Seite auswählen

Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam như thế nào sau khi NQ 23 ra đời…  – Mai Thanh Truyết

 

Được ban hành vào ngày 2 tháng 8 năm 2026, Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị Việt Nam đã định nghĩa lại cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quy mô 6,5 triệu người là một “nguồn lực chiến lược quốc gia”, thay vì chỉ đơn thuần là nguồn cung cấp kiều hối. Từ góc độ của Hoa Kỳ – bao gồm cả cộng đồng người Mỹ gốc Việt đông đảo – sự chuyển dịch từ trạng thái kết nối thụ động sang hợp tác cùng kiến tạo này được xem là một bước tiếp cận thực tiễn và hướng tới công nghệ cao. Các thay đổi chính và phản ứng từ phía Hoa Kỳ: Vượt ra ngoài phạm vi kiều hối, các nhà quan sát nhận thấy Hà Nội không còn chỉ tìm kiếm hỗ trợ tài chính hay sự giúp đỡ gia đình, mà đang hướng tới việc tiếp cận tài sản trí tuệ, các mạng lưới khoa học tiên tiến và chuyên môn về công nghệ cao (như trí tuệ nhân tạo và bán dẫn). Phản ứng của cộng đồng hải ngoại: Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Bờ Đông Hoa Kỳ và các khu vực khác đã thảo luận sôi nổi về khuôn khổ chính sách này. Nhiều chuyên gia và kỹ sư coi đây là lời mời gọi đầy thiện chí để tham gia đóng góp, mặc dù các phản ứng rất đa dạng, từ sự hào hứng hợp tác về mặt kỹ thuật cho đến thái độ thận trọng khi đánh giá môi trường pháp lý và môi trường làm việc tại Việt Nam. Thách thức về thể chế: Các nhà phân tích tại Hoa Kỳ chỉ ra rằng để chính sách này thành công, Việt Nam cần vượt qua tư duy chỉ đặt câu hỏi về việc cộng đồng hải ngoại có thể làm gì cho đất nước, thay vào đó cần chủ động cải cách văn hóa làm việc trong nước, tăng cường tính minh bạch và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghiên cứu để thu hút và đáp ứng nhu cầu của nhân tài toàn cầu. 

Nếu đặt Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 vào toàn thể mối quan hệ Mỹ–Việt hiện nay, thì Hoa Kỳ sẽ không xem NQ23 như một vấn đề có thể làm đảo ngược chính sách đối với Việt Nam. Nhưng Washington có thể đặc biệt chú ý đến cách NQ23 được triển khai đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Điểm quan trọng cần thiết là phải tách chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam ra khỏi chính sách của Hoa Kỳ đối với người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Cần phải tách bạch hai vấn đề nầy.

 

1- Chính sách lớn của Mỹ đối với Việt Nam: “Hợp tác chiến lược, nhưng có điều kiện”

Mối liên quan Mỹ–Việt đã được nâng lên hàng Đối tác chiến lược – Comprehensive Strategic Partnership từ tháng 9/2023. Và trong năm 2026, dấu hiệu hợp tác vẫn thể hiện rất rõ là Hoa Kỳ tiếp tục coi trọng mối quan hệ với Việt Nam, trong khi hợp tác quốc phòng cũng đang tiến triển; chuyến thăm Đà Nẵng của hàng không mẫu hạm USS George Washington cuối tháng 7 là một dấu hiệu rất đáng chú ý. Nhưng chính quyền Trump hiện nay đặt nặng hơn nhiều vào việc thương mại công bằng và có tính giao hoán (reciprocity), chống hàng hóa chuyển tải qua Việt Nam từ một quốc gia thứ ba để né tránh thuế quan Mỹ, vẫn xem Việt Nam nằm trong chuỗi cung ứng quốc gia, xem trọng vấn đề an ninh kinh tế, quan sát chặt chẽ những mánh khóe của Trung Cộng, và đặt nặng vấn đề quốc phòng và trục Indo-Pacific. 

Chẳng hạn, Washington đang gây sức ép với Việt Nam về vấn đề trans-shipment và gian lận xuất xứ. Và Hà Nội cũng đã tuyên bố sẽ đối thoại và giải quyết vấn đề này trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Nói cách khác: NQ23 không phải là trung tâm của chính sách Mỹ đối với Việt Nam.

 

2- Mối quan ngại của Hoa Kỳ về NQ23

Đó là 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó cộng đồng người Việt ở Mỹ chiếm hơn 50%. NQ23 đã thay đổi đáng kể cách Việt Nam nhìn cộng đồng người Việt hải ngoại, không chỉ là đối tượng cần vận động về quê hương, mà được đặt cộng đồng vào vị trí một nguồn lực chiến lược cho phát triển và vị thế quốc gia. Các tài liệu công bố sau NQ23 cũng nhấn mạnh việc huy động nguồn lực của cộng đồng này. 

Washington sẽ không phản ứng với NQ23 chỉ vì NQ23 muốn gần gũi người Việt hải ngoại. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng Washington sẽ quan tâm nếu việc “kết nối” ấy chuyển thành tác động, gây áp lực hoặc kiểm soát chính trị đối với những người đang sinh sống tại Hoa Kỳ. 

Đây có thể được xem là một đường ranh giới rất quan trọng trong mối bang giao Việt – Mỹ, và Mỹ có thể nhìn NQ23 theo ba hướng khác nhau:

  • “Gắn kết cộng đồng hải ngoại – Diaspora engagement”: Nếu Việt Nam nói người Việt ở nước ngoài là người Việt Nam hãy đầu tư, chuyển giao kỹ thuật, về thăm quê, đóng góp khoa học, giáo dục, kinh tế…thì Hoa Kỳ không có lý do gì để phản đối. Thậm chí Washington có thể coi đây là hoạt động bình thường của một quốc gia đối với cộng đồng kiều dân của mình.(Không đơn giản như vậy-N.G.) 
  • “Ảnh hường xuyên quốc gia – Transnational influence”: Nếu các cơ quan Việt Nam tìm cách gây ảnh hưởng tới sinh hoạt chính trị của người Việt tại Mỹ, vận động các tổ chức người Việt theo định hướng có chũ đích của Hà Nội, gây áp lực lên những người có quan điểm bất đồng, và sử dụng các tổ chức, cá nhân trung gian để tác động chính trị v.v… thì vấn đề trở nên khác. Lúc đó Hoa Kỳ không còn nhìn đây đơn thuần là một “chính sách riêng rẻ đối với kiều bào” nữa. Nó có thể trở thành vấn đề “ảnh hưởng từ nước ngoài /sự đàn áp xuyên quốc gia – foreign influence / transnational repression”. Và đây mới là chỗ NQ23 cần được theo dõi kỹ. 
  • “Nếu có hành động cưỡng ép trên lãnh thổ Mỹ”: Đây là mức độ nghiêm trọng nhất trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Nếu các hành động trên xảy ra trên đất Mỹ những hành động đối với người Việt như sau: đe dọa, theo dõi, cưỡng ép, trả đũa người bất đồng chính kiến đang ở Mỹ, hoặc sử dụng người hoặc tổ chức tại Mỹ để gây áp lực. Lúc đó, Hoa Kỳ sẽ phản ứng theo luật pháp Hoa Kỳ, chứ không căn cứ vào việc Việt Nam gọi đó là “công tác người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây cũng chính là một điểm cần nhấn mạnh là NQ23 tự thân không phải là “khủng bố”, nhưng một số phương thức thực thi ngoài lãnh thổ nếu xảy ra có thể trở thành vấn đề an ninh/pháp luật của Hoa Kỳ. 

NQ23 có thể vừa có lợi cho Việt Nam, vừa làm Washington chú ý hơn đến Việt Nam. Bởi vì, nếu NQ23 càng thành công trong việc huy động cộng đồng Việt ở Mỹ thì giá trị chiến lược của cộng đồng này càng lớn, càng làm cho Washington càng quan tâm đến việc Việt Nam tương tác với cộng đồng đó như thế nào. Đây không nhất thiết là một đối đầu, mà có thể chỉ là sự giám sát bình thường của một quốc gia đối với kiều bào của mình mà thôi. (Con mắt của người cộng sản và chủ tâm của họ hoàn toàn khác ! Nam Giang

Từ những nhận xét ở phần trên về NQ23, thiết nghĩ, không nên đặt câu hỏi theo hướng “Mỹ sẽ chống NQ23 hay không?” Câu hỏi chính xác hơn cần phải đặt là:“NQ23 sẽ được Hoa Kỳ đánh giá như thế nào khi nó được khai triển trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ?” Và câu trả lời hiện nay là:”Washington sẽ tiếp tục hợp tác rất mạnh với Hà Nội về kinh tế, thương mại, chuỗi cung ứng, quốc phòng và chiến lược Indo-Pacific; đồng thời sẽ không bỏ qua vấn đề nhân quyền, pháp quyền và bất kỳ dấu hiệu can thiệp hoặc cưỡng ép xuyên quốc gia nào.” Đó là một chính sách “hợp tác – cạnh tranh – kiểm soát – “cooperate + compete + monitor”, chứ không phải “đối đầu với Việt Nam”. 

Và sau cùng, NQ23 có thể tạo ra một không gian mới cho thế hệ trẻ người Việt ở Mỹ, nếu Hà Nội thực sự muốn (cộng thêm sự thành tâm) thu hút trí thức, khoa học gia, doanh nhân, chuyên gia trẻ và thế hệ người Việt sinh ra ở nước ngoài, thì đây là một hướng tích cực. Còn nếu mục tiêu sâu xa lại là đưa cộng đồng người Việt hải ngoại trở lại dưới sự kiểm soát chính trị của Nhà nước Việt Nam, thì đó sẽ là một câu chuyện hoàn toàn khác. Và chính thế hệ trẻ Việt – Mỹ sẽ nhận thức được đâu là sự thành tâm, và đâu là một âm mưu của Việt Nam đưa họ vào…rọ!

 

3- Trường hợp Trịnh Xuân Thanh

Xin nói ngay, NQ23 không làm Hoa Kỳ thay đổi căn bản chính sách đối với Việt Nam, nhưng NQ23 có thể làm Washington quan tâm hơn đến ảnh hưởng của Việt Nam đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Và rằng đây chính là chỗ NQ23 “mới” hơn NQ36 năm 2004. NQ23 càng mở rộng và tỏ ý thiện chí hơn với người Việt hải ngoại thì càng ít có lý do để Mỹ lo ngại. Ngược lại, nếu việc thực thi đi theo hướng kiểm soát, gây áp lực hay can thiệp vào đời sống chính trị của người Việt tại Mỹ, thì vấn đề sẽ không còn là NQ23 nữa, mà trở thành vấn đề pháp luật và an ninh của Hoa Kỳ. Đó cũng là lý do người viết vẫn giữ nguyên nhận định trước đây là không cần “đánh” NQ23 tới tấp tưng bừng hoa lá, vì NQ23 chỉ ra đời mới ba tuần lễ, thiết nghĩ chúng ta cần nên quan sát cách NQ23 được thực thi thêm một thời gian nữa. Chính thực tiễn thực mới quyết định lịch sử sẽ đánh giá NQ23 như thế nào. 

Trường hợp Trịnh Xuân Thanh ở Đức là một ví dụ rất rõ về ranh giới giữa “chính sách đối với kiều dân” và “hành động cưỡng chế xuyên quốc gia”. Xin nhắc lại vụ TXT:”Vụ Trịnh Xuân Thanh xảy ra tại Berlin vào tháng 7/2017. Bộ Ngoại giao Đức khi đó tuyên bố việc bắt cóc trên lãnh thổ Đức là một vi phạm trắng trợn luật Đức và luật quốc tế; Đức yêu cầu Việt Nam xin lỗi và bảo đảm không tái diễn.” 

Nếu giả sử NQ23 bị biến thành một công cụ đe dọa ở Mỹ, qua những hành động liệt kê dưới đây: 

  • Đe dọa người Việt đang sống ở Mỹ;Theo dõi hoặc quấy nhiễu những người bất đồng chính kiến;

Ép buộc họ phải im tiếng;

Đe dọa thân nhân của họ ở Việt Nam;

Sử dụng người trung gian tại Mỹ để gây áp lực;

Hoặc nghiêm trọng nhất, tổ chức bắt cóc, hành hung hay cưỡng ép đưa một người từ Mỹ về Việt Nam. 

Hoa Kỳ sẽ không còn xem đó đơn thuần là “thực hiện NQ23” nữa. Nó sẽ được đặt vào một phạm trù pháp lý và an ninh khác: transnational repression- TNR- đàn áp xuyên quốc gia. (Xin mời đọc các bài viết trước về vấn đề nầy của cùng tác giả trên FB). FBI hiện định nghĩa TNR chính là việc một chính phủ nước ngoài vượt qua biên giới để đe dọa, bịt tiếng nói, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại cho người trong cộng đồng diaspora/exile tại Hoa Kỳ. FBI cũng nói rõ những hành vi này có thể vi phạm luật liên bang Hoa Kỳ. 

Và điều đáng chú ý là FBI còn liệt kê “âm mưu bắt cóc – attempted kidnapping” như một hình thức đàn áp xuyên quốc gia. Khi đó phản ứng của Hoa Kỳ sẽ khác Đức năm 2017 ở một điểm rất quan trọng là Đức phản ứng mạnh vì một chủ quyền quốc gia bị xâm phạm trên lãnh thổ Đức. Hoa Kỳ cũng sẽ nhìn như vậy, nhưng nếu xảy ra tại Mỹ, vấn đề còn có thêm một biện pháp mạnh nữa là …nạn nhân đang được pháp luật và Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ. 

Một người Việt có thể là công dân Mỹ, thường trú nhân, hoặc thậm chí chỉ là người đang cư trú hợp pháp tại Mỹ. Họ vẫn ở dưới quyền tài phán của Hoa Kỳ khi ở trên lãnh thổ Mỹ. Vì vậy, nếu một cơ quan hoặc cá nhân hoạt động thay mặt cho chính phủ nước ngoài tổ chức bắt cóc người đó trên đất Mỹ, Washington sẽ không nói đó là chuyện nội bộ của Việt Nam, mà ngược lại, đây có thể trở thành vấn đề trực tiếp của FBI, Bộ Tư pháp và cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ. FBI hiện nói rất rõ rằng TNR đe dọa chủ quyền của Hoa Kỳ và các quyền tự do của người dân, và đôi khi vi phạm cả luật liên bang. 

Từ đó, phản ứng của Mỹ sẽ diễn ra theo nhiều giai đoạn, không nhất thiết ngay lập tức là “trừng phạt Việt Nam”. Đây là điều rất quan trọng.

  • Giai đoạn thứ nhứt: Nếu có một vụ việc cụ thể như VN bắt cóc một người Việt trên đất Mỹ chẳng hạn, FBI có thể điều tra: – Ai làm – Ai điều khiển – Tiền từ đâu – Có liên quan đến cơ quan chính phủ Việt Nam không – Có người Việt Nam tại Mỹ làm trung gian không? V.v… Đây là giai đoạn xác lập chứng cứ. 
  • Giai đọan thứ hai: Nếu có đủ bằng chứng, Mỹ có thể truy tố những người trực tiếp tham gia. Đây là điểm khác căn bản với việc chỉ lên tiếng ngoại giao. Nếu, một người Việt ở Mỹ nhận chỉ thị từ một chính phủ nước ngoài để đe dọa hoặc cưỡng ép một người khác không thể tự bảo vệ mình bằng câu:“Tôi chỉ thi hành Nghị quyết 23”, vì nghị quyết của một quốc gia không miễn trừ cho một cá nhân khỏi luật hình sự Hoa Kỳ. 
  • Giai đoạn thứ ba: Đây mới là vấn đề ngoại giao. Nếu điều tra cho thấy có sự điều khiển hoặc tham gia của cơ quan nhà nước Việt Nam, câu chuyện sẽ lớn hơn rất nhiều. Washington có thể, triệu tập hoặc phản đối ngoại giao, yêu cầu Việt Nam giải thích, yêu cầu chấm dứt hoạt động, hành động quyết liệt như trục xuất cá nhân, hay khai báo “người không còn ưu đãi – persona non grata” đối với nhân viên ngoại giao trong trường hợp thích hợp, hạn chế hoặc thay đổi hợp tác trong một số lĩnh vực ngoại giao hay thương mại, và tùy theo mức độ nặng hay nhẹ, quan trọng hay không, Mỹ sẽ áp dụng những biện pháp pháp lý hoặc chính sách thích ứng tùy trường hợp.

 

4- Khi nào NQ23 trở thành “đàn áp xuyên quốc gia – TNR ”

Giả sử trong tương lai có một chuỗi sự kiện đến từ việc sử dụng NQ23, như việc Việt Nam xác định một số người Việt hải ngoại là “đối tượng cần xử lý”, các cơ quan hoặc tổ chức liên quan với những người này … đe dọa, theo dõi, gây áp lực v.v… và người đó bị hành hung hoặc bị bắt cóc tại Mỹ. Khi đó, NQ23 không còn được nhìn như một nghị quyết về người Việt hải ngoại nữa. Nó sẽ trở thành bằng chứng cần xem xét để xác định mục đích, chính sách hoặc động cơ của những người thực hiện hành vi trên. Đây là “lằn ranh đỏ” mà Hà Nội cần phải hiểu 

Có thể nói rất ngắn gọn, Việt Nam có quyền vận động người Việt ở nước ngoài yêu nước, đầu tư, về nước, hợp tác khoa học, đóng góp cho quê hương; nhưng, Việt Nam không có quyền dùng chính sách qua NQ23 đó để cưỡng ép một người đang sống tại Hoa Kỳ phải tuân theo ý chí chính trị của Hà Nội. Và lại càng không thể dùng nó để biện minh cho hành động phạm pháp trên lãnh thổ Hoa Kỳ. 

FBI hiện có hẳn một chương trình về Đàn áp xuyên quốc gia – TNR. FBI nói rằng các chính phủ nước ngoài có thể nhắm tới những người bất đồng chính kiến, nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền, đối thủ chính trị và những thành phần khác trong các cộng đồng hải ngoại – diaspora, nhưng, đặc biệt, như FBI Dallas mới tháng 4/2026 còn công khai cảnh báo rằng TNR là khi một quốc gia nước ngoài hoặc người làm việc cho quốc gia đó vượt biên giới để đe dọa, bịt miệng, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại – intimidate, silence, coerce, harass, or harm cộng đồng tị nạn tại Mỹ. 

Như vậy, rõ ràng là không cần phải chờ đến một vụ “Trịnh Xuân Thanh thứ hai” thì Washington mới quan tâm. Thêm nữa, những hành động nhỏ hơn cũng có thể được ghi nhận, điều tra và tích lũy thành một bức tranh lớn hơn. 

Tóm lại, NQ23 có thể được chia làm hai loại dưới mắt người Mỹ:

  • Người Việt ở nước ngoài là một bộ phận của dân tộc, hãy trở về, hợp tác, đầu tư, đóng góp trí tuệ. Nếu thực hiện như vậy, Mỹ gần như không có lý do để phản đối. 
  • Người Việt ở nước ngoài phải chịu ảnh hưởng hay điều khiển chính trị từ Việt Nam; người chống đối sẽ bị theo dõi, đe dọa hoặc xử lý. Nếu đi theo hướng này, thì đó là một câu chuyện hoàn toàn khác. Và nếu vượt đến lãnh thổ Mỹ thì nó có thể chuyển từ cách thẩm định NQ23 như là một chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài chịu ảnh hưởng từ Việt Nam qua sự đàn áp xuyên quốc gia ảnh hưởng lên vấn đề an ninh quốc gia và việc thực thi pháp luật của Hoa Kỳ. Xin nhắc lại một lần nữa là FBI đã xác định TNR là một vấn đề có thể ảnh hưởng đến chủ quyền Hoa Kỳ và có thể vi phạm luật liên bang.

 

5- Suy nghĩ riêng của người viết

Không nên đánh giá NQ23 bằng những gì người ta nghi ngờ hay sợ nó có thể làm; phải đánh giá NQ23 bằng hành động thực tế của Nhà nước Việt Nam đối với người Việt hải ngoại trong những ngày sắp đến. 

Nếu NQ23 được sử dụng để đe dọa, cưỡng ép hoặc đàn áp người Việt trên đất Mỹ, thì chính cách thực thi đó có thể biến NQ23 từ một chính sách đối ngoại/kiều bào thành một vấn đề an ninh và pháp luật của Hoa Kỳ. Và nếu đi đến mức bắt cóc, hành hung hoặc tổ chức hành động cưỡng chế trên đất Mỹ, thì bài học Trịnh Xuân Thanh ở Đức năm 2017 cho thấy đây có thể trở thành một cuộc khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng, đồng thời kéo theo điều tra và xử lý theo pháp luật Hoa Kỳ. 

Hoa Kỳ sẽ không phán xét NQ23 qua lời văn của Nghị quyết, mà qua hành động của Việt Nam đối với người Việt hải ngoại. NQ23 có thể là một cây cầu Việt–Mỹ nếu được thực thi bằng hòa giải và thiện chí; nhưng nếu trở thành công cụ đàn áp xuyên quốc gia, chính NQ23 có thể trở thành nguồn gây căng thẳng nghiêm trọng giữa Hà Nội và Washington.

Thời gian và thực tế sẽ trả lời.

“Đừng chỉ nhìn NQ23 qua văn bản; hãy nhìn NQ23 qua hành động.”

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

New Jersey – 19-8-2026

 

***

 

Nghị Quyết 23 của Đảng Cộng Sản: Cơ hội triệt phá các đường dây đặc công nằm vùng – Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 2 tháng 8 vừa qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam ban hành Nghị Quyết 23-NQ/TW, thay thế Nghị Quyết 36-NQ/TW. Đấy là “cơ hội vàng” để người Việt ở hải ngoại khai dụng thế thượng phong trên “sân chơi” của các quốc gia sở tại nơi mình sinh sống. Nơi đó có luật pháp công minh mà chế độ quen dùng luật rừng dễ vấp ngã. Vấn đề là chúng ta phải nắm vững luật chơi và sắp xếp đội hình để làm chủ tình thế.

Dưới đây là 3 ví dụ điển hình về khai dụng luật Hoa Kỳ. Các quốc gia dân chủ khác cũng có những luật tương tự.

 

Luật FARA

Luật Foreign Agents Registration Act (FARA), ban hành năm 1938, bắt buộc các cá nhân hoặc nhóm phải đăng ký với Bộ Tư Pháp nếu hoạt động chính trị, vận động, hoặc quan hệ công chúng phục vụ cho chính quyền, đảng phái, hoặc chủ thể nước ngoài. Họ phải công khai hoá mọi hoạt động, nguồn tài trợ và quan hệ với nước ngoài.

Các điều khoản dưới đây của Nghị Quyết 23 rõ ràng cho thấy những người cộng tác nằm lọt trong nội hàm của Luật FARA:

  • “tạo thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài… trở thành thành viên của một số tổ chức chính trị – xã hội ở trong nước”;
  • “phát huy vai trò ‘đại sứ văn hoá”, ‘đại sứ hữu nghị’”;
  • “tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”;
  • “bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước… để thực hiện hiệu quả công tác người Việt Nam ở nước ngoài”.

Quyết Định 1334/QD-TTg đã khơi mào việc sử dụng đặc công ở hải ngoại:

  • “Củng cố, phát triển các hội đoàn chuyên gia, trí thức, doanh nhân NVNONN [người Việt Nam ở nước ngoài] làm nòng cốt, dẫn dắt sự phát triển của cộng đồng ở sở tại.
  • “Thành lập Trung tâm Văn hoá – Giáo dục Việt Nam ở nước ngoài”.
  • “Phát hiện, vận động và bổ nhiệm các cá nhân NVNONN tiêu biểu làm Đại sứ Du lịch Việt Nam.”

Tuy nhiên NQ23 đã lộ liễu hơn: cài đặt đặc công để tuyên truyền và phục vụ chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tiếp tay thi hành chính sách, phát luật nhà nước cộng sản Việt Nam.

Những ai sinh sống ở Hoa Kỳ, kể cả công dân Hoa Kỳ, hoặc cán bộ nổi và chìm được gửi từ Việt Nam sang Hoa Kỳ thực hiện NQ23 đều phải tuân thủ luật FARA. Ai vi phạm có thể bị phạt tù lên đến 5 năm hoặc/và phạt tiền lên đến 250,000 Mỹ kim.

Với NQ23, luật FARA có thể áp dụng ngay cho các trường hợp như:

  1. Ông Huỳnh Long Vân, chính thức đại diện Chi Phái Cao Đài 1997 ở Hải Ngoại có văn phòng tại Orange County, California.
  2. Hòa Thượng Thích Đức Tuấn, Ủy Viên Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Phó Trưởng Ban Phật Giáo Quốc Tế Trung Ương GHPGVN (phụ trách khu vực Bắc Mỹ), và Trưởng Ban Trị Sự GHPGVN tại châu Mỹ, trụ trì Chùa Pháp Vương ở Milipitas, California.
  3. Ông Trần Đình Thắng, Chủ Tịch Viện Văn Hoá Giáo Dục Việt Nam tại New York (IVCE) và là Ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong hai khóa liên tiếp (2014–2019 và 2019–2024).
  4. Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam ở Nước Ngoài (Business Association of Overseas Vietnamese, BAOOV) do Bộ goại Giao Việt Nam chỉ đạo thành lập năm 2009. Ông Phạm Nhật Vượng là chủ tịch tiên khởi. Ông David Dương là chủ tịch chi nhánh ở Hoa Kỳ.

Luật FSIA

Luật Foreign Sovereign Immunities Act of 1976 (FSIA), ban hành năm 1976, miễn trừ cho các viên chức, gới chức và cơ quan chính quyền nước ngoài không bị kiện thưa dân sự, trừ khi họ có hoạt động thương mại hoặc gây thiệt hại tài chánh trực tiếp cho cá nhân hay tổ chức Hoa Kỳ trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Luật này tuân thủ quy ước quốc tế là công dân của một quốc gia không thể kiện một cơ quan hoặc giới chức chính quyền ngoại quốc.

Tháng 4 nâm 2023, BPSOS cùng với nhiều nguyên đơn đồng khởi kiện VTV về hành vi mạ lị. VTV tuy lúc ấy là cơ quan của nhà nước Việt Nam nhưng có hoạt động mang tính cách thương mại ở Hoa Kỳ cho nên không được miễn trừ trách nhiệm. Thông tin rằng vụ kiện này bị tòa án huỷ là tin thất thiệt. Phía nhà nước Việt Nam đã trì hoãn việc trao trát tòa theo Công Ước The Hague mà Việt Nam và Hoa Kỳ đều là quốc gia thành viên. Ngày 31 tháng 7 vừa qua, toà án gia hạn cho nhà nước Việt Nam đến ngày 11 tháng 3 năm 2027 để thực thi việc trao trát tòa cho VTV.

Gần đây, VTV cùng với VOV và VNA được chuyển giao cho Đảng Cộng Sản Việt Nam quản lý, không còn là cơ quan nhà nước, và đương nhiên không được hưởng quyền miễn trừ của luật FSIA. Nói cách khác, các tổ chức hoặc cá nhân ở Hoa Kỳ từ nay tha hồ kiện 3 cơ quan truyền thông này nếu bị xúc phạm.

Hiện có một vụ kiện lạ tại toà Liên Bang khu vực thủ đô Hoa Kỳ do một cựu quân nhân Hoa Kỳ kiện Ông Tô Lâm, hàng loạt quan chức Việt Nam cũng như một đặc công của họ là công dân Hoa Kỳ về hành vi bắt cóc, tra tấn, đầu độc và khủng bố ở Việt Nam và tiếp theo là các hành vi đe dọa thủ tiêu đương sự hoặc hãm hại thân nhân của đương sự ở Hoa Kỳ. Một lý lẽ được đưa ra là nhiều trong số các nhân vật bị kiện không hành động trong chức năng là giới chức chính quyền mà trong tư cách cá nhân nên không được miễn trừ. Nếu đơn kiện này tiến triển đến giai đoạn lấy cung thì sẽ xảy ra 2 tình huống. Để được miễn trừ, các bị đơn cần xác định rằng mình hành xử trong chức năng nhà nước, nghĩa là thừa nhận rằng các hành vi bắt cóc, tra tấn, đầu độc, khủng bố nếu có thì đó là theo chỉ thị của nhà nước Việt Nam. Hoặc, để tránh tiếng cho nhà nước, họ xác nhận là hành động trong tư cách cá nhân và không được miễn trừ.

Ai muốn truy cứu có thể lấy thông tin trực tiếp từ tòa án, hồ sơ số 1:25-cv-03226-CJN tại: https://www.pacermonitor.com/…/DOE_v_SOCIALIST_REPUBLIC… hoặc liên lạc bpsos@bpsos.org.

 

Luật INA

Luật Immigration and Naturalization Act (INA), ban hành năm 1952, cấm nhập cảnh di dân đối với những đảng viên, viên chức cộng sản và cấm visa ngắn hạn đối với những thủ phạm vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Đối với những người đã định cư Hoa Kỳ do giấu giếm lai lịch, Bộ Tư Pháp rút lại quy chế thường trú và có thể hủy quốc tịch trước khi trục xuất. Tháng 6 năm 2025, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio ban lệnh xiết chặt điều khoản cấm nhập cảnh di dân đối với:

  1. Đảng viên cộng sản
  2. Quan chức phục vụ trong chế độ cộng sản kể cả không là đảng viên
  3. Sĩ quan trong quân đội cộng sản kể cả không là đảng viên
  4. Cán bộ điều hành của các doanh nghiệp nhà nước dưới chế độ cộng sản
  5. Nhân sự chủ chốt của các tổ chức bán chính phủ hoặc ngoại vi của đảng cộng sản (như Mặt Trận Tổ Quốc, Liên Hiệp các Tổ Chức Hữu Nghị Việt Nam, Liên Hiệp Hội Phụ Nữ Việt Nam, v.v.)
  6. Nhân sự của các tổ chức do chế độ cộng sản kiểm soát (như Đoàn Thanh Niên Hồ Chí Minh) và các tổ chức thuộc Mặt Trận Tổ Quốc
  7. Nhân sự của các tổ chức “phi chính phủ” bị nhà nước điều khiển làm trợ cụ cho chế độ cộng sản (như các tổ chức tôn giáo hoặc nguỵ tôn giáo kiểm soát bởi nhà nước), được mệnh danh là các tổ chức phi chính phủ do nhà nước tổ chức (government-organized non-governmental organizations, GONGO)
  8. Những người cổ súy chủ thuyết và ý thức hệ cộng sản hoặc đóng góp công, của, hiện vật cho đảng cộng sản

Tháng 4 năm 2026, theo chỉ thị của Ngoại Trưởng Marco Rubio, điều kiện cấm nhập cảnh vĩnh viễn không chỉ áp dụng cho kẻ trực tiếp đàn áp mà cho cả các cấp trên bị quy trách nhiệm, và lênh cấm áp dụng lên vợ, chồng, con và cha mẹ của đối tượng.

Một số trường hợp mà BPSOS đã khai dụng luật INA bao gồm:

  1. Ông Bùi Đình Thi đã bị tước thẻ xanh và trục xuất khỏi Hoa Kỳ
  2. Ông Nguyễn Quốc Dũng, thuộc Chi Phái Cao Đài 1997 đã có hồ sơ với Bộ Tư Pháp
  3. Ông Lê Trí Minh, trưởng nhóm VTV4 ở Hoa Kỳ, đã tự đưa vợ con về Việt Nam
  4. Ông Lê Ngọc Quang, cựu Giám Đốc VTV
  5. Ông Trần Ngọc Thảo tức Thượng Tọa Thích Nhật Từ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  6. Ông Trần Quốc Hiệp tức Đại Đức Thích Huệ Thuận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  7. Ông Nguyễn Đình Cấu, tức Hoà Thượng Thích Huệ Phước của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

BPSOS đã có nhiều bài viết về những cách khai dụng luật INA để cấm nhập cảnh hoặc trục xuất các đặc công nằm vùng trong cộng đồng người Việt ỏ Hoa Kỳ.

 

Cách khai dụng

Khác với luật Magnitsky, tương đối mới và chưa được áp dụng phổ biến, kể trên là các luật đã lâu đời và được ứng dụng thường xuyên. Chỉ có điều là người Việt ở Hoa Kỳ chưa mấy ai khai dụng nên còn lạ lẫm.

Muốn khai dụng thì phải tập trung và dài hơi. Chỉ cần một ít cá nhân, một hoặc vài tổ chức chọn đúng một đối tượng và thực hiện đầy đủ các thủ tục mà luật đòi hỏi. BPSOS sẵn sàng hướng dẫn và cung cấp những tài liệu mẫu. Sau một vài hồ sơ quý vị sẽ trở thành “chuyên gia”, không những tự thực hiện các hồ sơ sau đó mà còn có thể chỉ bày cho thêm nhiều nhóm khác.

Chẳng hạn, tháng 10 năm 2024, cộng đồng người Việt ở San Jose tổ chức biểu tình phản đối Hòa Thượng Thích Đức Tuấn, trụ trì Chùa Pháp Vương ở Milpitas, California, khi ông này ra mặt đón tiếp Thủ Tướng cộng sản Việt Nam Phạm Minh Chính. Nhưng không thể chỉ có biểu tình. Để nắm phần chủ động, cộng đồng người Việt ở San Jose nên truy thông tin nhân thân để báo cáo ông ta với cơ quan thực thi luật FARA, tại: https://www.justice.gov/nsd-fara/fara-enforcement.

Gần đây hơn, Nhóm Kết Nghĩa Tinh Thần Đoàn Kết Phật Giáo ra thông báo về Ông Nguyễn Đình Cấu tức Hoà Thượng Thích Huệ Phước, là Ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục trúng cử Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Huế khóa IX, nhiệm kỳ 2026-2031. Trong hệ thống Phật giáo nhà nước, Ông ta là Ủy Viên Thường Trực Hội Đồng Trị Sự, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Hoằng Pháp Trung Ương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Trị Sự GHPGVN thành phố Huế. Tin từ trong nước cho biết ông ta sắp trở lại Hoa Kỳ để “hoằng pháp” tại Chùa Vạn Hạnh ở Boston, tiểu bang Massachusetts. Hồ sơ về ông ta đã được chuyển đến bộ phận chịu trách nhiệm cấp visa của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Nay chỉ cần một nhóm người ở Boston theo dõi sát chuyến đi “hoằng pháp” sắp đến của ông sư nhà nước này, đồng thời tìm hiểu và truy tông tích các nhân vật chủ chốt ở Chùa Vạn Hạnh vì rất có thể nhiều người trong số họ phải đăng ký theo luật FARA.

Sau 22 năm thực thi NQ36, Đảng Cộng Sản Việt Nam thấy đã đến lúc công khai sử dụng mạng lưới đặc công mà họ đã cài cắm vào các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Nhưng đây chính là sân nhà của những người Việt tị nạn cộng sản qua 3 thế hệ. Là công dân của các quốc gia sở tại, chúng ta cần khai dụng triệt để thế đứng chủ nhà và sở trường về luật pháp và chính sách quốc gia nơi cư trú để làm chủ cuộc chơi đã chuyển sang giai đoạn mới.

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 12 tháng 8, 2026

https://machsongmedia.org

 

 

***

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất – Nghị Quyết 23 đối với Phật Giáo

 

***

 

Liên Minh Vì Dân Chủ Việt Nam – Diễn văn tại cuộc hội luận về nghị quyết 23 tại Nam California: Kiến Tạo Không Gian Tự Vệ

 

KIẾN TẠO KHÔNG GIAN TỰ VỆ

https://youtu.be/RZYuYkFTJX4
Sự kiện tập đoàn cộng sản Hà Nội ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW vào tháng 8 năm 2026 đã vạch trần một âm mưu thâm độc mới trong chiến lược bành trướng quyền lực. Khác với Nghị quyết 36 trước đây vốn mang tính chất thăm dò và “vận động” bề ngoài, Nghị quyết 23 là một thứ văn kiện chủ chiến, nhắm mục đích “kiến tạo cơ chế” để lũng đoạn, thâm nhập và khống chế hơn 6,5 triệu người Việt tự do đang sinh sống khắp năm châu bốn bể. Trước hiểm họa sinh tử này, chúng ta quyết không thể bàng quan, mà phải đứng vững trên chính nghĩa quốc gia để xây dựng một thành lũy tự vệ, đập tan mọi quỷ kế của bạo quyền.

 

  1. Giải Mã Âm Mưu Thâm Độc Từ Nghị Quyết 23-NQ/TW

Nghị quyết 23 là một văn bản có tính chất chỉ đạo an ninh, trao quyền cho các cơ quan tình báo và công an cộng sản vươn tay dài ra ngoài biên giới quốc gia. Tập đoàn Hà Nội mưu toan biến khối người Việt tị nạn thành những công cụ phục vụ cho mục tiêu chính trị của chế độ độc tài.

 

  1. Cơ Chế Phản Kháng Tư Pháp:

Đứng trước dã tâm xâm nhập của bạo quyền, toàn thể đồng bào tại các quốc gia tự do (như Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu và các nước Tây Phương) cần triệt để khai thác thế thượng phong của nền pháp trị để biến sân chơi thành cạm bẫy đối với tay sai cộng sản:

  • Vận dụng Đạo luật Ghi danh Tác nhân Ngoại quốc (FARA): Buộc các cá nhân, hội đoàn hay cơ quan truyền thông ăn lương, nhận chỉ đạo ngầm từ Lãnh sự quán phải ra mặt khai báo minh bạch. Bất kỳ sự mập mờ nào cũng sẽ dẫn đến trát hầu tòa, án tù hoặc trục xuất.
  • Triệt tiêu quyền miễn trừ thông qua các đạo luật tương đương FSIA: Đưa các cơ quan truyền thông tuyên huấn của cộng sản (như VTV, VOV) cùng đám tay sai ra trước tòa án liên bang để khởi kiện dân sự về tội phỉ báng, vu khống, buộc chúng phải trả giá đắt về tài chính.
  • Thanh lọc qua Đạo luật Di trú (INA): Lập hồ sơ vạch trần những “tu sĩ quốc doanh”, cán bộ nằm vùng lẩn khuất dưới vỏ bọc tôn giáo hoặc diện chuyên gia để nộp cho các cơ quan công lực sở tại, kiên quyết không dung dưỡng kẻ phá hoại trong lòng cộng đồng.

 

  1. Kết Nối Hành Pháp Và Vận Động Lập Pháp Kiên Cố

Không một bức tường tự vệ nào có thể vững chãi nếu thiếu sự yểm trợ của luật pháp và cơ quan hành pháp bản xứ. Chúng ta cần chủ động thiết lập mối dây liên lạc chặt chẽ với các cơ quan an ninh, cảnh sát và cơ quan phản gián sở tại để tố giác mọi hành vi đe dọa, khủng bố tinh thần, hay do thám của tay sai Hà Nội.

Song song đó, trên bình diện lập pháp, chúng ta phải phát huy sức mạnh của khối cử tri người Việt để vận động các dân biểu, thượng nghị sĩ thúc đẩy việc thông qua các dự luật trừng phạt Đàn áp Xuyên quốc gia (như Đạo luật TRPA tại Hoa Kỳ), biến mọi hành vi can thiệp ngoại biên của bạo quyền thành trọng tội trước pháp luật quốc tế.

 

  1. Xây Dựng “Kháng Thể Văn Hóa” Bảo Vệ Thế Hệ Trẻ

Mục tiêu thâm độc nhất của Nghị quyết 23 là vươn vòi vào giới trẻ, trí thức, sinh viên và chuyên gia gốc Việt thành công tại hải ngoại. Do lớn lên trong môi trường tự do và thiếu kinh nghiệm đối diện với thủ đoạn gian trá của cộng sản, thế hệ trẻ rất dễ sa bẫy qua những lời đường mật “về nguồn”, “đổi mới sáng tạo” hay các quỹ học bổng mờ ám.

Do đó, các hội đoàn, tổ chức kỳ cựu trong cộng đồng phải ra sức dìu dắt, giáo dục và trang bị cho con em chúng ta một thứ “kháng thể văn hóa” vững chắc bảo vệ sự liêm chính và tương lai của thế hệ trẻ hải ngoại. Cần làm cho thế hệ trẻ thấu hiểu di sản tị nạn máu xương của cha ông, đồng thời cảnh báo những hiểm họa khôn lường khi dính líu đến cơ quan tình báo cộng sản—có thể tước đi sự nghiệp, hồ sơ an ninh quốc gia (security clearance) và tương lai sáng lạn của các em tại xứ người.

 

Kết Luận

Nghị quyết 23-NQ/TW của tập đoàn cộng sản Hà Nội là một hồi chuông cảnh tỉnh, đồng thời cũng là một lời thách thức đối với bản lĩnh và ý chí của toàn thể khối người Việt tự do hải ngoại. Với di sản quật cường, tinh thần bất khuất từ bao thế hệ, và với sự yểm trợ của hệ thống pháp trị tự do thế giới, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng bẻ gãy mọi âm mưu bành trướng. Chuyển từ thế bị động sang phản kháng bằng công cụ pháp lý (lawfare) và giữ vững ngọn lửa quốc gia chính là chìa khóa bảo vệ danh dự, nhân phẩm và tương lai trường tồn của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.