiên người nói không sao cắt nghĩa các câu phát biểu một cách phân minh, vì họ chỉ hiểu nó bằng trực giác vì căn bản tâm hồn họ như làm bằng chất luân lý và thông cảm với luân lý một cách tự nhiên, dễ dàng. Nếu người ta đem so sánh trình độ dân quê nước Pháp hay là nước Mỹ với người dân quê Việt Nam người ta sẽ thấy rõ rằng trình độ phản ứng luân lý của người Việt Nam sâu sắc hơn nhiều. Điều đó thực cũng dễ hiểu, bởi vì dân tộc Việt Nam đã lập quốc lâu đời hơn các nước nói trên hàng mấy ngàn năm, và họ là một dân tộc chiến đấu không ngừng ở trong lịch sử để mà tự tồn, phát triển, nên có ý niệm ngấm ngầm vững chắc về giá trị mình.
Vì dân tộc Việt Nam có được ý thức luân lý sâu xa bền vững như vậy nên mới đầy rẫy nhưng gương đạo đức như Nguyễn Đình Chiểu chẳng hạn, mà mà vẫn đem sức tàn ra làm thơ chống giặc truyền bá đạo lý, nghèo đó mà không thèm nhận tặng vật của quân xâm lược, không thèm dùng những sản phẩm của quân cưới nước, không thèm dùng những sản phẩm của quân cướp nước, không thèm đi trên con đường cái quan là công trình xây đắp của quân cướp nước. Bảo là cụ Nguyễn hồi đó cố chấp ư? Không, thái độ căm thù quân xâm lược như vậy đáng cảm động biết bao và đã là một lời khuyến cáo khó lòng phai nhạt đối với bao nhiêu thế hệ đến sau, đó là một tinh thần kết tinh của bao nhiêu thế hệ chống đối, một loại kim cương đọng lại từ lớp đá than sinh hoạt của bao nhiêu đời, người ngoài phê bình hời hợt với con mắt bàng quan sao được!
Vẫn nói về ý thức luân lý của người Việt, ông Pazzi cũng đã không quên nhắc đến trường hợp thi hào Nguyễn Du với kiệt tác Đoạn Trường Tân Thanh của người. Ông Pazzi công nhận lời thơ của một dân tộc có âm hưởng riêng của nó mà người ngoại quốc không sao thấu triệt được hết, ông chỉ có thể ghi vềĐTTT như sau:
… Sự đả kích truyện Kiều chỉ xuất phát từ đôi quan điểm có chấp hẹp hòi của vài nhân vật thủ cựu hoặc bị lệch lạc vì một quan điểm chính trị nhất thời nào đó, hoặc vì quá chú trọng vào chi tiết mà quên đại cương. Thực ra nội dung quyển Đoạn Trường Tân Thanh là một nội dung luân lý, và đó là thứ luân lý sâu xa đặc biệt về người, vì nó tố cáo một sự chà đạp con người, bày tỏ một niềm khát vọng yên vui hạnh phúc về người. Tôi tưởng không nói quá khi nhận định rằng truyện Kiều – mà tôi phải tốn bao nhiêu công phu tìm hiểu – là một tác phẩm tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, có một nội dung cao nhất về mặt đạo đức, vượt xa hơn hẳn bao nhiêu tác phẩm cổ điển của nhiều dân tộc tự xưng có nền văn minh lâu đời trên thế giới này. Đọc nó, ta thấy nức nở một niềm tủi hổ về con người bị đày đọa, con người tài đức vẹn toàn mà không bao giờ được hưởng hạnh phúc, và trong sự nức nở ấy là tiếng kêu đòi thống thiết được cao đẹp, yên lành.
Kể ra chúng ta có thể tóm tắt những trang ông Pazzi viết về ý thức luân lý của dân tộc Việt Nam thành mấy tiểu điểm chính như sau:
1. Trọng vẻ đẹp tinh thần. – Chính nếp sống toàn diện đã khiến tình cảm người Việt phức biệt và phong phú đến nỗi người ngoài trông vào phải rất đỗi bỡ ngỡ vì thấy họ mang trong bản thân sao cực nhiều mâu thuẫn. Họ sống với một thứ triết lý tinh diệu của sự liên kết mềm mỏng mà không nhượng bộ, hiền từ mà không nhu nhược, uyển chuyển để nuôi dưỡng sự tồn tại của mình.
Mới trên đây ông Pazzi nhận xét căn bản tinh thần quý giá của người Việt: là óc thiết thực, thì đây ônglại nêu một điều quan trọng khác trong ý thức luân lý của người Việt là trọng vẻ đẹp tinh thần nhiều hơn vật chất. Ông Pazzi quả là người ngoại quốc hiếm hoi đã rọi được tia nhìn sắc bén mà phân tích được những thái độ nhường như có bề ngoài mâu thuẫn đó của người Việt. Lời ông viết:
Họ thích vẻ đẹp tinh thần nhiều hơn vật chất, thích thấy được cái chiều sâu tâm hồn hơn là dừng lại ở cái bề mặt hình thức. Họ vẫn giết kẻ thù đề thờ liền đó, bởi vì họ quan niệm rõ một sự cách biệt giữa cái giá trị thuộc về sự sống với cá giá trị thuộc về sự chết…
Cho nên người Việt Nam giết Sầm Nghi Đống rồi để cho lập miếu thờ họ Sầm không phải là trọng vọng tên giặc cướp nước, mà chính là họ hoài niệm một kẻ bản lĩnh bị thiệt thòi kia một chút an ủi tinh thần, đó là một thứ nghi lễ của một dân tộc có nền văn minh độc đáo. Với lại sau khi nó chết, nó không còn phá hoại nữa, thì cái giá trị nguyên vẹn của nó về các tài năng dũng lược vẫn còn.
2. Kỷ luật về hôn nhân. – Ông Pazzi nhận thấy rằng kể cả các dân tộc văn minh nhất, không có một dân tộc nào có một kỷ luật nghiêm khắc về luân lý hôn nhân như ở Việt Nam. Các người bà con và cả những người đồng tính đều có một sự cấm kỵ phối hợp vì người Việt quan niệm những cuộc hôn nhân như vậy là hoàn toàn vô luân rất đáng kết tội.
Điều đó – theo ông Pazzi – chứng tỏ người Việt ở một trực giác khoa học rất cao, sự nghiêm khắc đó chính là phát khởi từ cái ý thức tự vệ tự tồn rất vững mạnh để cho giống nòi khỏi bị những sự kết hợp nguy hại, mà có những miêu duệ tốt, tránh xa được sự tác hại của những ảnh hưởng di truyền đồng tính đồng tật.
Vẫn về vấn đề hôn nhân ông Pazzi cũng có chú ý đến tính cách đặt biệt của người phụ nữ Việt rất ít chịu lấy chồng ngoại quốc, ông có nhắc đùa đến truyện Huyền-Trân công chúa được gả cho vua Chiêm là Chế Mân, để đổi lấy hai châu Ô, Lý, nhưng rồi lại được cướp về. Ông cho quan niệm đó không phải nhất thiết hẹp hòi, ông tìm ra nguyên ủy ở hoàn cảnh lịch sử:
Trên phương diện này dân Việt có lòng tự ái đặc biệt khác hơn bất cứ dân nào. Ta có thể hiểu trong cái quá trình lịch sử luôn luôn bị sự chèn ép, áp bức của những thế lực bên ngoài, người Việt không muốn liên kết sâu xa với thế lực ấy để khỏi bị diệt vong. Họ phải bảo tồn nòi giống và danh dự, họ không muốn phụ nữ của họ rất trung thành, chịu đựng, có thể vì sự gắn bó mà quên giống nòi. Bài học lịch sử của dân tộc họ là chuyện Mỵ Châu, con gái An Dương Vương, vì lấy một người ngoài tên là Trọng Thủy, mà cơ nghiệp của nhà vua sụp đổ tan tành, đất nước bị sự lệ thuộc lâu dài.
3. Lòng hiếu khách của người Việt. – Ông Pazzi đã khách quan công nhận:
Họ là dân tộc hiếu khách, càng đi vào nơi hàng cùng ngõ hẻm lòng hiếu khách ấy càng được duy trì phát triển. Người Việt sẵn sàng dành những tiện nghi cho khách, để món ăn ngon cho khách và coi việc khách đến thăm nhà mình là một hành động thân ái đáng nên trọng vọng. Câu nói “tiên khách hậu chủ” cho ta thấy họ có mộ quan niệm rất thông minh về mối tương quan đối đãi giữa con người, do đó những người phụ nữ dầu có nhan sắc đến đâu, tài giỏi đến đâu cũng bị người Việt coi như là người vợ xấu nếu làm mất lòng khách đến thăm nhà, tỏ ra kém lịch thiệp ích kỷ khó tính chẳng hạn đối với bà con bạn hữu.
4. Địa vị phụ nữ trong xã hội Việt Nam. – Ở điểm này ông Pazzi cũng đã sáng suốt nhận thấy có sự phân công rất hợp lý trong gia đình Việt Nam giữa người chồng với người vợ. Tuy ông không nhắc đến câu cách ngôn cửa miệng của chúng ta “lệnh ông không bằng cồng bà” nhưng ông công nhận rằng vai trò của người phụ nữ Việt sánh ngang loại giám đốc chính trị kiêm cả chuyên viên trong một xưởng lớn. Và nhiều lần ông đã được nghe những người Việt nói với ông là xứ sở này tồn tại, phát triển được, công lớn chính nhờ ở các bà mẹ Việt Nam.
5. Tinh thần tập thể của người Việt. Ông Pazzi cho rằng tinh thần tập thể của người Việt phản ảnh ngay trong văn phạm, cú pháp Việt. Một tiếng Việt có thể là động từ, có thể là bổ túc từ, có thể là danh từ người ta chỉ có thể hoàn toàn hiểu tiếng đó trong cả câu nói.
Tấm lòng hiếu khách, yêu mến bà con họ hàng há chẳng là sự biểu hiện của tinh thần đó sao? Ông Pazzi cho rằng ý thức tập thể đó bắt nguồn ở hai nguyên nhân:
– Nguyên nhân văn hóa: Tuy người Việt chịu ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Hoa, nhưng căn bản chừng như vẫn là nền văn hóa Indonésien hướng về đời sống hương ẩm cộng đồng hết sức mạnh mẽ.
– Nguyên nhân lịch sử: Ý thức tập thể ấy còn là dấu hiệu tự vệ của một dân tộc phải đương đầu nhiều với giặc ngoại xâm.
Cũng do ý thức luân lý tập thể đó mà người Việt có được đức tính ôn hòa đặc biệt. Ôn hòa ở chỗ lịch sử chiến đấu gian lao mà không hề có anh hùng ca, ôn hòa ở chỗ không bao giờ kỳ thị với các dân tộc khác, hãy xem việc người Việt tuy vẫn chống lại người Tàu suốt thời gian Bắc thuộc nhưng vẫn niềm nở đón nhận người Tàu đến buôn bán tại xứ sở mình, ông Pazzi còn viết thêm:
Không riêng gì trong sự đối đãi với các dân tộc, người Việt có thái độ hòa đồng thật văn minh như vậy, mà đối với mọi tôn giáo, với mọi tín ngưỡng người Việt cũng có sẵn tinh thần ấy.
… Vì thế ngày xưa trong các khoa thi người ta vẫn hỏi nhiều về tôn giáo, và đó là thời tam giáo đồng tôn đáng xem như là một trạng thái đặc biệt của nền văn minh Việt Nam. Sau này người Việt còn là kẻ chủ xướng ra đạo Cao Đài, một thứ tôn giáo tổng hợp. Tuy có những người chỉ trích sự liên kết quá rộng rãi trong các đối tượng tôn thờ, nhưng phải nhận rằng đó phát sinh từ một quan niệm rất cao và rất quảng đại chỉ có thể tìm thấy trong tâm hồn người Việt mà thôi.
Chúng tôi không thể không ghi thêm ở đây một nhận định vừa ngộ nghĩnh vừa sâu sắc của ông Pazzi về chén nước mắm với tinh thần tập thể của người Việt:
Có lẽ ý thức đồng sinh hoạt ở nơi người Việt đã được thể hiện rõ trong chén nước mắm đặt giữa mâm cơm. Nước mắm là món ăn phổ biến có nhiều sinh tố còn là thức ăn căn bản của mọi gia đình Việt Nam. Chén nước mắm không bao giờ thiếu trong các bữa ăn, hay nói cách khác nó không thể thiếu được. Mọi người ngồi chung mâm cơm đều chấm thức ăn vào chén nước mắm ấy như cùng gặp nhau ở một điểm hòa đồng.
6. Tinh thần bất khuất của người Việt. – Ông Pazzi đã nhấn mạnh cái giá trị lớn nhất của người Việt là ý chí tự cường bất khuất. Ông công nhận suốt trong quá trình lịch sử chưa có một dân tộc nào chiến đấu gian nan như thế, bền-bỉ dẻo-dai như thế. Người Việt không chỉ chiến đấu với khối Trung Hoa vĩ đại phương Bắc mà còn với Chiêm Thành phương Nam… rồi còn hứng chịu kẻ thù từ ngoài trùng dương ồ ạt tấn công vào bằng các súng ống tối tân. Tinh thần bất khuất dung hòa với tinh thần hòa đồng đã làm nên sức sống kỳ lạ của dân Việt trong việc giữ nước và giữ cá tính dân tộc:
Chúng ta đã từng nói đến những kẻ thù khá quan trọng không ngừng đe dọa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chính là dân tộc duy nhất trên địa cầu này đã chiến thắng những kẻ xâm lược có khuôn mặt lớn lao nhất trong lịch sử loài người.
Tất nhiên ông Pazzi không quên trường hợp giặc Mông Cổ:
Nếu người ta nghĩ đến giặc Mông Cổ và cái đế quốc Thát Đát mênh mông chừng nào, có lẽ người ta mới thấy được sức chiến đấu lạ lùng của người Việt Nam. Người ta có thể nhận định một cách rõ ràng và dứt khoát rằng chỉ mình dân tộc Việt Nam duy nhất trên địa cầu này – đã đánh bại quân Mông Cổ xâm lăng. Nhắc đến trường hợp xâm lăng của thực dân Pháp gần đây ông Pazzi viết:
Và về sau này, gần một trăm năm đô hộ dưới ách thống trị của thực dân Pháp được xem như là đế qu6óc hoàn chỉnh vào bậc nhất nhì ở trên thế giới, người Việt vẫn lại bền gan chiến đấu, và họ đã từng đánh cho kẻ thù tan tác nhiều phen khiến cho những viên đại tướng có uy danh nhất của thực dân Pháp vẫn còn giữ kỷ niệm hãi hàng của chiến bại.
Rõ ràng lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc biết mình tất thắng dù phải đương đầu với kẻ thù xâm lược hùng mịnh đến mấy. Cả thiếu nhi, cả phụ nữ đều giành được chỗ đứng vinh quang trong lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm:
… Cái ý chí bất khuất của dân tộc ấy bắt nguồn từ trong lịch sử ngàn xưa, thấm sâu ở trong xương tủy của họ, chan hòa ở trong huyết mạch của họ, bàng bạc trong niềm kiêu hãnh vô biên của một giống nòi không chịu sống trong tủi nhục, luôn luôn có sự gắn bó mãnh liệt vào mảnh đất của quê hương, vào di sản của dân tộc di sản đau thương mà rất kiêu hùng! Kẻ thù của dân tộc Việt chỉ bắt đầu thấy được sức mạnh ấy khi họ đã thất bại, và thật là quá muộn màng.
Cái ý sống huyền diệu của người Việt theo ông Pazzi thực mênh mông như biển Nam Hải, trùng trùng điệp điệp như dãy Trường Sơn. Ý sống ấy làm cho dân Việt chấp nhận được sự hy sinh dễ dàng hồn nhiên như hơi thở. Vì vậy mà ông Lê Lai đổi áo để chết thay cho ông Lê Lợi, Trần Thủ Độ lấy cái đầu mình bảo đảm để nhà vua khỏi đầu hàng kẻ thù. Trần Hưng Đạo chỉ vào dòng sông Bạch Đằng cương quyết không quay trở về nếu không chiến thằng, hoặc trước đó Lý Thường Kiệt khi cầm quân phạt Tống có tung ra bốn câu sấm mà hai câu sau cùng là:
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư! Dịch:
Cớ sao giặc dám hoành hành? Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
Tất cả những hành động của những bậc anh hùng lịch sử trên không phải là những hành động hoặc tuyệt vọng, hoặc bảo đảm liều lĩnh mà là những thể hiện của một niềm tin tưởng sâu xa vào cái khả năng vô lượng của giống nòi. Sau này Nguyễn Trung Trực khi quật khởi ở miền Nam cũng đã trả lời trước bọn thự dân xâm lược rằng đến bao giờ cỏ còn mọc trên đất Việt thì người dân Việt còn mãi mãi chống đối để tiêu diệt kẻ xâm lăng.
Dân tộc Việt Nam một mặt chống quân xâm lược từ Bắc tới, một mặt di động không ngừng về nam cho tới khi bị biển cả ngăn chặn lại ở mũi Cà Mau. Nói sao cho xiết cuộc chiến đấu vĩ đại trường kỳ gian khổ đó.
Ông Pazzi đã sống ngót 20 năm trên đất nước Việt, nên ông đã bắt mạch rất đúng để giải thích rất tận tình một niềm thắc mắc của một số người Việt thử thời:
Có lẽ có người Việt Nam khi nhìn thấy Kim Tự Tháp thấy đền Angkor hay và Vạn Lý Trường Thành bỗng sinh tấm lòng phiền muộn hay mặc cảm tự ti, vì thấy dân tộc mình thiếu những công trình kiến trúc qui mô. Họ quên hẳn rằng dân tộc của họ có thừa nghị lực, thông minh, cũng như tài năng tuyệt xảo để làm những công trình ấy, nhưng phải dồn hết tâm lực vào đầu mũi giáo, lưỡi cày trong cuộc chiến đấu tự tồn quá sức gian nan. Dân tộc họ không có những phút rỗi rãi dư thừa, không có tháng năm yên ổn kéo dài trong cảnh thái bình thịnh trị để mà đúc chữ, gò câu, xây đền, tạc tượng. Đó là một dân tộc chỉ biết có đi chứ không có đứng hay ngồi, một dân tộc chỉ quen làm lụng chứ không hề thích nghỉ ngơi, một dân tộc chiến đấu để mà xây dựng mãi mãi, không ngừng.
Ông Pazzi nhấn mạnh ở điểm văn minh Việt Nam súc tích và sâu thăm thẳm, nên đi vào bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào, tới chốn đèo heo hút gió nào cũng đều gặp thấy những người Việt Nam chịu đựng mà kiêu hãnh, nhỏ bé mà vinh quang. Ông kể:
Một người Việt Nam hết sức đáng yêu bảo với tôi rằng: “Ở trên đất nước chúng tôi, nơi nào cũng có anh hùng. Hãy đi vào các xóm làng, hỏi các nấm mồ và các bờ cây hốc đá quý ngài sẽ nghe kể lể biết bao nhiêu chuyện phi thường về giống nòi Việt.”
Có một điểm đặc biệt cần ghi nhớ thêm ở đây là suốt tập khảo luận nói về dân tộc Việt Nam, ông Pazzi luôn bằng cách này hay cách khác lưu ý chúng ta là ông nói đến những người Việt thuần túy mà theo ông càng xa chốn thị thành càng dễ gặp:
Nền luân lý ấy thấm sâu đặc biệt trong đời sống quần chúng và người ngoại quốc có thể kinh ngạc khi càng vào sâu các miền thôn quê lạc loài, núi rừng hẻo lánh thì vẫn gặp được những người Việt hiền hòa, đức độ hiển nhiên, và hình như càng xa thị thành bao nhiêu thì cái tinh thần đạo đức của người Việt lại càng rõ rệt…
Như thế chính bởi người Việt ở chốn phố phường bị sự xâm nhập cưỡng ép của văn minh nước ngoài, và nhiều nền văn minh này kéo đến đất nước Việt Nam không phải với thiện tâm thiện ý cùng nhau trao đổi xây dựng, hoặc ý định dung hòa nhân ái.
Với một cái nhìn trầm tĩnh ông Pazzi đã biết định giá rằng nền văn minh Việt Nam không có mặt nổi mà có mặt chìm, không có số lượng mà có phẩm chất, đó là một loại văn minh không hoàn toàn giống với bất cứ nền văn minh nào đã có những thời sôi nổi trên mặt địa cầu.
.Có lẽ đã trầm tĩnh nhìn vào chiều sâu tâm hồn người Việt như vậy, nên khi đến những người “trí thức” ông thường có thái độ nghi ngờ vì biết phần nhiều ở họ khi hấp thụ học thuật Tây phương thì hương đồng phấn nội của quê hương cũng bay đi ít nhiều mất rồi. Chẳng thế mà phê bình về thái độ ông Nguyễn Văn Vĩnh bỉ báng nụ cười Việt, ông Pazzi đã viết (mặc dầu ông thừa hiểu ông Nguyễn Văn Vĩnh là một học giả có uy tín):
… Và phải nhận rằng một số trí thức Việt Nam tuy có bằng cấp, có kiến thức rộng nhưng lại không có căn bản dân tộc bao nhiêu…
Và chúng ta nên nghiền ngẫm kỹ lời nhận xét này của ông về giới trí thức Việt Nam:
Bởi thế chưa có một dân tộc nào mà người trí thức lại nói pha trộn nhiều tiếng ngoại ngữ như vậy, thích xài đồ ngoại hóa như vậy. Nhưng may mắn thay, nếu lớp bọt bèo ở trên có những thành phần không bám được rễ xuống dưới đáy sâu, thì chính đông đảo quần chúng của họ lại tỏ ra quí dân tộc của mình một cách rõ rệt.
Quả vậy dưới thời Pháp thuộc số người ở giai cấp ưu đãi được ăn học đều lấy việc nói xen tiếng Pháp vào câu chuyện là một con dấu phô trương vẻ “trí thức” của mình. Tật đó còn tồn tại cho đến ngày nay bởi thế hệ trí thức thời Pháp thuộc còn đó. Năm 1956 nhân một chuyến ra khỏi nước ít ngày, phi cơ có hạ cánh đỗ tại phi trường Nam Vang chừng nửa giờ, tôi có dịp được nghe những Miên nói chuyện với nhau bằng tiếng Miên xen tiếng Pháp.
Thực là một dịp soi gương thấy bóng để mà suy ngẫm. Phải là người ngoại quốc nghe mới thấy hết cái chướng, cái nô lệ của tật đàm thoại đó. Sau đó tôi tiếp xúc với các bạn sinh viên Thái Lan ở thủ đô Bangkok, lối đàm thoại khác hẳn làm tôi thấy nhẹ nỗi ấm ức ở ngực: các bạn đó hoặc dùng tiếng Pháp hoặc dùng tiếng Anh trong đàm thoại để hiểu nhau, nhưng khi trở lại nói tiếng Thái thì cũng là tiếng Thái thuần túy, chứ không giả cầy xen vào một vài ngoại ngữ để ra điều ta đây đã từng… nô lệ.
Giới trí thức Việt Nam hẳn còn nhớ nhà “đại trí thức” nọ mà thời Phong Hóa, Ngày Nay gọi là trạng Mẹo.
Cách đây chừng năm sáu năm gì đó, trạng Mẹo (Pháp) tuyên bố tại Pháp đại ý: vì tiếng Việt quá nghèo nàn nên những ai muốn diễn đạt cho đủ ý bắt buộc phải dùng ngoại ngữ.
Hoặc gần đây một gia đình cả nhà viết nhật ký bằng tiếng Pháp.
Tôi thành thực nghĩ các vị đó dùng tiếng Pháp thành thạo như tiếng mẹ đẻ là một điểm không những khiến người Pháp phải phục mà người Việt chúng ta cũng lấy làm kiêu hãnh nhưng chỉ xin những người đó đừng vong bản, đừng quên rằng sở dĩ mình có được trí thông minh như vậy cũng là do dòng máu mình đã được hưởng cái khôn ngoan, cái thông minh tích lũy của cả dân tộc.
(Trong những tác phẩm, thường tôi vẫn để nguyên các nhân vật thuộc thế hệ cũ giữ thói quen nói lẫn tiếng Pháp vào câu chuyện. Đó cũng là một cách ghi lại cá tính của một giai đoạn lịch sử.)
Cũng may từ sau ngày đánh đuổi thực dân, dân tộc giành được độc lập, tuy Nam Bắc phân đôi nhưng những thế hệ về sau, riêng ở miền Nam này mà tôi nhận xét, tuy vẫn học ngoại ngữ hoặc Anh hoặc Pháp nhưng trong câu chuyện, con dấu nô lệ là cái thói quen xen những ngoại ngữ đã gần hết hẳn.
Trở lại với những bóng dáng trí thức trong thiên khảo luận của ông Pazzi. Khi ông ca ngợi tinh thần sống tập thể của người dân Việt ở lối chơi góp họ (hụi) hay góp tiền thăm viếng nhau trong những trường hợp hiếu hỉ, ông có ghi thêm:
Lối đóng góp này vẫn bị một số trí thức Việt Nam công kích nhưng chừng như sự công kích không đi sát với sinh hoạt căn bản của người dân nghèo Việt Nam bao giờ cũng đòi hỏi một sự giúp đỡ hỗ tương, và bao giờ cũng có cái ý hướng chia xẻ cùng nhau những nỗi vui buồn, điều mà tinh thần cá nhân chủ nghĩa Tây phương không làm thế nào có được.
Khi ông Pazzi ca ngợi tinh thần tập thể của người Việt thể hiện ở chén nước mắm đặt giữa mâm để chấm chung, ông cũng lại một lần nữa nhắc đến thái độ của giới trí thức vong bản:
Những người trí thức tân học Việt Nam có thể cho rằng lối ăn như vậy không hợp về sinh, và họ vẫn có lý lẽ mà chỉ trích, nhưng khi nói thế cơ hồ như họ quên mất cái phần tinh thần sâu xa duyên khởi ở trong sự việc.
Nói tóm lại hễ khi nào nhắc tới giới trí thức tân học Việt Nam ông Pazzi lại bằng một giọng ôn tồn nhã nhặn nhưng ân cần nhắc họ hãy luôn luôn thận trọng nhớ thả rễ xuống cho bám lấy đáy sâu của tiềm thức dân tộc kẻo vong bản. Ông có một thái độ vô cùng bén nhạy và tinh tế – bén nhạy và tinh tế như hoa hổ ngươi – để ngửi thấy mùi vong bản ở những con người hãnh tiến vì có điều kiện thâu nhận hoặc ít hoặc nhiều văn hóa Tây phương mà ta gọi là trí thức đó.
Hiện nay nhiều gia đình hiếu học khá giả cho con theo chương trình Pháp. Nhiều vị cho con theo học vậy để giúp chúng sớm nắm vững một ngoại ngữ Tây phương mà tự bổ túc và phong phú hóa trình độ văn hóa sau này khi trưởng thành vào việc giúp nước. Nhưng còn biết bao nhiêu người… biết bao nhiêu người khác cho con theo học chương trình Pháp với thái độ dè bỉu khinh khi chương trình Việt. Ngẫm cho kỹ họ cũng có lý phần nào ở thái độ trên khi nhìn vào hiện tình giáo dục nước nhà. Nếu chúng ta đã tạm thực hiện được những nhiệm vụ khẩn cấp đề cập ở Phần Ba (Vài ý kiến xây dựng quốc học) có lẽ chúng ta dễ
ăn dễ nói hơn để đưa những tâm hồn vong bản đó trở về với hơi ấm của lòng mẹ. Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể tạm dời bỏ cái nhìn bao quát lên lịch sử của cả một dân tộc mà đặt một câu hỏi nhỏ xíu đi vào chi tiết với bất cứ tâm hồn vong bản nào:
Văn bằng của họ, kiến thức của họ làm được cái gì, làm nổi cái gì, khi họ vong ơn đám người ngút ngàn kia đã đời này qua đời khác tưới mồ hôi xuống luống cày để có lúa nuôi cho giới trí thức yên tâm ăn học, tưới máu xuống đất giữ lấy nước khiến giới trí thức khi còn du học bên ngoài không phải cúi mặt hổ thẹn với bất cứ ai.
Họ chỉ cần nghĩ thế khi du học, họ chỉ cần nghĩ thế khi trở về, họ chỉ cần nghĩ thế khi được trao trách nhiệm chuyên môn. Người bình dân Việt ngút ngàn bên dưới, họ phức tạp mà đơn sơ, họ lại vượt thực tế đó trong thái độ sống trung dung hiền hòa. Những người dân kỳ diệu đó trên cái đất nước kỳ diệu này, họ có bao giờ đòi chia xẻ cái gì với những kiến thức trên đâu? Bởi trong khi họ nhẫn nại cần cù đem mồ hôi, đem máu ra làm đủ bổn phận người dân, họ vẫn luôn luôn điều hòa nhịp đi hải hà của cuộc sống với cái mênh mông tuyệt vời của thiên nhiên, những thứ mà cho đi không bao giờ hết, lấy đi không bao giờ tận. Tuy chúg ta đã đánh đuổi thực dân Pháp được hơn mười năm rồi, nhưng phải công nhận là chính sách thâm độc của chúng còn tiếp tục di hại cho đến ngày nay, mà một trong những nọc độc man rợ đó chính là khuynh hướng trí thức vong bản, nó tận tình phá phách mọi nỗ lực về nguồn và muốn làm cho thui chột tàn lụi mọi tiềm năng dân tộc. Chúng tôi thấy ông Pazzi cũng đã suy tư như vậy khi ông kết luận thiên khảo luận của ông bằng những trang thống thiết như sau:
Một điều đáng tiếc là những anh hùng lịch sử Việt rải rác khắp nơi thôn xóm, núi rừng, vẫn chưa được đề cập đến đầy đủ trong sách vở, chưa được phát hiện đúng mức trong văn học. Những chế độ áp bức lệ thuộc ngoại bang đều muốn che dấu, phủ nhận các vị anh hùng dân tộc và chỉ cho học ở nhà trường hết sức sơ lược về một số người lớn lao không thể che dấu nổi. Công cuộc tìm kiếm anh hùng, giới thiệu anh hùng dân tộc, để mà phát hiện và phát triển thêm những anh hùng ấy, còn là công tác dành sẵn cho người trí thức Việt Nam. Nhưng phần đông trí thức không chịu quan tâm, vì không tha thiết. Điều đó, như trên đã nói bắt nguồn từ sự kiện trí thức bị sự giáo dục đầu độc của các chế độ ngoại lai hay là lệ thuộc ngoại bang, nên bị vong bản, không còn thấy gì đáng kể về giống nòi mình, trừ cái tên gọi do cha mẹ đặt mà họ vẫn muốn kèm thêm mọi tên gọi nữa bằng tiếng nước ngoài. Bởi vậy số trí thức vong bản ấy họ không nhìn thấy những hi sinh vô tận của người nông dân Việt Nam, và điều kinh ngạc hơn hết, quái đản hơn hết, là họ không thuộc lịch sử của giống nòi mình. Nói về xứ sở của họ, họ sẵn có những thành kiến nguy hại, thiên về chỉ trích, để chứng tỏ họ biết nhiều về các nước ngoài hoặc đã được các nưới ngoài giáo dục, dù nước ngoài ấy là kẻ muốn làm ô nhục giống nòi của họ, muốn đem lại sự diệt vong cho dân tộc họ. Bởi vậy họ thường khen ngợi các “cường quốc văn minh” một cách không hề ngượng nghịu mà quên hẳn rằng chính dân tộc họ đã không lóa mắt trước các văn minh hình thức, chính dân tộc họ đã có một niềm tự tin sâu xa, đã tự ý thức được cái giá trị độc lập của mình nên mới tồn tại cho đến ngày nay. Cho nên thật là chán nản khi nghe một số trí thức Việt Nam nói về xứ sở của họ – xứ sở đau thương mà rất anh hùng – và cũng bi thảm hết sức khi nghe số trí thức ấy nói về nước ngoài họ hướng vọng một cách mù quáng.
Thậm chí nhiều người trí thức Việt Nam viết sách sử ký, địa lý Việt Nam mà vẫn chép lại y nguyên luận điệu của bọn thực dân, đế quốc đã viết sách về xứ sở Việt Nam, quên rằng bọn này nhìn nước Việt Nam với con mắt của dân khai thác thuộc địa nghĩa là không lý không tình gì hết. Thành thử họ nói về Việt Nam như nói về một miền xa xôi ở tận châu Phi, châu Úc đâu có tấm lòng gắn bó thiết tha, đâu nghe được dòng máu chảy trên sông, đâu thấy được mảnh xương phơi trên núi, đâu biết được giọt mồ hôi tưới trên luống cày của bao nhiêu đời cay đắng gây dựng và của bao nhiêu thế hệ oanh liệt bảo tồn. Bởi vậy những người trí thức Việt Nam chưa hiểu sâu xa về đất nước mình, cần phải tỏ ra khiêm tốn nhiều hơn, sớm gột rửa những thái độ vong ân bội nghĩa đối với giống nòi cần cù hi sinh của họ để mà dọn lấy con đường học hỏi sâu xa hơn nữa về dân tộc mình. Có thế họ mới khỏi thành những cái đòn kê tủi hổ cho các chế độ lệ thuộc ngoại bang, và mới thoát khỏi số kiếp là những công cụ phá hoại giống nòi. Có thế họ mới khỏi thành những vật lệ thuộc, mất hết cá tính và từ điểm ấy họ sẽ mất dần cả dân tộc tính, để rồi mất luôn cả phần nhân tính. Và chỉ có được như thế họ mới mong tìm thấy lẽ phải, chọn lấy được con đường sống lâu dài, vinh quan.
Tóm lại, điều mà ngày nay mọi người Việt nam ý thức về mình phải nhìn thấy rõ là dân tộc họ đang còn nghèo khổ, bệnh hoạn, thiếu thốn mọi bề. Họ đã hiểu rằng tất cả khuyết điểm cũng như tai nạn, là do sự vơ vét, bóc lột của những chế độ phong kiến, thực dân đã phóng những nanh vuốt nhọn xâu xé thịt da của dân tộc họ, hút cạn bao nhiêu tinh túy của họ. Bây giờ họ vẫn còn đang hứng chịu những kết quả bi thảm do các chế độ tàn bạo gây nên, và trong vô số kết quả tai hại còn có một lo âu trầm trọng, đó là hiện tượng một lớp trí thức vong bản.
Có lẽ chúng ta sẽ công bình hơn khi nói rằng trí thức Việt Nam còn có nhiều người thông minh đến lỗi lạc tuyệt vời, và có nhiều người sống rất đam mê lý tưởng, không ngừng hi sinh cho sự tồn tại, vươn cao của dân tộc họ. Chúng ta dù ở quốc gia nào khác, cũng xin nghiêng mình trước họ, vì họ là niềm kiêu hãnh của một giống nòi.
Ngày nay, công cuộc xây dụng đất nước Việt Nam đòi hỏi chống lại tất cả mọi hiện tượng suy đồi, thoái hóa, cũng như mọi thứ ràng buộc áp bức, bất công. Tất cả những hình thái làm cho sa ngã con người, lung lạc con người, cũng như tất cả biểu hiện vọng ngoại sai lầm đều làm thương tổn nặng nề đến sự sinh tồn dân tộc. Đồng thời tất cả giá trị cao quý, lớn lao vốn sẵn dồi dào trong dân tộc họ, phải được khai triển ở phần ý thức cũng như tiềm thức, ở mặt vật chất cũng như tinh thần. Và sự khai triển khá quan trọng ấy phải được khởi đầu từ mỗi cá nhân, vì cái vốn ấy cá nhân đã được thụ hưởng dồi dào ở nơi dân tộc, cần phải đóng góp lại cho dân tộc dồi dào hơn nữa, với nhiều nhiệt tình kiêu hãnh và một tấm lòng hết sức thiết tha.
Ông Pazzi, người bạn ngoại quốc chí tình của dân tộc Việt Nam đã kết luận bằng những trang nhận xét và ý nghĩ như vậy thiên khảo luận của ông. Hãy để hoàn toàn lời nói khách quan sau cùng đó vang lên, rồi trong yên lặng chúng ta tự suy nghĩ, tự kiểm soát, tự định thái độ.
KẾT LUẬN
Cái rét Bắc Âu, Trung A^u, Trung Á và sương mù Luân Đôn… làm chúng ta biết quý mà đón nắng gió phơi phới của quê hương, mở lớn đôi mắt mà ngẩng nhìn trời xanh thành biển, mấy trắng thành buồm trong một vẻ đẹp rỡ ràng mênh mông siêu thoát. Những nỗi khổ tâm của lục địa Trung Hoa, của Nhật Bản, của Ấn Độ về nạn nhân mãn nhắc nhủ chúng ta biết quý vựa thóc miền Nam, đất mầu cao nguyên chúng ta là một nước hiếm hoi của Á Châu không bị nạn nhân mãn đe dọa (do đó chúng ta có thể đề phòng). Nỗi khổ tâm của Ấn Độ có tới 179 ngôn ngữ, 544 thổ ngữ khác nhau, ngôn ngữ chính yếu cũng có cả thẩy 14 thứ, và trong cuộc tranh chấp ưu tiên ngôn ngữ đầu năm nay (1965), sinh viên Madras xuống đường phản đối sự áp bức của tiếng Hindi, rồi kế đó xẩy những chuyện tẩm dầu tự thiêu, chôn sống cảnh binh, đốt xe đò, phá xe lửa… chúng ta nhẹ lòng biết bao khi nghĩ lại tiếng nói của đất nước nhà thống nhất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Phải đã đi sâu vào những cộng đồng bị nếp sống máy móc chi phối quá nặng nề đến biến thành những máy nói, máy cười, máy trả pour-boire, máy cám ơi, máy làm việc, nghỉ ngơi… để khi được trở về tắm gội lại chất “người” của nếp sống Việt mới thấy nếp sống hồn nhiên đó dễ thương biết mấy, như nắng ấm mùa đông, như gió mát mùa hè, như dòng nước qua sa mạc. Chiến tranh tàn phá quê hương đã hai mươi năm rồi kéo theo biết bao tàn phá khác trên thể xác cũng như trên tâm hồn người Việt. Nhưng trên cõi đời này ở đâu và bao giờ mà chẳng buồn vui lẫn lận, xấu tốt bên nhau? Cái cao cả của một dân tộc là ở những đức tính đó. Cả thế giới thán phục Gandhi, một Ấn gian ám sát Gandhi đâu có làm ô danh Ấn Độ? Đại diện cho dân tộc Hoa Kỳ hẳn là Washington, là Lincoln, chứ đâu là đoàn thể Ku-Klux-Klan?
Hãy nhìn lại dòng lịch sử dân tộc nhà! Mỗi lần đứa con côi gặp mẹ – người dân Việt gặp bậc lãnh đạo tài đức song toàn – là một lần lịch sử Việt ghi một nét vàng son bất tuyệt.
Nhưng khi đứa con côi lạc mẹ – tiếc thay triều đại Quang Trung lóe sáng một thời gian quá ngắn ngủi, đứa con lạc mẹ từ Lê mạt tới giờ – mặc cho điêu linh chồng chất với tháng ngày, mầm sen đó vẫn dưới bùn. Mầm sen có bao giờ sợ bùn? Mầm sen bất biến trong bùn hôi tanh! (Đó là bí quyết trường tồn của dân tộc này.)
Và nếu ngày nào con được gặp lại mẹ hiền lập tức hương đâu, sắc đâu hiển hiện như thần tiên vẫn hiển hiện tự bao giờ, thứ hương sắc rỡ ràng kỳ ảo, cười với nhân loại mà không kiêu, nước mắt rưng rưng mà lòng vui thấm thía.
Định mệnh là gì? – Không phải cái khách quan làm nên định mệnh! Định mệnh là sự hợp nhất không thể cưỡng được giữa khách quan và chủ quan như đá nam châm đứng bên sắt – sắt chứ không phải gỗ – thì làm nên định mệnh sức hút. Sống bằng tình cảm, một thứ tình cảm phức biệt và phong phú như tâm hồn Việt, sợ nô lệ và yêu nước chân thành như tâm hồn Việt, luôn luôn tha thiết muốn cứu nước bằng bất cứ một giá nào như tâm hồn Việt, thì việc hầu hết dân tộc Việt mắc vào khe răng cưa của họa Cộng Sản là lẽ dĩ nhiên. Có điều mọi người nên biết định mệnh thắng người Việt trong một giai đoạn, nhưng định mệnh thua người Việt trên con đường thời gian, bởi người Việt vì sở trường chứ không vì sở đoản, Người Việt đã thua và nhất định phải thua trong giai đoạn đó mới chứng thực với thế giới hết cái cao quý của tâm hồn Việt. Ý thức như vậy, chúng ta sẽ đốt không cháy!
Người Việt chúng ta thực cám ơn nhiều những người bạn ngoại quốc chân thành và khích lệ như trường hợp ông Pazzi, tuy nhiên ở đây chúng tôi cũng xin được nói lên lời nói sau cùng của bị “bị cáo” – dù là thứ “bị cáo” được ca ngợi quá nhiều:
Quả như ông Pazzi nói người dân Việt Nam còn giữ nguyên được căn bản thâm hậu của văn hóa cổ truyền. Những người trí thức tân học Việt Nam, vì sống ở chốn thị thành, nơi “đầu sóng ngọn gió” tất nhiên chịu sự giao động ban đầu – sự va chạm nào mà chẳng gây xao động! Nhưng kẻ sĩ Việt Nam – (xưa là nhà nho thuần Đông phương, nay là những nhà trí thức tân học tiếp nhận thêm trào lưu văn hóa Tây phương) – tất nhiên tiếp nối được truyền thống xưa, lập lại quân bình ở một thế tổng hợp, ý thức những sở đoản cần phải sửa chữa – dân tộc nào chẳng có những sở đoản – phát triển những sở trường đáng yêu, mà tiến tới lý tưởng hài hòa nhân loại là lý tưởng thỏa mãn được cả lý cả tình của cả nhân loại không phân biệt Đông Tây nữa.
Trước khi đặt TRÁI TIM LỬA 3 – phần phụ lục – làm nét chấm kết thúc cho tập khảo luận này tôi chỉ xin được phép tô đậm một lần nữa cái điều mà tôi hằng ấp ủ:
“Hãy dùng đau khổ làm dầu mà thắp lên ngọn lửa tin yêu, bởi quả thật dân tộ mình vì đã kinh qua quá nhiều đau khổ mà có thừa chất “người” để trở thành một trong những dân tộc đáng yêu nhất của nhân loại.”
——————————–
| 1 | Xin xem lại “Nét sầu và niềm tin trong thi ca Việt Nam” và “Nụ Cười Việt” phần trên đây. |
| 2 | Cùng ý này chúng tôi đã nhấn mạnh trong truyện “Trạng đi sứ” (Hồ Thùy Dương – Nguyễn Đình Vượng xuất bản 1960) đăng lần đầu tiên trên Sáng Tạo số 10 tháng 7-1957. |
| 3 | Đoản tác này đã đăng ở tuyển tập Đất Đứng trước khi cho in vào tập truyện cổ tích thứ hai của tác giả – Hồ Thùy Dương – do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng ấn hành vào thượng tuần tháng 8-1960. |
PHẦN PHỤ LỤC
TRÁI TIM LỬA
MẤY LỜI NÓI ĐẦU. – Phải chăng ông cha chúng tôi đã có lần chiếm được địa bàn núi Thái Sơn, rồi bị nòi Hán chiếm lại và khi lui về lưu vực sông Dương Tử lại bị nòi Hán tiếp tục uy hiếp?
Phải chăng ông cha chúng ta đã có một ngày kia bị dồn vào một thế đau đớn phải phân đôi đoàn thể, một nửa ở lại chống trả Hán tộc đến giọt máu cuối cùng, một nửa theo đường chim Hạc đi tìm ánh sáng miền Nam?
Gian nan lắm! Khổ cực lắm!
Ánh sáng vô biên nào đã dẫn dắt, đã sưởi ấm đoàn người trong khoảng ngăn cách đêm trường của những khu rừng già âm u, những dãy núi hùng vĩ?
Ánh sáng vô biên nào đã dẫn dắt, đã sưởi ấm đoàn người trong khoảng ngăn cách đêm trường của những khu rừng già âm u, những dãy núi hùng vĩ?
Ánh sáng vô biên nào nhỉ? Ánh sáng vô biên nào thế?
– Dạ, thưa ánh sáng của một trái tim…
TRÁI TIM LỬA
Đây là giải đất chứa chan nắng vàng của một dân tộc miền Nam. Nơi đây trai gái vui hòa làm việc bên nhau tạo nên một nếp sống đặc sắc thi vị, một đời sống đầy khí trời, đầy ánh sáng, đầy trăng sao và đầy sức mạnh. Cây cỏ phồn thịnh như nuôi dưỡng cho trí tưởng tựng của họ thêm phong phú. Họ có những câu phong dao thi tứ sao mà dạt dào, những truyện thần kỳ tình tiết sao mà huyền ảo!
Có những đêm hè đom đóm từ đâu bay về rất nhiều, lũ trẻ con thường tụm năm tụm ba nắm tay nhau vừa nhảy theo vòng tròn vừa hát bài đồng dao truyền lại từ đời thượng cổ như sau:
Hai tay hai gậy
Bước nhạy leo nhanh Rừng núi gập ghềnh Vuột theo chim hạc. Cô, dì, chú, bác,
Thất lạc sau lưng,
Ta bước không ngừng,
Theo ông Đom Đóm, Ô này anh em ơi,
Hạc đi thì hạc lại về,
Theo ông Đom Đóm mưa thuận gió huề, ta ở lại đây.
Sao lời đồng dao lại gọi đom đóm bằng ông một cách kính cẩn như vậy? Đó là một câu chuyện phiêu lưu thần kỳ khá cảm động. Sự tích như sau:
Mấy ngàn năm trước, dân tộc này chưa tới đây. Hồi đó bộ lạc của họ còn tụ trên thượng lưu một con sông mà màu nước trông xa lắm khi như lẫn với màu cỏ trên bờ, họ quen gọi là Dòng sông Dương Liễu. Họ bị khổ sở rất nhiều về sự tàn bạo của một bộ lạc lớn ở bên kia sông hàng năm thường sang quấy nhiễu. Họ đã chiến đấu rất anh dũng đấy, nhưng số lượng quân địch quá nhiều khiến cái chết của họ hầu thành vô ích như gió thổi qua nhà trống. Những mong cho dân chúng được yên thân, vị Thủ lãnh quyết định dời bộ lạc xuống miền trung lưu dòng sông Dương Liễu. Nhưng ông đã làm một việc thất sách! Giữ miền thượng lưu ông còn giữ được ưu thế đánh chặn quân địch khi chúng đương sang sông; địch quân nay đã chiếm miền thượng lưu chúng được lợi điểm đất liền để thừa thế tràn xuống miền trung lưu. Một lần nữa, vị thủ lãnh đành phải dời bộ lạc xuống hạ lưu Dòng sông xanh. Nơi đây phía Đông là cánh đồng lầy mênh mông ngăn họ với biển, phía Nam là một miền rừng núi trùng trùng điệp điệp. Trèo lên mà nhìn thì miền rừng núi này chạy thẳng tắp đến tận chân trời rồi mất hút vào đó: nó cũng vô tận như biển cả vậy.
Khi bộ lạc di cư tới đây thì gặp một đàn hạc lớn từ cánh đồng lầy cất cánh bay đi. Đàn hạc đông đến nỗi toán đầu đã khuất vào chân trời mà toán sau vẫn còn từ đồng lầy tung cánh bay lên nối tiếp.
Một viên tướng trẻ tuổi thuộc hàng thủ lãnh của bột lạc đứng lặng nhìn cảnh đó với một vẻ chú ý đặc biệt. Đã mấy lần ông giương cung bắn và những con hạc trúng tên rơi xuống, nhưng điều đó không hề làm hại đến kỷ luật, trật tự của đàn hạc bay đi. Từ đấy viên tướng trẻ tuổi thường có vẻ đăm chiêu suy nghĩ như đương toan tính một dự kiến quan trọng nào.
Qua mùa đông rét như cắt thịt tới một ngày đầu xuân ấm áp, trên trời xanh, trong nắng vàng, mọi người thấy chim hạc trở lại từng đàn tưng bừng. Nhưng cùng với ánh nắng đầu xuân, quân địch tràn xuống để chiếm nốt miền hạ lưu. Toàn thể bộ lạc kháng cự kịch liệt và đẩy lui được chúng. Sau đó quân địch còn tràn xuống mấy lần nữa. Chúng đều bị thất bại: Nhưng càng thất bại chúng càng trở nên hung hãn bội phần, bởi vậy sau mỗi lần đẩy lui được chúng, số tổn thất của bộ lạc càng nặng nề.
Lúc đó vừa cuối thu, chim hạc lại về tụ tập tại cánh đồng lầy trước khi cất cánh thành hàng bay về phương Nam. Viên tướng trẻ tuổi bèn đến bàn với vị Thủ lãnh nên lợi dụng lúc quân địch không dám tấn công vào mùa đông mà dời cả bộ lạc theo chim hạc về Nam. Vị Thủ lãnh không nghe.
Ý kiến đó truyền rất mau đi khắp bộ lạc. Mọi người bàn tán sôi nổi. Sau đó ít ngày bộ lạc chia làm hai phe. Một phe cương quyết ở lại chiến đấu đến cùng mong giữ lấy miền hạ lưu dòng sông Dương Liễu, một phe theo viên tướng trẻ tuổi quyết vượt núi rừng tiến về phương Nam để bảo tồn nòi giống. Những người ra đi vẻ mặt âm thầm nhưng dáng đi cương quyết và hùng dũng. Họ ca câu: “chân cứng đá mềm”. Họ mang theo những hạt cỏ lưu ly để đánh dấu đường. Thứ cỏ này khi mọc lên ban đêm hoặc bóng tối, lá sẽ phát ra ánh sáng. Họ ân cần hẹn những người ở lại khi nào không thể chống nổi kẻ địch thì lần theo đường cỏ lưu ly mà tìm về phương Nam.
Những người trẻ tuổi thay phiên nhau theo viên tướng đi trước để phá cây dọn đường. Những người nhiều tuổi, phụ nữ và trẻ con đi vào khoảng giữa. Toán đi sau cùng hộ vệ gồm toàn những người trẻ còn lại. Họ có nhiệm vụ nâng đỡ những người yếu sức. Đến chặng nghỉ nào, đoàn người trẻ tuổi ùa nhau vào sâu hai bên rừng săn thú, đào của mài cùng hái quả cây bột gạo nạo ra lấy bột nướng thành bánh.
Càng đi vào sâu rừng càng rậm, đất càng lầy. Có khi đi hàng mấy ngày trong rừng tối mới thoát ra để gặp được một thung lũng nhỏ với chút ánh sáng yếu ớt, liền sau đó đoàn người lại chui vào rừng.
Tiến, tiến mãi! Nơi núi cao thì đá tai mèo lởm chởm, nơi thấp thì bùn ngập có khi đến ngực. Nhiều khi không săn được thú, họ đành ăn của mài trừ bữa. Trường hợp củ mài cũng không, đoàn người đành ăn củ chuối cầm hơi. Họ tiếp tục vượt hết khu rừng này sang khu rừng khác. Lòng nao nức buổi đầu khi ra đi đã suy giảm nhiều. Nhưng viên tướng trẻ tuổi vẫn dẫn đầu băng băng! Long hy sinh của Người hầu như không bờ bến, niềm hy vọng của Người tràn ngập ở khóe mắt và lòng tin tưởng của Người vững như núi. Mỗi khi nghe tiếng Người truyền lệnh vang lên sang sảng, đoàn người cảm thấy ấm lòng và tiếp tục tiến… tiến mãi.
Đã có những đứa trẻ bị sâu rừng đốt chết. Đã có những cụ già đuối sức chết vùi thân dưới lớp bùn lầy. Đoàn người ra đi cơ hồ thấy lòng nặng chĩu u sầu, chán nản… Viên tướng dẫn đầu dáng điệu cương quyết mà thân yêu, vì ông đặt bao hy vọng vào sức sống tràn trề của nửa đoàn thể theo ông quyết tiến về phương Nam lập quốc.
Và mọi người tiếp tục tiến… tiến mãi… Có những khu rừng rậm họ phải đi mất nửa tháng mới ra khỏi. Đã có những người lớn lên cơn sốt rồi chết vùi rập trong bụi cây, toán hậu vệ đi qua mà không biết. Đoàn người bắt đầu nghi ngờ trí sáng suốt của viên tướng và một thiểu số tự hối đã quá dại dột theo một tên điên. Tiếng thì thầm truyền qua các cửa miệng…
Viên tướng vẫn điều khiển đoàn người dẫn đầu, ra công phá cây dọn đường.
Đã có những người chết vì dịch tả, cùng các bịnh thời khí khác. Đoàn người vừa đi vừa nguyền rủa gần như công khai “thằng điên cầm đầu.”
Núi tiếp núi… Rừng tiếp rừng…
Như không bao giờ hết!
Viên tướng vẫn dẫn đầu, giữ vững hướng về phương Nam. Những người già đã chết hết. Trẻ con chỉ còn lơ thơ một vài đứa vào hạng sức vóc vạm vỡ. Những người đàn bà trẻ và khỏe đều có mang. Mọi người lặng lẽ đi, lòng căm hờn uất hận “thằng điên cầm đầu”… Bỗng một ngày kia, trong lúc đang đi dưới rừng rậm, họ nghe văng vẳng có tiếng chim hạc ở trên cao. Tiếng kêu xa dần ngược với chiều họ đi. Ai nấy đều biết đã sang Xuân. Những người đàn bà ôm mặt khóc nức nở, vì họ nghĩ chim hạc giờ đây đang tiến về quê hương, mà họ thì càng ngày càng xa quê hương để tiến về một phương trời vô định.
Lửa căm hờn bốc cháy ở tia mắt những người đàn ông chính đã nhóm khởi từ những giọt nước mắt của những người đàn bà. Vừa lúc đó họ ra khỏi rừng để tiến vào một thung lũng tương đối rộng hơn mọi thung lũng mà họ đã gặp. Tất cả mọi người bảo nhau dừng lại. Viên tướng truyền lệnh thúc giục họ đi. Một thanh niên hầm hầm tiến lên nói:
– Ông là một tên điên! Chúng tôi ngu dại mà theo ông. Biết nông nỗi thế này chúng tôi đã ở lại để được chiến đấu bên thủ lãnh, dù có chết cũng còn hả lòng hả dạ và không xấu hổ là đã bỏ nhau trong cơn nguy biến.
Đôi mắt viên tướng vẫn ngời tia sáng tin tưởng ở kết quả viên mãn sau cùng. Ông nhìn đoàn thể như muốn truyền cả hy vọng tràn trề nơi ông sang họ. Ông nói bằng một giọng vô cùng thiết tha:
– Một nửa anh em chúng ta đã ở lại hy sinh chiến đấu. Vì họ mà chúng ta đủ thì giờ vượt khỏi miền rừng núi này. Tất cả mọi người phải đi ngay! Phương Nam ấm áp phì nhiêu đương chờ chúng ta. Núi rừng này sẽ hoàn toàn ngăn cách chúng ta với quân địch hung bạo. Tất cả mọi người nghe tôi hãy đi >ngay!
Tiếng đàn bà nức nở. Một chàng trai trẻ tiến lên nói:
– Hết khu rừng này đến khu rừng khác, hết đèo này sang đèo khác, chúng tôi còn theo ông, chúng tôi sẽ vùi thân đến người cuối cùng.
Viên tướng thét lên:
– Phải đi ngay! Tôi vẫn giữ vững hướng đi về Nam. Rừng núi tuy trùng điệp nhưng không phải là bất tận, phải đi ngay để sớm tới đích. Ở lại miền thung lũng bùn lầy này mới là tự sát. Tiếng đàn bà càng nức nở, và những người bụng mang dạ chửa ngồi thụp xuống. Tất cả trai trẻ bảo nhau nhất quyết không đi. Viên tướng gầm lên như hổ, mắt quắc sáng ra lệnh đanh thép bắt họ phải đi. Một thanh niên trong đoàn tiên phong sẵn con dao phạt cây lăm lăm trong tay bèn nhân lúc ông đi ngang qua, vung lên rồi bổ thằng xuống. Đường dao đi hơi chệch nhưng cũng trúng đích. Một mảng sọ hắn bắn ra xa. Lưỡi dao còn phập sau vào bả vai!
– “Anh em hãy bầu một người khác thay tôi! Chắc chắn đường không còn bao xa nữa!”
Nghe giọng nói đầm ấm, thuần thục, ai nấy đều thấy rõ viên tướng hoàn toàn tha thứ cho kẻ cố tình giết ông, và ý chí quyết liệt cuối cùng của ông vẫn là tiến về phương Nam.
Gần đó có một hố đá. Người ta mang thi thể ông đặt xuống rồi phủ đất lên. Cũng có nhiều người hối tiếc việc đau thương vừa qua và hầu hết đều ngầm nhận thấy rằng tiếp tục đi về phương Nam là phải, nhưng không một ai cò đủ tin tưởng và nghị lực đứng lên cầm đầu. Những đàn bà đều đã ngồi cả xuống gốc cây. Tiếng khóc rền rỉ. Mọi người đành quyết định ở lại thung lũng đó, phá rừng vỡ nương.
Mùa thu tới có tiếng chim từ xa vọng lại, nhịp nhàng và ngân nga. Mọi người ngẩng đầu lên. Một vạn lý trường thành trắng phau đang di động trên trời: đã tới mùa chim hạc về Nam! Điều này càng nhắc họ nhớ tới vị thủ lãnh trẻ tuổi cùng lời trối trăn:
“Anh em hãy bầu người khác thay tôi! Chắc chắn đường không còn bao xa nữa!”
Bây giờ họ càng thấy thái độ cương quyết của ông là đúng. Nơi thung lũng bùn lầy nước đọng, quanh năm sương muối, bốn bề rừng núi âm u này quả không phải là nơi sinh cơ lập nghiệp được. Không khí quá nghẹt ngào về mùa hạ và buốt thấu xương về mùa đông đã khiến sức chịu đựng của họ suy giảm đi rất nhiều. Bệnh mê sảng, bệnh kiết lỵ, bệnh dịch tả… than phiên nhau hoành hành. Đến mùa xuân năm sau, nghĩa là mùa chim hạc từng đàn trở lại đất Bắc, thì số người sống sót so với lúc khởi hành chỉ còn một phần tư. Thực đáng thương! Thấy chim hạc bay về họ biết là mùa xuân tới, còn cuộc đời họ trong thung lũng này làm gì có mùa xuân! Tuy biết vậy mà không ai tự tin, đủ kiên nhẫn đứng lên cầm đầu để tiếp tục tiến về Nam. Một buổi chiều kia họ thấy có mấy người từ trong rừng nhô ra, vun vút tiến lại gần.
Thì ra đó là những chiến sĩ đã ở lại chiến đấu bên vị thủ lãnh để cố giữ lấy miền hạ lưu dòng sông Dương Liễu. Cả một đoàn thể hầu như bị tận diệt. Dòng sông xanh đỏ ngàu máu và chất ngập xác những kẻ chiến bại. May mắn mấy người này lọt khỏi vòng vây địch, lẩn vào rừng rồi theo vệt ánh sáng của lá cỏ lưu ly tới đây. Trong số đó có một người bị kiệt sức, ngã xuống ngất lịm, đến tối thì tắt thở. Đoàn thể cho đem chôn ngay. Người mang xác nạn nhân đi đầu để ý thấy phía trước mặt có một khoảng sáng lấp lánh. Tiến lại gần cả bọn nhận ra đó là một vũng nước phản chiếu ánh sao trên trời. Tiện thể họ đào sâu thêm khoảng đó định để làm huyệt chôn người xấu số. Chợt nhát cuốc của học vấp phải đá. Có bộ xương người lộ ra. Bới thêm họ thấy khoảng dưới lồng ngực bộ xương một khối rắn hình trái tim có phát ra những tia sáng chói lọi và ấm. Đến lúc đó một người trong bọn mới nhận ra là họ đã đào lầm mả Viên Tướng thủ lãnh. Sau khi đã lấp lại mả, và chôn người mới chết ở một nơi khác, họ mang trái tim lửa về.
Thật ra trong thâm tâm mọi người đều đã quá chán cảnh thung lũng này, một cảnh chỉ có bùn lầy lội mà chẳng có sông cho mát mắt; bốn bề núi rừng vây kín như bưng mà chẳng có một chút chân trời cho thoải mái tâm hồn. Thấy trái tim sáng chói mang về họ cho là điềm lành. Họ quyết định dời khỏi thung lũng ngay hôm sau, cử một người đi đầu cầm trái tim soi sáng.
Họ tiếp tục tiến về Nam!
Càng tiến sâu về Nam rừng càng rậm, càng nhiều thú dữ cùng rắn độc. Đoàn người điềm nhiên vung dao thẳng tiến. Những người đàn bà can đảm ôm chặt con thơ trong lòng, thoăn thoắt bước nhanh. Trước họ vẫn là đoàn người đi đầu để phá cây dọn đường. Sau họ vẫn là đoàn người hậu tập với nhiệm vụ hộ vệ nâng đỡ những người rủi gặp nạn trên đường trường, tất cả tiến theo ánh sáng của trái tim lửa! Vượt hết khu rừng này sang khu rừng nọ, càng đi càng dẻo chân, đoàn người tưởng như không còn bao ngày nữa sẽ thoát khỏi miền rừng núi quái gở này để nhìn thấy cánh đồng đầy ánh sáng của phương Nam. Họ bỗng chui vào một khu rừng rậm, ngoài sức tưởng tượng của con người. Họ phải thường xuyên cúi khom người xuống mới đi được. Rễ cây chằng chịt, gai góc mọc đầy bốn phía, rắn rết hầu như lúc nhúc dưới lần lá mục.
Họ đi trong hãi hùng như vậy đã bao nhiêu ngày mà vẫn chưa tới cửa rừng để gặp một thung lung khác như thường lệ.
Có những quãng đường họ phải bò rạp xuống lần theo rễ cây chằng chịt mà tiến. Lắm khi họ yên lặng, rùng mình rụt vội tay lại vì đáng lẽ vịn vào rễ cây họ đã vịn nhầm phải một khúc mềm mà họ biết là trăn rừng.
Rừng càng rậm rạp bội phần rồi kín như bưng. Đoàn người có cảm tưởng như đường đi vào địa ngục. Ánh lửa của trái tim vẫn chập chờn dẫn đầu trong bóng tối của rừng sâu.
Lại mấy ngày nữa qua. Rừng càng sâu hun hút, ánh sáng trái tim lửa càng tăng phần rực rỡ. Nhưng những bước chân nhẫn nại nhất, can trường nhất, cũng đã thấy rã rời. Ở họ hy vọng một mảnh đất phì nhiêu chan hòa ánh sáng hoàn toàn tiêu tan. Họ hô gọi nhau dừng lại. Ai nấy tự nhủ thầm:
Lần này ngày tận số thực đã đến!
Đa đoan thay con Tạo! Một nửa đoàn thể đã bị tận diệt dưới dòng sông xanh, nay đến lượt nửa đoàn thể ra đi bị chôn sống dưới rừng!
Bỗng trong bóng tối đen kịt có tiếng thét căm hờn:
– Nó là tên phù thủy gian ác! Chính linh hồn nó đã dẫn chúng ta đến đây để trả thù cái chết của nó! Ai nấy đều biết “nó” đây ám chỉ Viên Tướng thủ lãnh. Lời nói dứt, người đi đầu ném mạnh trái tim lửa xuống đất. Một số người xô vào định giày xéo cho kỳ nát trái tim. Nhưng gót chân đầu tiên vừa chạm tới, trái tim bỗng tóe ra bốn phía trước, tụ lại thành hình một trái tim lớn có một cái đuôi ánh sáng rực rỡ, chiếu về phía mọi người như thể một vì sao chổi vừa ở trên trời rụng xuống.
Mọi người lấy làm lạ tiến lên tì đàn đom đóm như chạy trốn. Họ hăm hở tiến nhanh hơn, ánh sáng cũng tiến nhanh. Ánh sáng chập chờn trong bóng tối thăm thẳm của rừng càng như thôi thúc, như khiêu khích như hấp dẫn, như thôi miên. Đoàn người khi đó chỉ còn biết miết mải đuổi theo nửa mê, nửa tỉnh. Chợt đàn đom đóm vút bay nhanh về phía xa rồi tóe ra bốn phía, phút chốc mờ biến đâu mất cả. Mọi người chạy ồ lên. Họ thấy đường dễ đi dần, chân đã được dẫm lên đất khô. Rồi một tiếng thét vui mừng:
– Ánh sáng!
Và tiếng khóc nức nở:
– Ánh sáng phương Nam đây rồi.
Một lát sau đoàn người đã ra khỏi rừng. Trước mặt họ, cả một cánh đồng phù sa mênh mông chào đón khoảng giữa có con sông cuồn cuộn chảy, màu nước đỏ hồng. Xa xa thấp thoáng rặng núi đá màu trắng loang lở. Và xa hơn nữa họ thấy sóng nước nhấp nhô của một mảng biển. Họ ngẩng nhìn trời: màu trời xanh thẳm, đây đó một vài đám mây bạc trôi lững lờ. Quả thực họ đã tới nơi mong ước!
Đây là ánh sáng phương Nam! Đây là đồng ruộng phương Nam!
Đây là núi, rừng, sông, biển phương Nam!
Miền rừng núi khủng khiếp phương Bắc kia suýt nuốt sống họ! Nhưng nắm được cơ sở phương Nam, thì khu rừng đó chẳng còn gì là nguy hiểm. Trái lại, họ đã từng hàng ngày tiến sâu vào rừng đốn gỗ mang về làm nhà. Họ đã tiến sau vào rừng để săn hươu nai làm lương thực, bắt sống trâu rừng, mèo rừng, chó rừng mang về uốn, nắn, nuôi, dạy thành giống vật trong nhà. Họ đã cùng với một thiểu số dân bản xứ kết hợp lại thành một bộ lạc mạnh. Qua bao gian nguy, thử thách, cùng những lỗi lầm đáng tiếc, chí anh hùng, lòng quả cảm ngày nay càng ngời sáng trong tâm hồn cương nghị mà thanh tao của họ. Những người đàn bà đã ôm con vượt rừng rậm núi cao đó nay thành những người vợ hiền mà trí minh mẫn, đức nhẫn nại, và tài tháo vát khó có đàn bà nơi nào bì kịp.
Bây giờ thì họ ít còn thấy ốm đau nữa. Họ đã dạn dày sương gió lắm rồi. Bệnh mê sảng cũng như các bệnh dịch ngày nay thực khó mà lay chuyển nổi cơ thể vững chắc như cột đồng của họ. Con cháu họ kể từ đấy cũng thừa hưởng được ưu thế về thể chất đó.
Họ cầy ruộng, gieo lúa.
Lúa ngập bờ xanh. Lúa trĩu bông vàng.
Họ quăng lưới dọc theo dòng sông, ven theo bờ biển. Sông dài biển rộng tỏ ra rất đại lượng với họ. Mẻ lưới kéo lên, gọng vó cong trĩu và những con cá lớn uốn mình lấp lánh dưới ánh mặt trời.
Cây họ giồng lớn lên xanh như rừng với những trái thơm ngọt ngào, trái chua quyến rũ…
Có tới hàng trăm loài hoa màu sắc khác nhau, hương thơm khác nhau không ai giồng mà mọc khắp nơi nơi.
Bộ lạc ngày một phồn thịnh. Dòng sông đỏ, đời này sang đời khác cần cù chở phù sa về cánh đồng miền Trung châu.
Họ tiếp tục mở rộng rãi bờ cõi ven theo biển. Một ngàn năm sau bộ lạc đã thành quốc gia. Một ngàn năm sau nữa quốc gia này đã tiến tới điểm cùng tột của mẩu đất liền nhô ra biển. Đến nay lịch sử dân tộc tính ra đã bốn ngàn năm có lẻ rồi, trong khoảng thời gian đó biết bao phen họ vừa mở mang, tu sửa bờ cõi vừa chống nhau với kẻ thù cũ. Nguyên là người phương Bắc sau khi chiếm hết Dòng sông Dương Liễu bèn cử đại quân phá gấp một đường xuyên qua rừng, định tràn xuống thôn tính nốt miền Nam. Để đối phó lại, lần nào cũng vậy, thoạt đầu họ tránh về những nơi hẻo lánh đợi một thời gian sau, khi đoàn quân miền Bắc đã chết vì bệnh sốt mê sảng, vì kiết lỵ, vì dịch hạch, dịch tả, lúc đó họ mới từ bốn mặt ùa ra đánh một đòn quyết định, khiến quân địch tơi bời, mảnh giáp chẳng còn, mạnh ai nấy kiếm một đường máu mà lủi về nước. Các cụ già gọi đó là “dĩ dật đãi lao”, dùng ưu thế nơi mình quật lại kẻ địch bị nhược điểm “thủy thổ bất phục”.
Các thi sĩ, cầy kỳ hơn, giải thích rằng: dân tộc họ đến được miền Nam là theo ánh lửa thiêng của trái tim, còn kẻ địch tràn xuống miền Nam là theo tiếng gọi của lòng dục nhơ bẩn. Như vậy địch thắng sao nổi họ? Và cứ mỗi mùa hè, ban đêm, nhìn đom đóm bay trên cánh đồng, người dân như sắp được gặp hồn viên tướng thủ lãnh, một đấng anh minh, kiến nghị đến chết rồi mà trái tim với bao dũng cảm và tình yêu còn soi sáng cho đồng loại vượt khỏi núi rừng âm u.
Trong khoảng im lặng hoàn toàn của canh khuya, những ánh đom đóm như thốt ra thành âm thanh êm ả, nhịp nhàng. Có đêm hè đom đóm bay về nhiều vô kể, sáng ngời như cả một mảnh vũ trụ sao vừa rụng xuống. Đến khi khối ánh sáng mênh mông ấy bay ra giữa sông cho ánh nước phản chiếu thì thực cả một cảnh huyền ảo như hư, như thực. Người dân chợt thấy đêm hè tràn ngập hồn thiêng, hồn thiêng của những người chết trên dọc đường Nam tiến, hồn thiêng của cả một nửa đoàn thể ở lại chặn địch để bị tận diệt dưới Dòng sông Dương Liễu. Những hồn thiêng đó về đây vào những đêm hè này, mở hội hao đăng, mừng đàn con cháu, qua bao gian lao nguy hiểm đã lập được một giang sơn bền vững tại một nơi có đủ biển, núi sông, đồng ruộng và ánh sáng.