Làm thế nào mà Cộng hòa Séc tránh được chủ nghĩa dân túy dân tộc xâu xé Ba Lan và Hungary? Bằng cách coi nó không quá nghiêm trọng.

 28.1.2019

Vào năm 2005, khi đài truyền hình công cộng Cộng hòa Séc yêu cầu người xem đặt tên cho người Séc vĩ đại nhất mọi thời đại, người chiến thắng long trời lở đất là Jara Cimrman, một nhân vật hư cấu được phát minh vào năm 1966, người được cho là chỉ còn 7 mét nữa là sẽ đến được Bắc Cực, phát minh ra sữa chua, và sáng tác libretto cho một vở opera bị mất tích cho việc khai mạc kênh đào Panama, giữa một loạt các kiệt tác đã biến mất. Dưới áp lực của đài BBC, Đài truyền hình Séc đã vô hiệu hóa quyết định này và trao vinh dự cho lựa chọn thứ hai, Vua Karl IV, một nhà vua hào phóng trong thế kỷ 14, người sáng lập ra trường đại học lâu đời nhất ở Trung Âu ngày nay.

Tôi vừa trở về sau ba tuần giảng dạy một cuộc hội thảo có tên là „Is Is Liberalism Dead?“ (chủ nghĩa tự do có phải đã chết?) tại NYU Praha. Tôi đã hỏi các học giả và nhà báo và cựu chiến binh của Cuộc cách mạng Nhung 1989 mà tôi đã mời nói chuyện với lớp tôi rằng tại sao Cộng hòa Séc đã không, hoặc chưa, ít nhất là chưa đi xuống hố thỏ của nền dân chủ không tự do (illiberal democracy) đã nuốt chửng cả Hungary và Ba Lan. Một trong những lời giải thích là Jara Cimrman, có nghĩa là, cảm giác châm biếm rầu rĩ vì là một quốc gia nhỏ bé không thể thống trị các nước láng giềng trong nửa thiên niên kỷ qua.

Tôi đã nghe nhiều câu trả lời khác, bao gồm, „cứ chờ đợi, chúng tôi sẽ đến đó“, nhưng tất cả đều tiến hành trên lý thuyết rằng lịch sử, văn hóa và các giá trị quốc gia, hơn là hoạt động của các quyền lực không rõ ràng như toàn cầu hóa, xác định các quốc gia dễ bị nhiễm virut hẹp hòi (illiberal) như thế nào. Tôi có khuynh hướng nghĩ rằng đó là sự thật – chủ nghĩa phi lý của Mỹ và sự hùng vĩ của Mỹ giải thích cho việc Donald Trump đắc cử từng chút một cũng giống như sự rỗng tuếch của giai cấp công nhân. Theo thuật ngữ Trung Âu, sự khác biệt nổi bật nhất giữa Cộng hòa Séc và Hungary có thể không phải vì Hungary bị suy sụp kinh tế trong giai đoạn 2007-2008 trong khi người Séc không (người Ba Lan cũng không) nhưng người Hungary vẫn cay đắng than thở Hiệp ước Trianon đã làm cho nước họ nhỏ lại sau Thế chiến I, tiếp tục tranh cãi với số phận của họ trong khi người Séc chấp nhận những an ủi có tính khoa trương diễu cợt.

Cộng hòa Séc hầu như không rõ ràng lắm. Tổng thống Milos Zeman, được bầu lại vào năm ngoái, là một người thân Nga, bài ngoại, uống nhiều rượu và thô lỗ mà người Séc thường so sánh với Trump. Zeman đả kích người tị nạn và Liên minh châu Âu. Thủ tướng Andrej Babis, mặc dù ít nhất công khai thân phương Tây, là một tỷ phú, người đã bị cáo buộc đã lấy tiền từ các quỹ của EU. Không thể tuyển dụng các đảng trung tâm, giờ đây ông đứng đầu một liên minh rất dễ dao động bao gồm Đảng Cộng sản công khai thân Nga. Các cử tri dường như khá cởi mở với các chính sách chống EU hoạt động tốt ở những nơi khác trong khu vực. Các cuộc thăm dò cho thấy người Séc có thái độ thù địch với EU hơn hầu hết các thành viên khác, bao gồm Hungary và Ba Lan. Một nhà báo nói với tôi rằng anh ta sợ một Czexit có thể xảy ra (mà ít nhất sẽ có đức tính hưng phấn). Tuy nhiên, báo chí Séc thì tự do, tư pháp độc lập, và mức sống đang tăng lên.

Khi tôi ở Prague, người Séc đã kỷ niệm 50 năm ngày mất của Jan Palach, một sinh viên hoạt động tự thiêu khi xe tăng Liên Xô nghiền nát cuộc nổi dậy năm 1968. Palach đã truyền cảm hứng cho thế hệ những người bất đồng chính kiến ​​theo ông và trở thành một vị thánh bảo trợ năm 1989. Mọi người tôi tiếp cận tại đài tưởng niệm đều nói, vâng, họ lo lắng về việc đất nước sẽ đi về đâu, nhưng tôi có cảm giác rằng họ sợ nhất là số phận cám dỗ ; điều đó có thể giải thích tại sao họ đứng trong giá lạnh, cầm nến và hát quốc ca. „Ngày nay, cuộc sống của chúng tôi rất tốt, một người mẹ trẻ nói. „Người dân đang tức giận về các vấn đề tưởng tượng.“ Ngay cả việc ghét EU cũng có thể là một sự ham mê vô hại khi bạn có thể ẩn náu an toàn trong đó.

Người Séc ấp ủ những giá trị tự do từ lâu trước khi Liên Xô truyền bá tư tưởng toàn trị của họ trên khắp Trung Âu. Cả một thế kỷ trước Martin Luther, Jan Hus, một trong những hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Charles, đã phát cuồng vì sự tham nhũng của hệ thống cấp bậc Công giáo và của giáo hoàng từ bục giảng của Nhà nguyện Bethlehem ở Prague. Sau khi Hus bị buộc trói hỏa thiêu vào năm 1415, những người theo ông đã thành lập một giáo phái Tin Lành. Hus khăng khăng nói tiếng Séc chứ không phải tiếng Latin, khiến ông trở thành người đầu tiên trong một loạt các nhà cải cách dân tộc; nhà giáo dục thế kỷ 17 được biết đến với cái tên Jan Amos Comenius, một giám mục người Hussite, đã xuất bản sách giáo khoa bằng tiếng Séc và ủng hộ giáo dục phổ thông (universal education). Đạo Tin lành phát triển mạnh mẽ ở vùng đất Séc ngay cả dưới sự cai trị của Công giáo phản động của Habsburg; sự khởi đầu của cuộc chiến tranh ba mươi năm vào năm 1618 đã buộc những người cấp tiến như Comenius phải chạy trốn. Cuộc tái lập Công giáo đánh dấu cuộc đối đầu thất bại đầu tiên của người Séc với quyền lực toàn trị.

Một cách giải thích khác cho chủ nghĩa tự do của Séc là việc thành lập Tiệp Khắc vào năm 1918. Giữa khi kết thúc Thế chiến I và bắt đầu Thế chiến II, quốc gia mới của Tiệp Khắc đã tận hưởng 20 năm cai trị dân chủ tự do nhờ một phần lớn vào ông Tomas Masaryk, một nhà trí thức nhân văn sâu sắc là người sáng lập và tổng thống đầu tiên của quốc gia này. Ba Lan, mặc dù độc lập trong cùng thời kỳ, được hưởng ít sự khai sáng và cai trị theo chủ nghĩa dân tộc hơn. Theo quan điểm của Séc, thói quen của chủ nghĩa tự do thế tục bị gián đoạn bởi một nửa thế kỷ áp bức toàn trị và sau đó được khôi phục.

Các trí thức lãnh đạo cuộc nổi dậy năm 1968 đã bị thu hút sâu sắc bởi chủ nghĩa cánh tả có tầm nhìn thời đó, bao gồm học thuyết Chủ nghĩa xã hội với khuôn mặt con người, được hỗ trợ bởi các nhân vật như trí thức Nam Tư Milovan Djilas. Nhưng phản ứng tàn bạo của Liên Xô đã chấm dứt giấc mơ như vậy. Các nhà bất đồng chính kiến ​​Séc đã ký Hiến chương 77, yêu cầu nhà nước tôn trọng các nguyên tắc nhân quyền mà nó cam kết chính thức, đã nói ngôn ngữ của chủ nghĩa tự do. Trong bài tiểu luận lừng lẫy năm 1978, Sức mạnh của những người không quyền lực, Vaclav Havel, gương mặt của cuộc Cách mạng Nhung và sau đó là tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Séc độc lập, đã viết, „trong khi cuộc sống, về bản chất, hướng tới đa số, đa dạng, tự ban quyền độc lập và tự tổ chức“, hệ tư tưởng toàn trị „đòi hỏi sự tuân theo, đồng dạng và kỷ luật.

Các diễn giả đến lớp tôi, tất cả những người đã đóng ít nhất một vai trò nhỏ trong cuộc cách mạng, đã nói về niềm tin gần như ngây thơ trong chủ nghĩa tự do, bao gồm cả chủ nghĩa tự do của thị trường thời kỳ đó. Havel tin rằng đất nước của mình (trở thành Cộng hòa Séc sau khi Slovakia tách ra một cách yên bình vào năm 1993) có thể cho thế giới thấy một nền dân chủ sâu sắc hơn, trong đó một xã hội dân sự mạnh mẽ đứng giữa cá nhân và cả nhà nước và thị trường. Điều đó đã không xảy ra, Cộng hòa Séc chỉ là một nền dân chủ tự do bình thường. Tuy nhiên, Ba Lan và Hungary, tương tự được „rửa tội“ trong chủ nghĩa tự do, giờ đã đi một con đường khác.

Chủ nghĩa dân chủ nửa vời (Illiberalism) là một thế lực mạnh mẽ trên khắp thế giới phương Tây và không nơi nào có nhiều hơn là trong khối Xô Viết cũ. Có thể là điều duy nhất bảo tồn nền dân chủ tự do ở Cộng hòa Séc là những giới hạn rõ ràng mà hiến pháp đặt trên văn phòng của tổng thống. Thủ tướng Babis là một người theo chủ nghĩa thực dụng không có học thuyết, có lợi ích kinh doanh ràng buộc ông với châu Âu hơn là với Nga.

Tuy nhiên, Cộng hòa Séc không có cảm giác như nó bị treo bởi một sợi chỉ. Bất cứ điều gì họ cảm nhận về EU, hoặc về vấn đề về người tị nạn, người Séc dường như cam kết sâu sắc với các giá trị thế tục, nhân văn nằm ở trung tâm của châu Âu thời hậu chiến. Họ dường như không bị cắt đặt để tuân theo, đồng dạng và kỷ luật. Châm biếm không tạo ra một thanh kiếm mạnh, nhưng nó có thể phục vụ như một lá chắn hiệu quả. Tôi có đề cập đến việc Jara Cimrman cũng đi tiên phong trong việc thực hành sản khoa ở dãy núi Alps của Thụy Sĩ không?

James Traub là người đóng góp thường xuyên cho Foreign Policy, thành viên tại Trung tâm Hợp tác quốc tế  (the Center on International Cooperation), và là tác giả của cuốn sách  „John Quincy Adams: Militant Spirit.“

Nguồn: Foreign Policy

VNChi dịch

Durch die weitere Nutzung der Seite stimmst du der Verwendung von Cookies zu. Weitere Informationen

Die Cookie-Einstellungen auf dieser Website sind auf "Cookies zulassen" eingestellt, um das beste Surferlebnis zu ermöglichen. Wenn du diese Website ohne Änderung der Cookie-Einstellungen verwendest oder auf "Akzeptieren" klickst, erklärst du sich damit einverstanden.

Schließen